Nam Việt Ver2.0 Advertisement

nếu thiếu hình thì sang mượn tạm mấy anh làm bản thần thoại bên china rồi về tô vẽ lại ... chắc là cũng đủ thôi ... :|:|:|
 
HỆ THỐNG ẢNH TACTICS MỚI:

Ảnh Tactics cho Nhà Lý:
LeDynastyTc.jpg

Ảnh Tactics cho Nhà Trần:
TranDynastyTc.jpg

Ảnh Tactics cho Nhà Lê:
LeDynastyTc.jpg

Tactics cho các tướng:

Trần Quốc Toản:
TQToan2Tc.jpg

TQToan1Tc.jpg


Trần Quốc Tuấn và Lý Thường Kiệt
HopbinhTranQuocTuan.png

sẽ có hình Nhị Thánh ở hàng đầu của đoàn quân. Nhamte đang chỉnh!

TBTTc.jpg

TQTTc.jpg

TKDTc.jpg


NỮ TƯỚNG
Tc.jpg

HuyenTranTc-1.gif

TrungTracTc.jpg

TrngTactics.jpg
 
HỆ THỐNG ITEM MỚI:
Thập lục kỳ
Thaplucky.jpg

Viagra

Womensecret
TRungTrcitem1.jpg

Womensacrify

Golden Orange
GoddenOrangecr.jpg

Six golden letter flag
LaCo6chucr.jpg

TQToan1Tc.jpg

Hãn huyết bảo mã
HanHuyetBaoMacr.jpg

Ô huyết hãn mã
OHuyet.jpg

OHuyethanma.jpg

Lâm Hổ bì giáp
Lambihogiap.jpg

Phiến thiết tiễn
mamltcv4dtj3l7rc711f.jpg

Hắc Hổ Đao
Hodaudao.jpg

Nhất điểm thương

Long Viet An
LongAncr.jpg

Long Tuyen Kiếm
ThuanThienKiemcr.jpg

Thuan Thien Kiếm
LongTuyenKiemcr.jpg

Bình Ngô Sách

.
___________Auto Merge________________

.
HỆ THỐNG ẢNH NỀN VÀO MÀN MỚI

Các màn khỏi đầu sẽ bằng các ảnh nền do NHAMTE sáng tạo
 
HỆ THỐNG ẢNH TACTICS MỚI:

Ảnh Tactics cho Nhà Lý:
LeDynastyTc.jpg

Ảnh Tactics cho Nhà Trần:
TranDynastyTc.jpg

Ảnh Tactics cho Nhà Lê:
LeDynastyTc.jpg

Tactics cho các tướng:

Trần Quốc Toản:
TQToan2Tc.jpg

TQToan1Tc.jpg


Trần Quốc Tuấn và Lý Thường Kiệt
HopbinhTranQuocTuan.png

sẽ có hình Nhị Thánh ở hàng đầu của đoàn quân. Nhamte đang chỉnh!

TBTTc.jpg

TQTTc.jpg

TKDTc.jpg


NỮ TƯỚNG
Tc.jpg

HuyenTranTc-1.gif

TrungTracTc.jpg

TrngTactics.jpg

QUẢ LÀ BÁ ĐẠO, CÔNG NHẬN CÁC MEM LÀM VIỆC HIỆU QUẢ THẬT\:D/
TOÀN NHÂN TÀI VẬY MÀ NƯỚC VIỆT NHƯ CỤC SHIT;))
TIÊN SƯ BỌN TÀU KHỰA
TIÊN SƯ LŨ VIỆT KHỰAb-(
 
CỤC SHIT LÀ CỤC GÌ VẬY?!

Hôm qua đã bị warn! Hôm nay lại ăn warn. Ngày mai lại trúng quả warn!:((

Có cả Việt khựa nữa à?! Ai thế!
 
đã warned .:)=))
 
Dạo này mod siêng quá, hết đường làm ă rồi=((
 
Thế này thì đã là gì, mod box mình còn hiền đấy.
Qua mấy box khác ko cẩn thận là bay đầu như chơi ấy, vào box mà bầu không khí thì ngột ngạt, chỉ toàn đứng ngó nghiêng ko à.
Ngắm đi, ngắm lại thấy cái pic này http://i651.photobucket.com/albums/uu240/trinhphuctuan/TrngTactics.jpg , tay của bà ấy trông vẻ giả tạo quá, như là đc lắp thêm ấy...
 
em ở TP HCM bác ạ , nick YM là pain6565 , bác nào gần Q bình thạnh mà có đĩa PUK thì hú em 1 tiếng . hay bik chỗ nào có bán thì cũng hú em 1 tiếng hén . Thanks

Bình Thạnh à? Xa nhưng nếu máu thì cậu mò lên công viên Hoàng Văn Thụ mang theo cái USB tớ chép cho.
Báo danh luôn.
Hiện tại: không có net, chỗ ở chưa ổn định.
Chuyên môn: thiết kế đồ họa và trang trí nội ngoại thất. Trình độ mỹ thuật khá tốt, có thể vẽ tay khá ngon lành, sở trường là chân dung chì (tớ ghét than :D). Dùng thành thạo Photoshop, Illustrator, Corel, 3ds max
Hạn chế: không có Graphic Tablet :D
Có thể hỗ trợ được gì cho bản NamViet version Đú thì tớ rất sẵn lòng :-*
 
Vẽ cái tactics em Linh Vương Idol mở hàng đi!=))
 
bác thích kiểu j em tìm cho vài cái gọi là lấy ý tưởng ;)) ... kiểu sự thật trần trụi hay kiểu sốc girl ?? ;))
 
Bình Thạnh à? Xa nhưng nếu máu thì cậu mò lên công viên Hoàng Văn Thụ mang theo cái USB tớ chép cho.
Báo danh luôn.
Hiện tại: không có net, chỗ ở chưa ổn định.
Chuyên môn: thiết kế đồ họa và trang trí nội ngoại thất. Trình độ mỹ thuật khá tốt, có thể vẽ tay khá ngon lành, sở trường là chân dung chì (tớ ghét than :D). Dùng thành thạo Photoshop, Illustrator, Corel, 3ds max
Hạn chế: không có Graphic Tablet :D
Có thể hỗ trợ được gì cho bản NamViet version Đú thì tớ rất sẵn lòng :-*

ba'c va`o giup em 1 tay đi.vao` topic yêu cầu sữa đồ họa cho menber trong room http://forum.gamevn.com/showthread.php?t=591948&page=7 .ba'c thấy giúp được gì thì cứ giúp cụ thể la` vẽ mấy cái hình hội nghị duyên hồng ,hội thề Lũng Nhai ấy ấy em đang suy nghĩ cái go'c nhìn sao cho đẹp va` full toa`n cảnh ba'c lưu lại cái yahoo đi..
 
Bình Ngô Đại Cáo là bản thơ còn Lam Sơn Thực Lục là bản văn!

Anh em chơi Ver2 cần hiểu về nhà Lê!

Tối nay sẽ up Lam Sơn Thực Lục lên cho anh em.
 
Các tướng unlock và vị trí xuất hiện:

Trong Ver2.0 sẽ có sự xuất hiện của 36 nhân vật unlock. Đảm bảo xuất phát của 36 vị này đúng vị trí lịch sử mới đảm bảo ý nghĩa của game.

1. Hạng Vũ (Hạng Tịch) - Tây Sở Bá Vương

Xuất phát ở Sài Tang

2. Phạm Tăng - Á phụ quân sư

Xuất phát Bành Thành --> Lô Giang

3. Anh Bố (Kình Bố)

Xuất phát Kiến nghiệp

4. Lưu Bang - Hán Cao Tổ

Xuất phát Tiểu Bái (núi Mang Đãng)

5. Trương Lương

Xuất phát Trần Lưu (nước Hàn)

6. Hàn Tín

Xuất phát Thọ Xuân

7. Bành Việt

Xuất phát Giang Hạ

8. Hoắc Khứ Bệnh

Xuất phát U Châu (Vệ quốc Tướng quân đánh Hung Nô)

9. Yang Dayang

Không biết ai, ko biết tiểu sử

10. Chen Qing

Không biết ai, ko biết tiểu sử

11. Gao Chenggong :

Không biết ai, ko biết tiểu sử

12. Lý Tích:

Xuất phát Tấn Dương (nhà Đường ở Thái Nguyên)

13. Tần Quỳnh

Xuất phát Bộc Dương

14. Uất Trì Cung

Xuất phát Lạc Dương (theo Vương Thế Sung)

15. Nhạc Phi:

Xuất phát Hồ Nam

16. Tần Lương Ngọc

Xuất phát Điền Thủy

17. Trịnh Thành Công

Xuất phát Bắc Hải

18. Quản Trong (Quản Di Ngô)

Xuất phát Bột Hải

19. Bảo Thúc Nha

Xuát phát Bột Hải

20. Lã Thượng ( Thái Công Vọng - Khương Tử Nha)

Xuất phát Bình Nguyên

21. Ngô Khởi:

Xuất phát Tiểu Bái

22. Tiêu Hà:

Xuát phát Tân Dã

23. Mông Điềm:

Xuất phát Vũ Oai

24. Vương Tiễn:

Xuất phát Trường An

25. Lý Tư:

Xuất phát Lạc Dương

26. Doanh Chính:

Xuất phát Trường An

27. Bạch Khởi:

Xuất phát Lạc Dương

28. Lạn Tương Như:

Xuất phát Ký Châu

29. Nhạc Nghị:

Xuất phát Bột Hải

30. Trương Nghi:

Xuất phát Hạ Bì

31. Tôn Tẫn:

Xuất phát Bắc Hải

32. Khổng Khâu (Khổng Tử)

Xuất phát Bắc Hải
 
Lưu Bang chém rắn ở Tiểu Bái :D
 
GIỚI THIỆU NHÂN VẬT VÀ CÔNG TRẠNG:

NAM VIỆT THẬP NGŨ ĐẠI TƯỚNG QUÂN

1. Trần Nguyên Hãn (?-1429)
Tả Tướng quốc, Bình chương quân quốc trọng sự, Khu mật Đại sứ, Tư Đồ
Phúc Thần- Trung Liệt Đại Vương


TranNguyenHan.jpg


Là võ tướng trong khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng quân Minh xâm lược và lập thành nhà Hậu Lê. Ông cũng là một trong những công thần phải chịu cái chết bi thảm ở triều vua Lê Thái Tổ.

Quê quán, dòng dõi và xuất thân
Trần Nguyên Hãn chuyên cư ở xã Sơn Đông, nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy vậy, một số học giả đời trước lại có ý kiến khác.

Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong sách Tang thương ngẫu lục, Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược và Phan Kế Bính đều cho rằng Trần Nguyên Hãn là người Hoắc Xa, huyện Quảng Oai, Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội). Trần Xuân Sinh bác lại ý trên. Ông nói rằng mình từng tới xã Hoắc Xa (còn được gọi là Vân Xa), nhưng dân xã này thờ Trần Khát Chân và họ - dân xã này – cũng không biết gì về Trần Nguyên Hãn cả. Từ luận cứ trên, tác giả này cho rằng Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược và Phan Kế Bính đã dựa vào Tang thương ngẫu lục mà lầm theo.
Trần Nguyên Hãn là dòng dõi tôn thất nhà Trần, là cháu (miêu duệ) của Thái sư Trần Quang Khải, là cháu nội Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông là con cô con cậu hoặc anh em con cô con bác đối với Nguyễn Trãi.

Khác với các chú bác ruột là con đẻ của Trần Nguyên Đán, Trần Nguyên Hãn không theo nhà Hồ hay nhà Minh. Sau khi quân Minh xâm chiếm Việt Nam, ông thường gánh dầu đi bán khắp nơi. Mục đích của việc này, theo nhận định của nhiều sử gia, là để kết giao và móc nối với những người có khả năng và ý định chống giặc. Nhưng một số người khác cho rằng không phải vậy và dựa vào chi tiết này để kết luận rằng ông là con nhà lao động. Phan Kế Bính trong Nam Hải dị nhân cũng cho rằng Trần Nguyên Hãn xuất thân lao động.

Cũng có tài liệu nói rằng Trần Nguyên Hãn từng đảm nhận một chức quan nhỏ của nhà Hồ ở lộ Tam Giang và đã từng tổ chức, chiêu tập binh lính đánh quân Minh ở vùng quê nhà, có liên lạc được với một số thủ lĩnh người Mường, Thái cũng như đánh thông được tới vùng Đại Từ của cha con Lưu Trung, Lưu Nhân Chú và Phạm Cuống.


Sự nghiệp

Gia nhập quân Lam Sơn
Năm 1420 (hoặc 1423), Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi về với Lê Lợi. Tuy vậy, về việc này, có nhiều thông tin khác nhau.

Theo Gia phả họ Đinh kể về thân thế Đinh Liệt, một tướng quân tham gia khởi nghĩa Lam Sơn khác: Tới xuân năm 1423, trong khi Lê Lợi phái Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan thì Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn - khi này mang hai tên giả lần lượt là Trần Văn và Trần Võ tới chỗ Lê Lợi (khi này đang ở Lỗi Giang). Tuy vậy, ban đầu Nguyễn Trãi chỉ được giao làm Ký lục quân lương, Trần Nguyên Hãn thì chở thuyền do phía Lam Sơn chưa rõ lai lịch của hai người mới tới. Chỉ sau khi Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách" thì Lê Lợi mới nhận ra học vấn, khả năng của hai ông và trọng dụng.

Sách Tang thương ngẫu lục chép rằng ông và Nguyễn Trãi " ra mắt " Lê Lợi tới 2 lần: lần đầu, hai ông đến và bỏ về sau khi thấy Lê Lợi xé thịt bằng tay và đưa lên mồm ăn ngay trong ngày giỗ. Lần thứ hai, hai ông mới ở lại sau khi thấy Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư. Một số tài liệu khác thì chép hai ông định bỏ về (sau đó vẫn ở lại) khi thấy Lê Lợi xé thịt ăn bằng tay.

Đánh Tân Bình, Thuận Hóa
Tháng 8-1425, Trần Nguyên Hãn - khi này là Tư đồ cùng với Thượng tướng Doãn Nỗ và Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem 1000 quân và 1 voi vào lấy hai trấn Tân Bình và Thuận Hóa. Ở Bố Chính, họ đặt phục binh rồi vờ thua, dụ tướng Minh là Nhâm Năng ra mà đánh thắng. Trận này, Doãn Nỗ là người đặt phục binh ở Hà Khương, bản thân Trần Nguyên Hãn mang quân ra nhử địch.

Sau trận, thấy lực lượng đối phương hãy còn đông đảo trong khi quân số của mình lại quá ít, ông xin điều thêm quân. Đạo thủy quân gồm 70 thuyền được gửi tới, các tướng phụ trách đạo này là Lê Ngân, Lê Văn An, Phạm Bôi. Hai đạo quân phối hợp giải phóng các châu huyện, vây hãm hai thành Tân Bình, Thuận Hóa, và mộ thêm quân mang ra Bắc.

Tuy vậy, sự bố phòng lực lượng cũng như khả năng chống đỡ của quân Minh tại Tân Bình, Thuận Hóa là yếu ớt, sự đó khiến cho trong vòng 10 tháng (từ tháng 10–1424 tới tháng 8-1425), quân Lam Sơn đã làm chủ được một vùng đất rộng lớn và có dân số đông đảo. Thêm vào đó, thắng lợi này cũng là không trọn vẹn khi hai thành trì Tân Bình và Thuận Hóa không bị triệt hạ. (Hai thành này chỉ đầu hàng quân Lam Sơn vào dầu năm 1427).


Chiến thắng Đông Bộ Đầu
Cuối tháng 10 năm 1426, Trần Nguyên Hãn theo Lê Lợi ra đánh miền Bắc. Ngày 22-11-1426, đợt công phá thành Đông Quan bắt đầu với lực lượng tấn công được chia thành 3 cánh:

Một cánh do Đinh Lễ chỉ huy, gồm 1 vạn quân trước đó đã bí mật ém sẵn tại cầu Tây Dương, Tấn công vào cửa Tây.
Cánh trung tâm do Lê Lợi đích thân đốc xuất tấn công vào cửa Nam.
Cánh quân thủy tấn công vào cửa Đông. Nhiệm vụ tấn công của cánh này được giao cho Trần Nguyên Hãn và Bùi Bị.
Trần Nguyên Hãn đem 100 thuyền theo sông Lung Giang (sông Đáy) ra cửa Hát Giang rồi thuận sông Cái (sông Hồng) đóng ở Đông Bộ Đầu, đánh phá được giặc, thu nhiều thuyền.

Hạ thành Xương Giang
Thành Xương Giang án ngữ ngay trên đường thiên lý từ Quảng Tây tới Đông Quan, thêm vào đó, cách Đông Quan chỉ khoảng 50 km. Vị trí quân sự như vậy khiến Xương Giang trở thành mục tiêu trọng yếu trong kế hoạch tấn công của quân Lam Sơn. Họ quyết tâm hạ thành bằng mọi giá trước khi quân Minh nhập Việt.

Xương Giang là một thành lớn, rộng 25 ha, nằm cách thị xã Bắc Giang hiện nay 2 km, cách sông Thương 3 km. Thành này có kiến trúc phòng vệ chắc chắn, nguồn lương thực dự trữ đầy đủ và tập trung được lực lượng binh lực lớn. Số liệu về quân số giữ thành này, tùy theo các nguồn tư liệu, chênh lệch từ vài ba nghìn cho tới một vạn quân. Các tướng Minh có trách nhiệm giữ thành: Đô chỉ huy là Lý Nhậm, Phó Đô chỉ huy là Kim Dận, tri phủ Xương Giang là Lưu Tử Phụ và các tướng khác gồm: Cố Phi Phúc, Lưu Thuận và Phùng Trí. Lý Nhậm là tướng mới được bổ sung nhằm tăng cường khả năng cố thủ.

Ỷ vào sự quan trọng cũng như thuận lợi về nhiều mặt, quân Minh quyết thủ. Nguyễn Trãi đã 2 lần viết thư dụ hàng và Thái Phúc, tướng Minh giữ thành Nghệ An đã đầu hàng cũng được đưa tới chân thành để thuyết phục nhưng đều không tác dụng gì.

Từ cuối 1426, quân Lam Sơn đã tiến hành hãm thành Xương Giang. Các tướng Lê Sát, Lê Triện, Nguyễn Đình Lý, Lê Thụ, Lê Lãnh công thành đều không có kết quả (Sau đó, vào tháng 2 năm 1427, một số tướng ở đây được tăng cường cho quân đội vây thành Đông Quan: Lê Sát và Nguyễn Đình Lý được tăng cường cho cửa Tây, Lý Triện cầm 2 vạn quân trấn cửa Nam. Lý Triện tử thương vào tháng 3 năm 1427). Thành tiếp tục bị hãm nhưng quân Lam Sơn vẫn không hạ được.

Từ tháng 9-1427, các đợt vây hãm Xương Giang của Lê Sát, Nguyễn Đình Lý... càng trở nên cấp tập, quân số được tăng cường và Trần Nguyên Hãn được bổ sung, trở thành tướng chỉ huy các đợt công thành. Khi này, quân số quân Minh trong thành chỉ còn chừng một nửa nhưng sức kháng cự vẫn là mãnh liệt. Thành phần tham chiến cùng quân Lam Sơn có cả dân chúng của các làng xung quanh. Trần Nguyên Hãn cho đào công sự từ các khu rừng lân cận, đào hầm ngầm từ ngoài vào trong thành giặc, rồi tiến hành nội công ngoại kích với sự phối hợp của đám quân đã lọt được vào nội thành giặc. Đêm 28-9-1427, quân Lam Sơn bắc thang đánh vào và hạ được thành. Toàn bộ giặc trong thành tử thương, Lý Nhậm và Kim Dận đều tự tận. Trận đánh đêm 28 diễn ra trong vòng chưa đầy 2 giờ đồng hồ.

Sau hơn 30 trận giao tranh, Xương Giang mới về tay quân Lam Sơn. Đối phương đã tử thủ nhưng Trần Nguyên Hãn vẫn thành công. Thành Xương Giang bị hạ trước khi Liễu Thăng kéo quân tới biên giới Việt – Trung chẵn 10 ngày (Liễu Thăng tới ải Pha Lũy vào ngày 8–11-1427).

Trong lịch sử chống ngoại xâm, đây là lần hiếm hoi quân đội Việt Nam triệt hạ được một thành trì quan trọng và có quân số lớn. Phần lớn những chiến công quan trọng khi tấn công các căn cứ quân sự tập trung của đối phương trong các cuộc chiến tranh chống nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Thanh đều diễn ra khi phá trại, phá đồn hoặc phá lũy phòng thủ. Có lẽ, nếu xét trong phạm vi các cuộc tấn công thành trì đối phương, thành công tại Xương Giang chỉ đứng sau sự kiện Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu.
Hai lực lượng quân sự của đối phương ở Đông Quan - khoảng 4 vạn binh tướng và Xương Giang - toàn bộ viện quân Minh cho tới khi bị dồn cục tại cánh đồng Xương Giang là chừng 7 vạn người -hãy còn rất đáng kể. Khoảng cách Đông Quan – Xương Giang chỉ khoảng 50 km. Nếu Xương Giang không bị hạ và viện binh Minh vào được thành, với lực lượng 7 vạn người đó cộng thêm lực lượng khá mạnh của Vương Thông ở Đông Quan thì chiến sự còn có thể kéo dài sau năm 1427.

Chủ tướng chiến dịch Tổng công kích Xương Giang
Sau khi Liễu Thăng chết chém cùng 1 vạn quân tại gò Mã Yên, thêm 1 vạn quân Minh bỏ thây tại trận Cần Trạm, khoảng 1 vạn nữa thiệt mạng trên đường từ Cần Trạm tới Phố Cát [16] và Binh bộ Thượng thư Lý Khánh tự vẫn. Lại hay tin thành Xương Giang đã mất, quân Minh đành tập trung trên một cánh đồng trống trải cách thành khoảng 3 km về mạn Bắc mà xung quanh là làng mạc, nhà dân, đồng ruộng và những quả đồi thấp.

Trận tổng công kích bắt đầu ngày 3-11-1427. Trần Nguyên Hãn là chủ tướng. Quân của ông chặn được đường về của Đô đốc nhà Minh là Thôi Tụ và tiếp đó, chặt đường tải lương của giặc. Điều này đóng vai trò lớn trong thắng lợi giết năm vạn quân, bắt sống ba vạn quân và 300 tướng lĩnh nhà Minh cùng Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc và Thôi Tụ - tân Tổng binh của giặc sau 2 cái chết liên tiếp của Liễu Thăng và Bảo Định bá Lương Minh. Lương Minh chết khi vừa nhậm chức Tổng binh được 5 ngày, còn Thôi Tụ giữ chức này lâu hơn – gần 20 ngày.


Hội thề Đông Quan
Tại Đông Quan, cho tới sau trận chiến trên cánh đồng Xương Giang, Vương Thông vẫn chưa thật bụng muốn "hòa". Thông dốc hết quân số trong thành và cố công kích ra ngoài nhưng không thành công, bản thân bị ngã ngựa, suýt bị bắt sống. Chỉ tới khi bị quân Lam Sơn đắp 2 chiến lũy chắn ngay cửa Nam và Bắc của thành (khi này muốn ra thì bắt buộc hoặc phải phá lũy, hoặc phải đi 2 cửa khác là những chỗ mà rất dễ là đối phương đã phục sẵn), và nhận liền 7 bức thư của Nguyễn Trãi, với những phân tích và lời lẽ vừa đe dọa, vừa tỏ ý sẵn sàng thiện chí, Thông mới chịu "hòa" và chấp nhận tổ chức một hội thề để chính thức tuyên bố rút quân về nước.

Hội thề này – mà về sau sách sử gọi là hội thề Đông Quan – diễn ra vào tháng 12–1427 tại phía nam thành, bên bờ sông Cái. Trong danh sách những người tham gia hội thề của phía Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đứng tên thứ hai, sau Lê Lợi: Nhất quốc đầu mục, Hãn danh đệ nhị thứ, kỳ kiến trọng ư tôn giã.


Chức vụ và khen thưởng
Trong hàng ngũ các quan văn võ dưới quyền Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn luôn là viên quan cao cấp nhất.

Khoảng năm 1424-1425, Trần Nguyên Hãn là Tư đồ. Khi này, trong phong trào khởi nghĩa, Tư đồ là chức quan cao nhất.

Năm 1427, sau chiến tích hãm Đông Quan, ông được phong là Thái úy.

Năm 1428, kháng chiến thành công và Lê Lợi lên ngôi, Trần Nguyên Hãn được gia phong Tả Tướng quốc, Bình chương quân quốc trọng sự, Khu mật Đại sứ, được cấp 114 mẫu ruộng. Người được phong “Hữu Tướng quốc“ là Lê Tư Tề, con cả của Lê Lợi và chức Thái úy về tay Phạm Văn Xảo.

"Đại sứ" là chức quan to nhất của Khu mật viện, trong viện này, Trần Nguyên Hãn là cấp trên trực tiếp của Nguyễn Trãi (Nguyễn Trãi kiêm nhiệm nhiều chức vụ, nhưng trong Viện Khu mật, ông chỉ là Hành Khu mật viện sự). "Bình chương quân quốc trọng sự" là hàm (hoặc chức vụ, nhưng có lẽ là hàm dành riêng cho đại thần, Nguyên Hãn không phải viên quan duy nhất được phong tặng. Một số đồng môn khác của ông cũng mang danh hiệu này trong cùng khoảng thời gian hay muộn hơn một chút như: Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Phạm Vấn (từ năm 1428), Lê Văn An (từ năm 1432)... Quan trọng nhất trong các chức tước của ông là “Tả tướng quốc“ - chức vụ có quyền năng tương tự với “đồng Thủ tướng Chính phủ“ ngày nay. Như vậy, Nguyên Hãn cũng đã là người đứng đầu các quan như ông nội (hoặc cụ nội) mình là Trần Nguyên Đán. Khi trước, Trần Nguyên Đán được phong Đại Tư đồ, một chức vụ cũng tương tự như “Thủ tướng“ trong hệ thống hành chính đời Trần mạt.


Cái chết
Năm 1429, Trần Nguyên Hãn xin về trí sĩ. Từ trước đó, Nguyên Hãn có nói riêng với người thân cận:

“ Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên, ta không thể yên hưởng vui sướng được. ”

(Câu Tiễn có tướng cổ dài, mép quạ, tức là tướng chim. Có thuyết cho rằng Trần Nguyên Hãn trực tiếp nói câu này với Nguyễn Trãi.)

Lê Lợi y cho Nguyên Hãn được về, nhưng dặn rằng cứ một năm hai lần lại vào triều chầu vua. Trần Nguyên Hãn “thập đạo kinh luân mao ức lý, nhân cựu trạch tử miếu” (sau mười năm chiến chinh, quay về ngôi nhà cũ). Ở đây, ông cho dựng phủ đệ lớn, đóng thuyền to. Việc này bị quy kết là lộng hành và có âm mưu thoán nghịch. Những kẻ không ưa cũng thừa cơ buông lời xúi bẩy. Trần Nguyên Hãn bị Lê Lợi ra lệnh bắt về triều để xét hỏi. Tới bến Sơn Đông, ông tự trầm mình mà chết. Trước khi chết, ông nói:

“ ...Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân, nay sự nghiệp lớn đã thành, Hoàng thượng nghe lời dèm mà hại tôi. Hoàng thiên có biết không?”

Tháng 5 năm đó, Lê Lợi mới tiến hành ban thưởng tước hầu cho các công thần tham gia khởi nghĩa. Như vậy Trần Nguyên Hãn chưa kịp nhận phong thưởng của một chiến tướng khó nhọc đã bị vua hãm hại.


Di lụy và phục hồi
Quanh cái chết của Trần Nguyên Hãn, không chỉ riêng vợ con ông chịu dính líu mà các tướng như Bế Khắc Triệu, Nông Đắc Thái cũng bị liên lụy. Hai tướng này bị cho là vây cánh của Trần Nguyên Hãn và bị dẹp.

Năm 1455, vua Lê Nhân Tông (1443-1459) ra lệnh phục chức cho Trần Nguyên Hãn, truy phong là "Phúc thần", cho gọi con cháu ra làm quan, nhưng không ai ra.

Đời nhà Mạc, ông được truy phong là Tả tướng quốc, Trung liệt Đại vương. Ông chính là trường hợp rất hiếm trong các công thần khai quốc nhà Lê được nhà Mạc thù địch tưởng nhớ và truy phong, có lẽ một phần lý do vì bản ý nhà Mạc muốn thu phục lòng người. Việc tôn vinh ông khiến "thiên hạ" thấy sự khắc bạc của nhà Lê với người có công trạng.


Nguyên nhân
Cái chết của Trần Nguyên Hãn được nhận định là do một hoặc nhiều nguyên nhân:

Ông nằm trong vòng xoáy tranh giành quyền lực trong triều đình nhà Lê thời hậu chiến. Có ý kiến cho rằng Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo ủng hộ Lê Tư Tề, con trưởng của Lê Lợi trong khi Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn... ủng hộ người con thứ là Nguyên Long. Khi phái Lê Sát thắng thế và Lê Tư Tề bị ruồng bỏ, thì ông cũng không tránh khỏi hậu họa là chuyện thường.
Mối nghi ngại của Lê Lợi đối với triều đại cũ: Lê Lợi từng hại Trần Cảo – người tự nhận là tôn thất nhà Trần, từng được đưa lên nắm ngôi Hoàng đế bù nhìn, từng lấy lý do mẹ của thái tử Nguyên Long có tên là Phạm Thị Ngọc Trần và ép người có họ Trần phải đổi sang họ Trình để kiêng huý. Những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ có thể "quên" hẳn nhà Trần đi. Mà Trần Nguyên Hãn lại xuất thân là quý tộc nhà Trần, con cháu của hai danh thần nhiều danh vị của triều cũ là Trần Quang Khải và Trần Nguyên Đán.
Mặc dù được nhiều sử gia cũng như người có quan tâm thừa nhận rộng rãi, nhưng cho tới giờ, những giả thiết và nguyên nhân trên không được hậu thuẫn bởi những bằng chứng trong chính sử.


Lời bình của Trần Quốc Vượng
“ ...Phạm Lãi... đi biệt, đổi tên họ, dẫn theo người đẹp [Tây Thi]... bỏ hoàn toàn ham muốn quyền lực.
Nên vua dù có biết (mà biết thực, nên mới cho ghi vào sử), cũng nghĩ ông này bây giờ ... không dòm ngó gì tới ngôi báu.

Đàng này...

...Nguyên Hãn lại “dại dột“ làm nhiều nhà cửa, xây bằng gạch hoa (a, có vẻ như xây biệt đô, biệt cung), thuần phục và tậu voi tậu trâu từng đàn đi lại rầm rập, lại “đóng thuyền, chở binh khí“ nữa, ra cái dáng “sứ quân“, “nghênh ngang một cõi“.

Thế thì chưa biết “động cơ chủ quan“ như thế nào, chứ như thế thì bịt sao nổi miệng thế xầm xì phao tin đồn (cơ chế của tin đồn là mối quan tâm tới một sự kiện nhưng thiếu thông tin về sự kiện đó). Người ta vu cho ông làm phản. Và ông bị giết hại (hay bị “bức tử“, “tự sát“, hay là “chết đuối“…thì cũng vậy thôi) là phải.“



Gia quyến và con cháu đời sau
Trần Nguyên Hãn có 3 vợ. Với 2 vợ đầu, ông có 3 con trai. Lê Quý Đôn chép rằng ông bị bắt về kinh sư cùng người vợ thứ ba và người con nhỏ mới sinh (hài đồng tử). Sau khi ông chết, Lê Lợi cho bắt hai mẹ con bà này về kinh quản thúc, gia sản của Trần Nguyên Hãn bị tịch thu.

Theo gia phả các chi họ ở xã Sơn Đông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, thì Trần Nguyên Hãn có ba vợ, hai người vợ đầu là:

Bà cả (không ghi tên) người làng Cao Phong, xã Văn Quán, [30]. Ông bà sinh hạ được một con trai là Trần Doãn Hữu, tự là Trung Khang. Trước khi ông Trần Nguyên Hãn xuống thuyền về kinh (theo lệnh triệu hồi của Lê Lợi), ông cho mẹ con bà chạy trốn vào rừng Thần; sau trở lại Sơn Đông.
Vợ thứ hai là bà Lê Thị Tuyển. Ông bà sinh hạ hai con trai là Trần Trung Khoản và Trần Đăng Huy, tự là Trung Lương. Khi Trần Nguyên Hãn xuống thuyền về kinh, ông cho ba mẹ con bà Tuyển chạy trốn sang làng Kẻ Nú, phủ Tam Đới huyện Phù Khang, trấn Tây Sơn. Sau người con lớn Trần Trung Khoản tiếp tục bỏ đi và đổi ra họ Quách. và Trần Đăng Huy đổi sang họ Đào.

Nơi thờ tự và di tích
Trần Nguyên Hãn được nhiều làng ở Sơn Động và các vùng xung quanh lập đền thờ, nhưng “ chính tự“ (nơi thờ tự chính, được công nhận và ghi vào “ tự điển“ là đền Tả tướng. Đền này được xây ngay trên nên ngôi nhà cũ của Trần Nguyên Hãn.

Nhiều di tích ở Sơn Động hiện nay được cho là có liên quan đến các hoạt động của Trần Nguyên Hãn như rừng Thần, đầm Rạch, cống Khẩu... Ao Tó là nơi ông luyện thủy quân sau khi đã trí sĩ về nhà và cho đóng thuyền lớn. Chợ Gốm là nơi Trần Nguyên Hãn từng hành nghề bán dầu. Hiện nay, dân làng này vẫn làm nghề ép dầu bên cạnh những nghề thủ công khác như làm gốm, sơn, mộc.


Cần phân biệt
Nên chú ý phân biệt Trần Nguyên Hãn và Trần Nguyên Hãng. Trần Nguyên Hãng - Thiếu bảo thời vua Trần Nghệ Tông (Trần Phủ) - là người hợp mưu với Trần Khát Chân trừ khử bất thành Hồ Quý Ly, bản thân cùng Khát Chân và 370 người khác đều bỏ mạng trong vụ này
 
2. Phạm Văn Xảo (? – 1429)
Thái Bảo, Huyện Thượng Hầu, Khu Mật Đại Sứ

PhamVanXao.jpg


Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê, người ở miền Kinh lộ, tức là vùng kinh kỳ Thăng Long.

Xuất thân
Sử sách không nói rõ nguồn gốc xuất thân của Phạm Văn Xảo

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
Phạm Văn Xảo là người có nhiều mưu trí, theo giúp Lê Lợi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, được phong chức Khu mật đại sứ.

Tháng 8 năm 1426, sau khi làm chủ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

Tiến đến gần Đông Quan, Phạm Văn Xảo và các tướng nghe tin viện binh nhà Minh từ Vân Nam do Vương An Lão chỉ huy sắp tiến sang theo đường Hưng Hoá. Ông bèn cùng Lê Triện chia quân làm hai cánh: ông cùng Trịnh Khả tiến lên Tây bắc đánh chặn Vương An Lão, còn Lê Triện đóng đồn phía tây Ninh Giang uy hiếp Đông Quan.

Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả tiến đến Tam Giang, lại chia quân làm thanh thế tiếp ứng cho nhau. Đô ty Vân Nam là Vương An Lão mang hơn 1 vạn quân sang đánh, đến cầu Xa Lộc thuộc Tam Giang, bị hai tướng chặn đánh phá tan tành, chém hơn 1000 quân, quân Minh bị chết đuối rất nhiều. An Lão thua trận bỏ chạy vào thành Tam Giang bấy giờ có quân Minh chiếm cứ.

Trong khi đó Đinh Lễ, Nguyễn Xí và Lê Triện cũng phá tan viện binh của Vương Thông ở Tốt Động. Lê Lợi tiến đại quân ra bắc vây hãm Đông Quan.

Năm 1427, vua Minh lại cử viện binh sang. Cánh chủ lực do Liễu Thăng sang đường Lạng Sơn, cánh kia do Mộc Thạnh lại từ Vân Nam sang. Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả tiến lên giữ ải Lê Hoa (Tuyên Quang) ở nơi hiểm yếu cố thủ không cho Mộc Thanh tiến sâu. Thạnh là viên tướng lão luyện, cốt chờ thắng bại của Liễu Thăng mới quyết định hành động. Phạm Văn Xảo cũng án binh không đánh.

Sau khi chém được Liễu Thăng và tiêu diệt cánh quân chủ lực, Lê Lợi sai mang ấn tín của Thăng đến chỗ Thạnh. Thạnh sợ hãi bỏ chạy. Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả thừa cơ tung quân ra đánh, phá địch ở Lãnh Cầu, Đan Xá, chém hơn 1 vạn quân, bắt sống hơn 1000 người ngựa, thu được rất nhiều khí giới.


Thảm án công thần
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, luận công ban thưởng cho công thần. Phạm Văn Xảo được phong làm thái bảo, ban họ Lê của vua.

Tháng 5 năm 1429, vua sai khắc biển ghi tên công thần, ông được phong làm Huyện thượng hầu, tên xếp hàng thứ ba (sau Lê Vấn và Lê Sát), thăng làm thái phó. Phạm Văn Xảo trở thành đại thần rất có trọng vọng trong triều. Ít lâu sau có người tố cáo ông ngầm mưu phản, Lê Thái Tổ sai người bắt giết ông và tịch thu gia sản.

Các nhà sử học thống nhất rằng Phạm Văn Xảo là công thần bị chết oan. Theo sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, "vua Thái Tổ tuổi già, lắm bệnh, sợ ngày sau chúa nhỏ (thái tử Nguyên Long mới lên 8) cầm quyền, các đại thần như ông và Trần Nguyên Hãn "sẽ có chí khác". Vì vậy, bề ngoài Lê Lợi "tỏ ra trọng vọng nhưng bên trong vẫn nghi ngờ. Bọn gian thần Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đón biết ý vua tranh nhau dâng mật sớ khuyên vua sớm trừ đi".

Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng, nguyên nhân sâu xa dẫn tới cái chết của ông là cuộc tranh chấp ngôi thái tử trong triều. Ông và Trần Nguyên Hãn ủng hộ con trưởng Lê Tư Tề đã trưởng thành và từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, trong khi đó các công thần thân tín của Lê Lợi do Lê Sát cầm đầu lại muốn lập con thứ Nguyên Long. Cuộc tranh chấp đó dẫn đến sự vu cáo hai người.

Khi các "mối lo mai sau" của vua Lê như ông và Trần Nguyên Hãn trừ được rồi, vua Lê "hối hận, thương hai người bị oan" (Đại Việt thông sử), hạ lệnh cho những kẻ tố cáo ông về sau không được tố cáo ai nữa và dù có tài cũng không được dùng nữa. Khi Lê Thái Tông (Nguyên Long) lên ngôi, phụ chính Lê Sát định dùng lại bọn gian thần đó nhưng bị các quan trong triều phản đối đành phải thôi
.
___________Auto Merge________________

.
3. Lưu Nhân Chú (?-1433)
Hành quân Đô đốc Tổng quản, Nhập nội Đại Tư mã
Suy trung Tán trị Hiệp mưu Dương vũ công thần, nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự
Á thượng hầu, Nhập nội tư khấu, Thái phó Vinh quốc công


LuuNhanChu.jpg


Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.


Xuất thân
Quê Thuận Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Cùng cha là Lưu Trung tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn
Lưu Nhân Chú thời trẻ nhà nghèo, làm nghề buôn bán để sinh sống. Ông vào Lam Sơn theo Lê Lợi, làm thứ thủ ở vệ kỵ binh trong quân thiết đột.

Năm 1416, ông ở trong số 18 người cùng dự Hội thề Lũng Nhai với Lê Lợi, thề cùng nhau đánh đuổi quân Minh xâm lược.


Tướng quân Lam Sơn
Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi Chí Linh trải qua nhiều gian khổ.

Năm 1424, trong trận đánh ở ải Khả Lưu, ông dũng cảm xông lên trước hãm trận, thu được toàn thắng.

Năm 1425, ông cùng các tướng Đinh Lễ, Lê Sát, Lê Triện đánh úp phá quân Minh ở thành Tây Đô, được phong chức triệt hầu.

Mùa thu năm 1426, Lê Lợi đang vây thành Nghệ An, sai Lưu Nhân Chú cùng các tướng Bùi Bị, Lê Sát, Lê Khuyển, Lê Nanh mang 2000 quân ra lộ Trường Yên, Thiên Trường, Tân Hưng, Kiến Xương. Sau đó ông cùng hội quân với Lê Bồi, Lê Vị Tẩu tiến sang địa giới các lộ Khoái Châu, Lạng Giang, Bắc Giang để chặn viện binh của quân Minh từ Khâu Ôn tiến sang.

Tháng 3 năm 1427, ông được phong chức hành quân đô đốc tổng quản, nhập nội đại tư mã, lĩnh 4 vệ tiền, hậu, tả, hữu, kiêm coi việc quân Tân vệ. Tới tháng 6 năm đó ông được phong chức tư không.

Mùa thu năm 1427, tướng nhà Minh là Liễu Thăng mang viện binh kéo sang giải vây cho Vương Thông. Lưu Nhân Chú được lệnh cùng Lê Sát mang 1 vạn quân, 5 thớt voi đực lên trước ải Chi Lăng để đợi. Ông cùng hợp mưu với Lê Sát, sai Trần Lựu giả thua để nhử Liễu Thăng ở Chi Lăng rồi tung quân mai phục ra đánh úp. Kết quả quân Lam Sơn chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên, sau đó lại giết được tướng giặc khác là Lương Minh. Hai tướng Minh còn lại là Hoàng Phúc và Thôi Tụ cố tiến, Lưu Nhân Chú và Lê Sát chặn đánh, giết được 2 vạn địch.

Sau đó, khi Phúc và Tụ kéo tới Xương Giang mới biết thành này đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân giữa đồng không. Lê Lợi sai Lê Lý cùng Lê Văn An, Lê Khôi mang quân tới tiếp ứng cho Lưu Nhân Chú tổng tiến công quân Minh ở Xưong Giang, giết và bắt sống toàn bộ quân địch. Tướng Hoàng Phúc cũng bị bắt.

Mộc Thạnh cầm một cánh quân viện binh khác, nghe tin Liễu Thăng bại trận nên bỏ chạy về. Vương Thông bị vây ngặt ở Đông Quan không còn quân cứu ứng phải xin giảng hoà để rút về nước.

Để giữ đúng lời ước, Lê Lợi và Vương Thông bằng lòng đổi con tin. Thông cử hai tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ sang bên quân Lam Sơn còn Lê Lợi sai con cả là Lê Tư Tề cùng Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan.


Hoạ quyền thần
Sau hội thề Đông Quan, quân Minh rút về nước. Lê Lợi lên ngôi vua, tức là Lê Thái Tổ, Lưu Nhân Chú được họ vua thành Lê Nhân Chú và được phong làm Suy trung Tán trị Hiệp mưu Dương vũ công thần, nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự.

Tháng 5 năm 1429, Lê Thái Tổ sai khắc biển công thần. Lê Nhân Chú được phong làm Á thượng hầu, tên đứng hàng thứ 5.

Năm 1431, ông được chuyển làm nhập nội tư khấu.

Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông lên thay còn nhỏ, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính. Lê Sát ghen ghét ông, ngầm sai người đánh thuốc độc giết hại ông.

Năm 1437, Lê Thái Tông khôn lớn, tự mình cầm quyền, biết được nỗi oan của ông, bèn trị tội giết Lê Sát.

Năm 1484, Lê Thánh Tông truy tặng ông làm Thái phó Vinh quốc công.

Em cùng mẹ với ông là Trịnh Khắc Phục cũng là đại thần nhà Hậu Lê, được ban họ vua nên thường được biết tới với tên là Lê Khắc Phục. Trịnh Khắc Phục là Tư khấu vào cuối những năm 1440 và bị Thái hậu Nguyễn Thị Anh giết oan cùng con trai ông và bố con Thái úy Trịnh Khả.
 
4. Đinh Lễ (chữ Hán: 丁禮; ?-1427)
Tư Không, Đô quản Thiết đột kỵ
Nhập nội Kiểm hiệu Tư Đồ, Thái sư Bân Quốc công, tấn phong Hiển Khánh vương


DinhLe.jpg


Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hoá, Việt Nam.

Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình nói rằng ông là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn con vua Đinh Tiên Hoàng.

Đinh Lễ là cháu gọi Lê Lợi bằng cậu. Ông là người dũng cảm, nhiều mưu lược, võ nghệ hơn người, khi còn trẻ thường làm cận vệ cho Lê Lợi. Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi chí Linh trải qua nhiều gian khổ.


Phá giặc ở Nghệ An, Thanh Hoá
Năm 1424, quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An, đánh nhau to với quân Minh ở Khả Lưu. Đinh Lễ cùng Lê Sát xông lên phía trước, các tướng sĩ thấy vậy cùng tiến theo, đánh bại quân Minh, đuổi Trần Trí, Sơn Thọ, bắt được nhiều tù binh. Sau trận đó ông được Lê Lợi phong chức Tư không.

Năm 1425, quân Lam Sơn vây Lý An, Phương Chính ở Nghệ An, Đinh Lễ được sai đi tuần ở Diễn châu. Ông đặt phục binh ngoài thành, đón đánh tướng Minh là Trương Hùng vận 300 thuyền lương từ Đông Quan (Hà Nội) tới. Hùng bỏ chạy, Đinh Lễ cướp được thuyền lương, thừa thế đuổi đánh quân Minh đến tận Tây Đô (Thanh Hoá).

Lê Lợi sai Lê Triện, Lê Sát tiếp ứng cho ông, đánh tan quân Minh buộc địch rút vào thành. Đinh Lễ chiêu dụ dân cư Tây Đô, chọn người khoẻ mạnh đầu quân vây thành.


Đại thắng Vương Thông ở Tốt Động
Tháng 8 năm 1426, sau khi làm chủ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

Lê Triện tiến đến gần Đông Quan đánh bại TrầnTrí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan (Thăng Long, Hà Nội).

Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Vua Minh lại sai Vương Thông mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Đinh Lễ, Nguyễn Xí.

Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân bắt được thám tử của Vương Thông, hai tướng biết Thông định chia dường, hẹn nhau khi pháo nổ thì quân mặt trước mặt sau cùng đánh úp Lê Triện. Ông và Nguyễn Xí bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động, rồi đốt pháo giả làm hiệu cho quân Minh tiến vào. Quân Vương Thông mắc mưu rơi vào ổ phục kích, bị đánh thua to. Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân Minh bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.


Sa lầy ở My Động
Lê Lợi được tin thắng trận liền tiến đại quân ra bắc, vây thành Đông Quan. Đinh Lễ được lệnh cùng Nguyễn Xí mang quân vây phía nam thành.

Tháng 2 năm 1427, tướng Minh là Phương Chính đánh úp Lê Triện ở Từ Liêm, Triện bị tử trận. Tháng 3 Vương Thông đánh trại quân Lam Sơn ở Tây Phù Liệt. Tướng Lê Nguyễn cố thủ rồi cầu viện binh. Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí được lệnh mang 500 quân thiết đột tiếp viện, đánh đuổi quân Minh đến My Động. Hậu quân Lam Sơn không theo kịp, Vương Thông thấy vậy bèn quay lại đánh, hai tướng cưỡi voi bị sa xuống đầm lầy, bị quân Minh bắt mang về thành. Đinh Lễ không chịu hàng nên bị địch giết. Lê Lợi nghe tin ông mất rất thương tiếc.

Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi vua truy tặng ông làm Nhập nội kiểm hiệu tư đồ. Năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong làm thái sư Bân quốc công, về sau tấn phong Hiển Khánh vương.

Em Đinh Lễ là Đinh Liệt cũng là một công thần khai quốc nhà Hậu Lê. Cả hai anh em ông đều được đặt tên phố ở trung tâm Hà Nội ngày nay
.
___________Auto Merge________________

.
5. Lý Triện (Lê Triện ; ?-1427)
Thái Úy
Nhập Nội Tư Mã, Hữu Tướng quốc
Thái Bảo, Kỳ quận công, tấn phong Tây Kỳ vương


LyTrien.jpg


Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người làng Bái Đôi, huyện Lôi Dương, Thanh Hoá, Việt Nam.

Đánh giặc thời gian khổ
Lê Triện là người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ ngày đầu, giúp Lê Lợi trong thời gian khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa.

Năm 1420, tướng Minh là Lý Bân và Phương chính mang quân qua Quỳ Châu vào Mường Thôi đánh quân Lam Sơn. Lê Triện cùng Lê Lý, Phạm Vấn mang quan ra chặn địch, phối hợp với quân chủ lực của Lê Lợi phục binh đánh bại quân Minh ở Bồ Mộng.

Năm 1422, quân Minh huy động thêm quân nước Ai Lao (Lào) hai đường đánh tới, Lê Lợi rút về Sách Khôi. Quân địch dồn đại binh kéo tới bao vây. Lê Triện được lệnh cùng Lê Lĩnh, Phạm Vấn mang quân ra tử chiến, chém được tướng địch là Phùng Quý và hơn 1000 quân, bắt được hơn 100 ngựa, Mã Kỳ và Trần Trí thua chạy về Đông Quan (Hà Nội), quân Ai Lao cũng bỏ chạy.

Năm 1423, quân Lam Sơn bị địch vây tuyệt lương mấy tháng. Lê Triện vẫn theo sát Lê Lợi tuần tra vỗ về tướng sĩ không hề trễ nải.


Đại chiến với giặc mạnh
Sau thời kỳ giảng hoà với quân Minh để củng cố thực lực, năm 1424, quân Lam Sơn và quân Minh khai chiến trở lại. Năm 1425, quân Lam Sơn vây đánh Nghệ An, Lê Triện làm hậu viện cho Đinh Lễ ra đánh úp Tây Đô (Thanh Hoá). Lê Triện đi đường tắt đánh bại quân Minh, địch phải rút vào cố thủ trong thành. Ông được phong làm thiếu uý.

Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

Tiến theo đường tắt đến gần Đông Quan, cánh quân của Lê Triện gặp tham tướng quân Minh là Trần Trí. Trí thấy quân Lam Sơn ít nên mang hết quân ra đánh. Ông cùng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Đỗ Bí hợp sức đánh bại được Trí ở Chương Đức, tiến lên đắp luỹ ở phía tây Ninh Giang. Trần Trí bại trận liền cầu viện Lý An, Phương Chính ở Nghệ An. An và Chính dem quân vượt biển ra bắc tiếp viện cho Đông Quan.

Nghe tin viện binh nhà Minh từ Vân Nam do Vương An Lão chỉ huy sắp tiến sang theo đường Hưng Hoá. Lê Triện bèn cùng Phạm Văn Xảo chia quân làm hai cánh: Phạm Văn Xảo cùng Trịnh Khả tiến lên Tây bắc đánh chặn Vương An Lão, còn Lê Triện đóng đồn phía tây Ninh Giang (đoạn sông Đáy chảy qua Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai của tỉnh Hà Tây) uy hiếp Đông Quan. Tháng 9 năm 1426, Lê Triện đánh tan quân Minh ở cầu Nhân Mục, chém hơn 1000 quân địch, bắt được tướng Vi Lượng.

Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đánh tan viện binh Vân Nam, quân Minh thua trận bỏ chạy vào thành Tam Giang.

Thấy quân chủ lực của địch bỏ Nghệ An, Lê Lợi mang đại quân tiến ra bắc đóng ở Thanh Hoá. Vua Minh điều Vương Thông mang quân sang tiếp viện. Thông hợp binh ở Đông Quan được 10 vạn người, thấy quân mình liên tiếp bại trận dưới tay Lê Triện chia ba đường cùng đánh đạo quân của ông: Thông tự cầm một cánh quân đóng ở Cổ Sở, Phương Chính và Lý An đóng ở cầu Sa Đôi (Từ Liêm), Sơn Thọ và Mã Kỳ đóng ở cầu Thanh Oai, dinh luỹ các đạo quân nối liên vài chục dặm.

Trước thế giặc mạnh, Lê Triện và Đỗ Bí quyết định chủ động đánh từng cánh quân. Ông đặt phục binh ở Cổ Lãm (thuộc huyện Thanh Oai) rồi mang quân khiêu chiến trại của Thọ và Kỳ trước rồi giả thua chạy. Thọ và Kỳ mang quân đuổi theo, đến vùng ruộng lầy, phục binh của Lê Triện đổ ra đánh, quân Minh thua to, hai tướng Minh bỏ chạy về Cổ Sở. Lê Triện thừa thế đánh sang quân Phương Chính, Chính cũng bỏ chạy về với Vương Thông.

Lê Triện nhân đà thắng lợi, hôm sau tiến đánh Vương Thông ở Cổ Sở. Thông thấy quân bị thua đã phòng bị trước, quân Lê Triện bị đánh bại phải rút chạy. Ông phá huỷ trại cũ và sai người cầu cứu Đinh Lễ, Nguyễn Xí.

Hai cánh quân họp nhau ở Cao Bộ. Nguyễn Xí bắt được thám tử của Vương Thông, biết Thông định chia đường đánh úp quân Lê Triện bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào cánh đồng Tốt Động, Chúc Động đại phá quân Minh. Thông thua to bỏ chạy về Đông Quan.


Bỏ mình vì nước
Lê Lợi nghe tin thắng trận bèn tiến đại quân ra bắc vây hãm Đông Quan. Lê Triện cầm 2 vạn quân vây cửa bắc là cửa xung yếu nhất, có thể phải đối phó cả với quân trong thành và viện binh từ các thành phía bắc và từ Trung Quốc sang cứu Đông Quan.

Tháng 2 năm 1427, tướng Minh là Phương Chính kéo ra ngoài đánh úp động Quả ở Từ Liêm. Lê Triện và Đỗ Bí cố sức đánh nhưng bị thua trận. Ông bị tử trận còn Đỗ Bí bị bắt

Thương Lê Triện nhiều lần phá được giặc mạnh, Lê Lợi cho cha ông là Lý Ba Lao làm chức sát sứ, cấp 400 mẫu ruộng, con ông là Lê Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Phục hầu. Sau Lê Lăng trở thành đại thần nhà Hậu Lê.

Năm 1428, ông được truy tặng chức Nhập nội tư mã. Năm 1460, ông lại được truy tặng làm hữu tướng quốc. Năm 1484, Lê Thánh Tông tặng ông tước thái bảo, Kỳ quận công và sau đó là Tây Kỳ vương.
 
6. Lê Phụng Hiểu (? - ?)
Võ Vệ Tướng quân, Đô Thống Thượng Tướng quân

LePhungHieu.jpg


Là một đại tướng nhà Lý, phụng sự ba triều vua đầu tiên của nhà Lý đó là vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông. Ông là người có công rất lớn trong việc lao động đường phố vua Lý Thái Tông tức Lý Phật Mã lên ngôi.


Tiểu sử
Ông quê ở làng Băng Sơn xã Dương Sơn, huyện Hồng Hóa (hay Hoằng Hóa) tỉnh Thanh Hóa. Thủa nhỏ ông có sức khỏe phi thường, nên khi được tuyển vào Túc vệ quân (quân cấm vệ), ông được Lý Thái Tổ thăng làm Võ Vệ tướng quân. Khi vua Lý Thái Tổ mất, có di chiếu cho Thái tử Lý Phật Mã nối ngôi, nhưng các hoàng tử khác là: Dực Thánh vương, Võ Đức vương, Đông Chinh vương không chấp nhận, đem quân làm phản (Loạn ba vương năm Mậu Thìn - 1028). Theo lệnh vua Lý Thái Tông, ông đem quân cấm vệ đi dẹp loạn và thành công. Vua Thái Tông phong cho ông chức Đô Thống thượng tướng quân.

Sau đó ông làm tướng tiên phong, theo vua Thái tông vào đánh Chiêm Thành, chiến thắng, bắt được vua Chiêm Thành là Chế Vũ. Trở về, ông được vua phong tước hầu và thưởng ruộng đất lập ấp. Ông xin vua lên núi Băng sơn quăng dao xuống núi để xác định vị trí lập ấp. Từ đây ruộng vua ban cho các quý tộc phong kiến Việt Nam gọi là "ruộng thác đao". Lê Phụng Hiểu mất vào năm ông 73 tuổi.

-------------------

7. Lý Kế Nguyên

LyKeNguyen.jpg


Năm 1076 tháng 3, nhà Tống dùng tuyên phủ sứ Quảng Nam (Quảng Đông - Quảng Tây ngày nay) là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, 10 vạn quân tinh nhuệ, 1 vạn ngựa chiến và 20 vạn dân phu, hợp với quân Chiêm Thành và quân Chân Lạp sang xâm chiếm nước Đại Việt. Quân nhà Tống tiến theo hai đường thủy, bộ vào Đại Việt. Đường thủy do Hòa Mâu chỉ huy; đường bộ do Quách Quỳ chỉ huy. Ở trên sông Vân Đồn (Quảng Ninh), Lý Kế Nguyên đã chặn đánh thủy binh nhà Tống, làm thất bại kế hoạch hội quân của họ. Lý Thường Kiệt đã lập phòng tuyến ở bờ nam sông Như Nguyệt, một khúc của sông Cầu đề chặn đánh. Quân Tống đã nhiều lần cố gắng vượt sông nhưng đều thất bại. Quách Quỳ cho đóng quân ở bờ bắc sông Như Nguyệt và chuyển sang phòng ngự nhằm chờ thời cơ. Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân (Trương Hống và Trương Hát: hai vị tướng đánh giặc giỏi của Triệu Quang Phục) có tiếng đọc to bài thơ thần mà người đời sau cho rằng nó là của Lý Thường Kiệt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!


Tạm dịch

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời


Bài thơ này có tác dụng khích lệ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt, tạo ra lòng tin rằng họ đang được thần linh giúp đỡ, đồng thời làm hoang mang quân nhà Tống. Khi quân nhà Tống đã lâm vào thế yếu Lý Thường Kiệt đã chủ động giảng hòa để quan hệ Tống-Việt sau đó có thể trở lại bình thường.

Khi rút quân, Quách Quỳ đã tranh thủ chiếm đoạt luôn châu Quảng Nguyên (Lạng Sơn và Cao Bằng ngày nay). Sau này, Thái sư Lê Văn Thịnh đã lấy lại châu Quảng Nguyên, nơi có nhiều mỏ kim loại quý, bằng phương pháp hòa bình là ngoại giao và tặng voi cho vua Tống. Người Tống cho rằng vua Tống mắc sai lầm để "mất" châu Quảng Nguyên có nhiều mỏ vàng nên đặt ra câu:

Bởi tham voi Giao Chỉ
Để mất vàng Quảng Nguyên


-----------------

8. Lý Long Tường:
Thái sư Thương trụ quốc, Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Thượng thư Tả bộc xạ, lĩnh Đại đô đốc, Kiến Bình Vương
Hoa Sơn Tướng quân


LyLongTuong-1.jpg


Lý Long Tường (李龍祥, Hàn ngữ : 이용상/Ri Ryeong Sang) là Hoàng tử nhà Lý nước Đại Việt, Hoa Sơn Tướng quân (Hwasan Sanggun) nước Cao Ly và là ông tổ của một dòng họ Lý ngày nay tại Hàn Quốc.

Lý Long Tường sinh năm 1174 (Giáp Ngọ), là con thứ bảy của vua Lý Anh Tông (trị vì 1138-1175) và Hiền Phi Lê Mỹ Nga. Ông được vua Trần Thái Tông phong chức: Thái sư Thương trụ quốc, Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Thượng thư Tả bộc xạ, lĩnh Đại đô đốc, tước Kiến Bình Vương.

Năm 1225, Trần Thủ Độ lật đổ nhà Lý bằng cách đưa cháu là Trần Cảnh vào hầu Lý Chiêu Hoàng, dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để lập ra nhà Trần. Sau đó Trần Thủ Độ tiến hành tàn sát con cháu nhà Lý, buộc con cháu nhà Lý đổi qua họ Nguyễn, đày con cháu nhà Lý đi lên vùng núi non hiểm trở phía bắc.

Tị nạn
Năm 1226 (tức niên hiệu Kiến Trung thứ hai đời Vua Thái Tông nhà Trần), để bảo toàn tính mạng và lo việc thờ cúng tổ tiên, Lý Long Tường đã mang đồ thờ cúng, vương miện, áo long bào và thanh Thượng phương bảo kiếm truyền từ đời Vua Lý Thái Tổ cùng sáu ngàn gia thuộc qua cửa Thần Phù, Thanh Hóa chạy ra biển Đông trên ba hạm đội. Sau một tháng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền gặp bão lớn phải ghé vào Đài Loan. Khi Lý Long Tường quyết định lên đường thì con trai là Lý Long Hiền ốm nặng nên phải ở lại cùng 200 gia thuộc. Trên đường đi tiếp đoàn thuyền bị bão dạt vào Trấn Sơn, huyện Bồn Tân, tỉnh Hoàng Hải, trên bờ biển phía tây Cao Ly (gần Pusan ngày nay). Tương truyền rằng trước đó Vua Cao Tông của Cao Ly nằm mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lên, vì vậy ông lệnh cho chính quyền địa phương tiếp đón ân cần, và đồng ý cho Lý Long Tường ở lại dung thân.

Tại đây Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi. Ông cho mở Độc thư đường dạy văn (thi phú, lễ nhạc, tế tự) và Giảng võ đường dạy võ (binh pháp, võ thuật). Học trò theo học rất đông, lúc nào cũng trên nghìn người.


Chống quân Nguyên Mông
Năm 1232, Đại hãn Oa Khoát Đài đem quân tiến đánh Cao Ly bằng hai đường thủy bộ. Về đường thủy, quân Nguyên Mông vượt biển tiến đánh Hoàng Hải nhưng bị Lý Long Tường lãnh đạo tướng sĩ, gia thuộc và quân dân địa phương đẩy lui. Khi ra trận, ông thường cưỡi ngựa trắng đôn đốc quân sĩ, nhân dân gọi ông là Bạch Mã Tướng quân.

Năm 1253, Đại hãn Mông Ca lại đem quân đánh Cao Ly lần thứ hai. Quân Nguyên Mông do Đường Cơ chỉ huy tấn công Hoàng Hải cả đường thủy lẫn đường bộ. Lý Long Tường lãnh đạo quân dân trong vùng chống trả quân Nguyên Mông suốt 5 tháng ròng. Sau chiến công này, Vua Cao Ly đổi tên Trấn Sơn thành Hoa Sơn, phong Lý Long Tường làm Hoa Sơn Tướng quân. Nơi quân Nguyên Mông đầu hàng gọi là Thụ hàng môn và Vua Cao Ly cũng cho lập bia tại đây để ghi công ông (di tích này hiện nay vẫn còn).

Khi mất, ông được chôn tại chân núi Di Ất, gần Bàn Môn Điếm bây giờ. Thời gian sống ở Hoa Sơn, Lý Long Tường thường lên đỉnh núi ngồi trông về phương Nam mà khóc, nơi ấy gọi là Vọng quốc đàn.

Một vài tờ báo hải ngoại phong đùa ông là "Ông tổ tị nạn" hay "Ông tổ thuyền nhân". Ngày nay hậu duệ họ Lý dòng dõi Lý Long Tường có khoảng hơn 600 người.


Hậu duệ
Ngày 6 tháng 11 năm 1958, trong dịp viếng thăm Việt Nam Cộng hòa, Lý Thừa Vãn, Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Theo nhà nghiên cứu Trần Đại Sỹ thì Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Lý Long Tường.

Cũng có giả thuyết rằng Cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy là hậu duệ của Lý Long Hiền - con trai Lý Long Tường.

Năm 1994, ông Lý Xương Căn, cháu đời thứ 26 (có tài liệu là đời thứ 31) của Lý Long Tường, qua Việt Nam, tìm đến từ đường họ Lý ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để bái tổ tiên.


Dòng họ Lý gốc Việt thứ hai
Ngoài Lý Long Tường là ông tổ họ Lý gốc Việt tại Hàn Quốc và Triều Tiên, tại đây còn có một họ Lý gốc Việt khác mà ông tổ là Lý Dương Côn con nuôi của Vua Lý Nhân Tông. Năm 1150, Đô đốc Thủy quân Lý Dương Côn đã cùng tông tộc dùng thuyền sang Cao Ly tị nạn để tránh bị giết trong cuộc tranh giành ngôi báu lúc bấy giờ.

Hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Ui Min) trở thành nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Cao Ly

Cao Ly là Triều Tiên, người Trung Quốc hay gọi là Liêu Đông (Nam Triều Tiên) hay Liêu Tây (Bắc Triều Tiên)

-----------------------

9. Tôn Đản:

TonDan-2.jpg


------------------------

10. Lý Thường Kiệt:

LyThuongKiet-1.jpg
 
Back
Top