Chương 3. Dusk. Chạng vạng.
Phần 1.
[spoil]
Sam Harrington dạo bước dọc theo đường Baring. Bốn giờ chiều, chỉ còn một tiếng nữa là chúng sẽ bắt đầu ló dạng.
Chúng sắp đến rồi !
Anh nghe thấy trí não nhắc nhở.
Vào nhà đi !
Mày thừa biết những gì sẽ xảy đến nếu cứ đứng đây mãi mà !
Tao không thích.
Anh đứng lặng người giữa cơn gió thổi mạnh, thoáng nhìn những đám mây đen vần vũ đang che kín bầu trời. Âm vực trầm lắng phát ra từ nơi xa xa phía chân trời xuyên thấu tim anh bằng quyền năng hiện thực hóa những bóng hình được chôn giấu trong ký ức.
Anh bạn hàng xóm Sanderson chạy bộ trên vỉa hè. Bé Lucy đi giao báo. Ông chú Danny đẩy xe hot dog đi bên vệ đường.
Katie đi học về. Johanna đứng trên hiên, vẫy tay kêu anh vào nhà thưởng thức bữa tối.
Đó từng là sự thật vào thời đại trước.
Những ảo ảnh cứ thi nhau hiện lên rồi lại bất chợt tan biến vào không khí như muốn trêu cợt anh. Dẹp hết đi ! – anh gào lên như con thú dữ đang chìm trong cơn lồng lộn.
Thêm một chứng bệnh nữa được nỗi cơ đơn ám vào bộ óc của anh. Mới đầu là vậy, giờ thì anh còn chẳng biết nó đã ăn mòn đến phần nào trong cơ thể mình. Những ảo giác, ban đầu, chỉ đơn thuần là những hình ảnh được vẽ nên bởi trạng thái căng thẳng cộng với ý muốn nằm sâu trong tiềm thức của anh. Gần đây thì chúng bắt đầu chuyển hóa. Chúng hiện hữu ở khắp nơi vào mọi thời điểm trong ngày, tạo ra những hình ảnh giả dối và thậm chí là cả âm thanh. Mỗi lần như vậy chỉ kéo dài khoảng vài giây rồi biến mất.
Có khi, khoảng thời gian đó được khuếch đại ra, đến mức có thể dễ dàng khiến anh đánh mất luôn cả khái niệm về thời gian mỗi khi lạc vào vương quốc ảo giác đó. Chúng dụ dỗ anh vào cơn mộng mị vô thực, để rồi quẳng lại cho anh nỗi thất vọng tràn trề khi tỉnh dậy và nhìn thấy thực tại tàn nhẫn ngự trị trước mắt. Anh không thể thoát khỏi cảnh cô đơn, và sẽ không bao giờ có thể thoát khỏi nó.
Cái giá phải trả để được tồn tại, anh nghĩ, rồi ngồi bệch xuống bãi cỏ xanh mươn mướt ngay cạnh nhà.
Không biết đã bao lâu rồi, kể từ khi anh bắt đầu thúc ép bản thân phải thích nghi cho bằng được với cái môi trường vắng bóng người. Dù không muốn nhưng anh cũng phải chấp nhận điều đó, rằng anh là người cuối cùng của Philadelphia. Cũng có thể là người cuối cùng của cả vùng này, hay là cả nước Mỹ.
Nhưng một phần nào đó trong anh luôn cật lực phản bác cái ý nghĩ rằng anh là cá thể còn sống duy nhất của loài người. Chúng ta đã sống sót qua bao nhiêu thảm họa đấy thôi, từ những đợt hạn hán khắc nghiệt xảy ra bảy vạn năm về trước khiến dân số chỉ còn ngót ngét mười lăm nghìn người, cho đến dịch bệnh bí ẩn năm 1300 – dưới cái tên “Cái chết đen” – đã dẫn đến sự sụp đổ của đế chế Mông Cổ. Trải qua từng ấy đại nạn mà họ vẫn trụ vững như thành đồng, vào những ngày mà tưởng chừng như bầu trời có thể bị kéo sập xuống bất cứ lúc nào.
Trận đại dịch năm 2011 phải chăng cũng chỉ là một trong số chúng, càn quét thế giới trong một thời gian dài rồi cũng sẽ bay đi mất dạng, cho đến khi nền văn minh được phục hồi.
Nào nào, đừng tự an ủi mình nữa. Chín mươi chín phần trăm dân số thế giới đã được Đức chúa tối cao ban cho hình hài mới để mà bước đến bậc thang tiếp theo trong chuỗi tiến hóa rồi.
Ừ, đúng. Chúng nó đã tiến hóa thành một loài sinh vật giống như bọn quỷ sứ hoành hành ở chốn địa ngục, từng phút từng giây khát khao có một ngày được vươn tay lên trần thế mà thỏa mãn ước vọng giết chóc, thứ ước vọng mà chúng đã nuôi nấng ngày qua ngày.
Reaper – Tử thần, đó là cái tên mà anh gán cho chúng.
Một năm sống chung với cái thế giới sa đọa này đã giúp Sam hiểu ra được nhiều điều về căn bệnh, qua điều tra hoặc quan sát.
Căn bệnh được truyền đi từ người sang người, và thường thấy nhất là việc tiếp xúc với nước bọt. Và, dần dà nó nhiễm vào nguồn nước lẫn thực phẩm, đẩy mạnh tốc độ lây lan lên hơn bao giờ hết.
Cũng như những đại dịch mà chúng ta thường thấy trong phim ảnh, căn bệnh này biến cho những kẻ không may bị nhiễm thành một lũ dị nhân quái gở.
Một trong những điểm khác biệt của đại dịch này so với những trận dịch từng hoành hành trong lịch sử là, nạn nhân của nó không chết, và cũng không được chết – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Dù bề ngoài thì nhìn họ chẳng khác gì những cái xác mốc meo biết đi nhưng, nó không hoàn toàn giống như khái niệm về lũ thây ma biết đi trong truyện tranh hay sách vở - khái niệm đã trở thành chuẩn mực để giải thích cho sự tồn tại của cái lũ mà người ta hay gọi là “zombie”. Lí trí của họ (những kẻ nhiễm bệnh) là thuộc về người sống.
Tại sao họ không được chết trước khi sự thay đổi diễn ra ? Ta bắt đầu liên hệ đến khả năng phục hồi của họ. Họ có thể tự phục hồi tế bào chết sau một thời gian, giống như con người, nhưng là với tốc độ nhanh hơn, không phải là trong nháy mắt vá lành vết thương nhưng nó cũng đủ nhanh để có thể nhận ra qua việc theo dõi, giả sử bị trúng đạn thì thay vì nằm viện vài tháng như người thường thì đối với họ là ba ngày, nhưng họ vẫn có thể bị chết hoàn toàn khi chịu quá nhiều thương tổn trong một khoảng thời gian ngắn hoặc hệ thần kinh bị phá hủy, và đối với những cơ thể người đã chết thì căn bệnh không thể làm gì họ được. Nó không thể tái tạo hệ thần kinh, anh khẳng định vậy, trong khi người chết thì hệ thần kinh của họ đã hoàn toàn mất đi mọi chức năng vốn có của nó. Anh chưa từng thấy cái xác nào thình lình đứng dậy và trở thành một trong số chúng cả, đống xác đó chỉ còn một công dụng duy nhất là trở thành nguồn lương thực cho những kẻ bị nhiễm, lũ Reaper. Anh cũng đã thử giết một tên và theo dõi tử thi của hắn trong hai tuần, không có gì xảy ra ngoài việc hắn thối rữa dần – không khác gì xác người bình thường, và vô tình hắn trở thành cái nam châm hút lũ đồng loại của hắn tới, có thể là do sự nhận ra mùi quen hoặc là đồng loại của hắn muốn chén luôn những gì còn lại của hắn. Chính vì ngộ ra điều này nên anh mới phải quẳng xác của cái gã hôm qua tại một địa điểm cách nhà đủ xa.
Nhìn nhận chung, họ cũng tương tự như cái thứ mà mọi người vẫn gọi là xác sống hay “zombie” ấy, ngoài trừ việc họ biết chạy, chạy nhanh như vận động viên điền kinh và dường như không bao giờ biết mệt; họ không ú ớ trong cuống họng mà thay vào đó là gầm rú ỏm tỏi; cơ thể họ không bị mục rữa theo thời gian trừ những trường hợp đặc biệt ; cơ bắp và xương họ phát triển kinh khủng, nhưng do sự phát triển này là không đồng đều nên thỉnh thoảng vẫn thấy những kẻ có cơ thể còi cọc nhưng chân to như chân voi hay có cánh tay bự tổ chảng; cơ thể họ xuất hiện những thứ “không thuần” như những cục u, bám quanh vùng cổ, đôi khi là cả trên đầu; và trên hết là họ bị nhiễm khi còn sống. Sau khi biến thành bọn quái thai dị hợm thì họ cũng vẫn còn sống. Nhưng thay vì óc lập luận của một người bình thường thì, họ sinh tồn bằng bản năng – thứ được đưa vào cùng căn bệnh. Bản năng đó thúc đẩy họ trốn tránh ánh sáng mặt trời (vì một lí do nào đó), nhận biết thời điểm an toàn để rời khỏi chỗ trốn, và...
Tìm kiếm thịt tươi để bổ sung dinh dưỡng.
Những bản năng đó được kết hợp một cách hoàn hảo với cơ thể biến dị của họ. Nó dạy cho họ cách sử dụng những thanh đao, hay những mẩu gai nhọn được hình thành từ xương bàn tay như một thứ vũ khí dùng để tự vệ và tấn công. Để giải thích cho sự hung hãn và hiếu chiến vốn đã ăn sâu vào máu của những Reaper, anh đã đưa ra một giả thuyết như thế này : bằng một cách nào đó, căn bệnh kích hoạt những mã gien ẩn trong cơ thể người nhiễm, (những mã gien thường tìm thấy ở tội phạm, hay người có xu hướng bạo lực), từ đó dẫn đến sự thay đổi trong tính cách, và đó là lời giải mà anh cho là hợp tình hợp lý nhất vào lúc này. Nhưng nếu chỉ là kích thích gene thì chưa đủ, bởi lẽ sự hung dữ mà anh nhìn thấy trong mắt của lũ quái thú này nằm ở một tầm cao khác, có thể ví nó như một con cá mập trắng đang hăng máu, hoặc là…bệnh dại. Có thể là vậy.
Anh từng thấy có một số trường hợp đặc biệt, họ bị lây nhiễm nhưng kết quả của quá trình biến đổi không phải là bọn Reaper, mà thay vào đó, họ trở thành những cục thịt vô dụng có những tính chất trái ngược hoàn toàn : không biết làm gì khác ngoài việc bước đi bằng chân và đứng nhìn cơ thể của mình bị mục rữa. Căn cứ vào bề ngoài và hành vi, anh đoán họ bị mắc chứng bại não.
Nếu căn bệnh có thể khiến cho người ta bị bại não, thì nó cũng có thể mang theo bệnh dại.
Tất cả vẫn chỉ là suy đoán. Đó là tại sao anh lại muốn lấy mẫu vật về để kiểm nghiệm, vì đó là cách duy nhất để anh xác nhận tính đúng sai trong suy đoán của mình.
Có lẽ tao nên bắt sống một tên về và nghiên…cứu… Không. Như vậy thì quá tàn nhẫn, ngay cả khi đó là bọn chúng đi chăng nữa…
Ôi thôi, vứt cái bộ mặt nhân từ giả dối của mày đi.
Sam tiếp tục rà soát lại những dữ kiện mình có trong tay, cho đến khi…
Một bức tường bay xuống chặn đứng suy nghĩ của anh, trên đó là những chữ to tướng.
Chúng đến từ đâu ?
Anh đưa tay lên ôm chặt đầu, ậm ừ trong miệng. Câu hỏi này đã bám theo anh ngay từ khi anh mới nhìn thấy chúng lần đầu tiên.
Cái rễ của trận đại dịch.
…
<< Thưa quý vị !
Bây giờ là một giờ sáng, ngày 16 tháng 10. Hiện chúng tôi đang có mặt tại không phận của sân bay quốc tế Philadelphia. Dưới đây là những hình ảnh đang được truyền hình trực tiếp trên toàn nước Mỹ… >>
Trước khi Sam kịp hỏi mình rằng làm thế nào mà đám nhà báo đó lại vào được khu vực bị phong tỏa, thì nỗi kinh hãi đã vây lấy anh với tốc độ không thể đong đếm được bằng đơn vị. Anh cứng người, chăm chăm nhìn vào màn hình vô tuyến.
Kia kìa, trong mắt anh là một giống loài xa lạ chưa bao giờ được nhìn thấy trên quả đất, một kẻ đột biến kinh tởm đến từ một bộ phim kinh dị không bao giờ được trình chiếu.
Nó cao đến mười hai bộ với những cơ bắp căng phồng lộ hẳn ra ngoài trên hai cánh tay quá khổ và đôi chân từa tựa như chân của một loài bò sát khổng lồ. Bên dưới lớp da tái nhợt màu đỏ hoét là thân hình to lớn và cục mịch lạ thường tựa như chiến xa bọc thép. Ngự trị trên khuôn mặt của nó là cặp mắt đục ngầu và hai hàm răng lổm chổm nhọn hoắc chìa ra hăm dọa. Một con quái vật thực thụ, mang trong mình đủ mọi yếu tố cần thiết để gieo hạt giống của sự sợ hãi vào đầu của những kẻ nhìn thấy nó. Như thể tác phẩm của Stan Lee và Jack Kirby bước ra ngoài đời thực với vai trò một kẻ đi gieo rắc nỗi kinh hoàng.
Giữa một trung đội thủy quân lục chiến đang trong tư thế sẵn sàng khai hỏa, nó đứng như trời trồng, đảo mắt qua lại thăm dò trong bộ dạng hiên ngang, không hề tỏ ra bất cứ dấu hiệu nào thể hiện sự e ngại.
Cái mẹ gì đây ?!
Anh nhìn xuống và thấy bàn tay mình đang run lẩy bẩy. Cái thứ trước mắt anh không phải là thời sự được truyền hình trực tiếp, anh không muốn tin nó là sự thật, và đang diễn ra ở một nơi không cách nhà mình là bao xa.
Một buổi tối thứ bảy và bao nhiêu chuyện kỳ quái xảy ra. Dân chúng hoảng loạn, quân đội tụ tập ở sân bay. Và giờ là cái con ác thú từ trên trời rơi xuống kia.
Nỗi hoài nghi đột ngột trỗi dậy ngay lúc anh nhìn thấy những móng vuốt dài và bén ngót chìa ra từ một thiết bị gắn trên tay nó.
Một sản phẩm nhân tạo ư ? – anh thắc mắc, và khi anh nhoài người lên để nhìn kỹ hơn thì anh thấy những mảnh kim loại, ống dẫn lộ ra từ lưng nó. Dường như những thứ này được gắn vào người con quái để phục vụ một mục đích nào đó…nhưng kẻ nào đã làm việc này ?
Rốt cục, nó đến từ đâu ?
Giữa lúc anh đang đánh vật với tâm trí để tìm cho ra một câu trả lời thì đột nhiên…
<< Lạy Chúa !! >>
Anh nghe thấy một giọng thất thần phát ra từ chiếc vô tuyến.
Cả trung đội lục quân đã bị thảm sát, để lại một cảnh tượng kinh hoàng với những cái xác bị đứt đoạn của đám lính xấu số. Làm thế nào mà… ?! – Anh chồm khỏi ghế sôfa, không sao cản nổi sự ngạc nhiên. Không một viên đạn nào được bắn ra, cũng không có tiếng kêu la hay cảnh báo nào mãi cho đến khi hơn hai chục người bọn họ bị cắt nát ra thành từng mảnh.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh khiến anh tròn xoe mắt vì ngạc nhiên.
Sẽ còn xảy ra chuyện gì nữa đây ?
Mặt anh bỗng tái tím khi anh nghĩ đến trường hợp đám người của quân đội sẽ để xổng con quái vào thành phố.
“Sammie…”
Anh nghe thấy giọng Johanna thều thào. Như một phản xạ, anh cầm ngay cái remote lên vào chuyển kênh. Sẽ tốt hơn nếu nàng không biết, anh nghĩ, trong khi khuôn mặt đẫm mồ hôi của anh vẫn chưa khỏi bàng hoàng sau khi chứng kiến sự kiện kinh thiên động địa ấy.
“Sao vậy, cưng ?”
“Em…em không ngủ được.”
“Ôi…anh xin lỗi. Anh quên không chỉnh lại âm lượng cho vô tuyến.”
“Không phải chuyện đó.”
“Vậy…là cái gì ?”
Đến lúc này anh mới thấy những giọt mồ hôi đang lăn trên khuôn mặt xanh xao của nàng. Lẽ nào nàng biết ?
“Em có linh cảm không lành…” Nàng nói, tránh né ánh mắt của anh.
“Nào, em lại lo xa rồi. Lại là chuyện đó phải không ?
Anh đã nói rồi, tình hình không quá tệ như em nghĩ đâu. Thật ra thì, một người bạn vừa gọi điện cho anh và báo rằng quân đội đã rời khỏi đây, và rằng nhà chức trách đã hứa là sẽ công bố những thông tin liên quan sớm nhất có thể. Chẳng có gì phải lo cả !”
Anh cố gắng trấn an nàng bằng những câu chuyện bịa đặt.
Bỗng, nàng đưa mắt nhìn thẳng vào anh. Và trong thoáng chốc anh thấy nàng nuốt nước miếng. Động tác người ta thường làm khi sắp tuồn ra mọi suy nghĩ giấu trong lòng..
“Đừng dối em, Sammie. Em đã thấy tất cả rồi.”
“S…sao cơ ?”
“Đúng vậy. Em đã nấp sau rèm cửa và lén xem bản tin ấy.
Em biết, anh không ra đường để dò hỏi, không xem tin tức trên vô tuyến, cũng không lên mạng để cập nhật những bài báo mới. Tất cả là vì anh không muốn vợ con biết những chuyện khủng khiếp như vậy. Nhưng anh yêu, mọi chuyện đã đi quá xa rồi. Cái thứ kia đang cố gắng thoát khỏi sân bay, và chắc chắn không chỉ có mình nó. Anh cũng thấy cái cách mà nó tàn sát những thủy quân lục chiến rồi đấy !
Cưng à, hãy nghe em đi ! Chúng ta cần phải di tản. Phải rời khỏi Philadelphia ngay khi còn có thể ! Hãy nghĩ cho Katie !”
Dưới ánh mắt kiên định của nàng, Sam ngồi đó trên sôfa, câm nín.
Thình lình, tiếng nện thùm thụp ngoài cửa khiến cả hai giật bắn.
“Chờ anh một chút.” Anh nói, rồi tiến đến, đặt tay lên chốt vặn của cánh cửa.
“Ai ?” Anh quát lên đe dọa bằng một giọng cộc cằn.
Không ai trả lời, tiếng nện cũng ngưng bặt. Để đề phòng, anh với tay lấy cây gậy gỗ dựng cạnh kệ để dép. Từng giây trôi qua trong tĩnh lặng. Anh co các ngón tay lại, nắm chặt chốt vặn rồi từ từ xoay nó.
Ngay lúc cánh cửa mở được một nửa, anh nghe thấy tiếng thét kinh hãi của Johanna.
[/spoil]