Lịch sử bóng đá !!!

Thảo luận trong 'Thể thao' bắt đầu bởi neverback, 2/9/04.

  1. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    Tóm tắt lịch sử môn bóng đá
    chúng ta nói thêm một chút về bóng đá nha
    Theo những nhà nghiên cứu bóng đá trên thế giới khẳng định bóng đá đã có lịch sử hình thành từ lâu đời và được chia ra làm 4 thời kỳ:

    Thời trước công nguyên và công nguyên
    Nhằm mục đích phát triển các khả năng vận động để duy trì sự sống và xuất phát từ nhu cầu giải trí văn hoá, con người đã biết tổ chức các trò chơi có hình thức gần với môn bóng đá sau này, sử dụng các vật thể có hình dáng thô sơ (tròn hoặc dẹt), bằng nhiều loại nguyên liệu (quả bưởi, cuộn rơm, búi cỏ được bọc bằng da hay bong bóng bò).

    Thời kỳ công nguyên đến thế kỷ 19
    Lịch sử cũng ghi nhận nhiều trò chơi có những điểm tương đồng với môn bóng đá. Hoàng đế La Mã Jules César có cho phép và đã cổ vũ hai làng chơi tranh nhau một quả bóng mang vào một đích. Bên nào thực hiện được nhiều hơn bên đó thắng, bên thua bị đòn. ở Italia thế kỷ thứ 17 môn chơi này phát triển ở thành phố Florence và ở Pháp môn này cũng phổ biến. Người Pháp gọi nó là soule còn ở Italia là calcio. Ngày nay ở Italia người ta vẫn còn gọi bóng đá là Calcio.

    Thời kỳ mới
    Thế kỷ 19 với tất cả những chuyển biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã nảy sinh và phát triển nhiều hoạt động văn hoá.
    Đã có một nhà nghiên cứu lịch sử bóng đá châu Âu khẳng định về lịch sử bóng đá rằng: Bóng đá là con đẻ của cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất là kế tục bóng dáng của những cuộc chơi thời tiến sử, tiếp tục triển khai sáng tại các môn Soule, Calcio... bóng đá đã tái sinh, tự lập và sáng tạo ở ngoại ô Luân Đôn, tại xóm công nhân công nghiệp và những trường trung học ở Luân Đôn.

    Sau nước Anh một thời gian, các nước châu Âu như Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha lần lượt xuất hiện bóng đá.
    Các mốc lịch sử phát triển bóng đá hiện đại:
    Ngày 26/10/1963, trong một cuộc chơi tại trường trung học Rugby, hai đội đang chơi thì có một cầu thủ mang bóng bằng tay chạy vào cầu môn và làm nổ ra một cuộc tranh cãi. Người ta đi đến quyết định rằng phải chơi bóng bằng chân, được phép dùng đầu, thân người, trừ tay (kể cả thủ môn). Cũng trong buổi chiều đó, hội bóng đá được thành lập và nó đã tồn tại ở nước Anh từ đó cho đến nay.

    1886: Cầu thủ không bị phạt việt vị nếu có ba cầu thủ đối phương xuất hiện gần sát khung thành của họ hơn so với anh ta.

    1871: Thời gian trận đấu thu lại trong 1,5 tiếng đồng hồ. Thủ môn được phép bắt bóng bằng tay, nhưng chỉ trong khu vực của khung thành.
    1872: Xuất hiện phạt góc

    1877: Không có việt vị nếu bóng từ chân cầu thủ đối phương bay đến.

    1878: Trọng tài ra sân bóng có còi. Trước kia trọng tài cùng với các trọng tài phụ chỉ được phép đứng ngoài sân bóng để giải quyết những tranh cãi của các cầu thủ khi họ yêu cầu

    1882: Thời gian trận đấu được chia làm hai hiệp, có nghỉ giải lao. Sau nghỉ, hai đội đổi sân.

    1891: Phía sau khung thành có lưới

    1892: Xuật hiện luật phạt penalty 11 m.

    Người phát minh ra quả phạt penalty là một người Ailen tên là Rid. Lúc đầu quả phạt này được sút từ bất cứ góc nào miễn là với khoảng cách đến khung thành là 11m. Sau đó quy định: Thủ môn không được đứng gần bóng ở khoảng cách dưới 5,5m.

    1903: khi khu vực 16m50 được quy định thì xuất hiện chấm phạt 11 m, không được xê xích.

    1923: xuất hiện đường vạch tròn phía sau khu vực 16m50 bắt buộc các cầu thủ phải đứng ở đó khi thực hiện quả phạt.

    1929: quy định thủ thành trong quả đá phạt penalty phải đứng trên đường vạch cầu môn. Sau đó ít lâu lại quy định: quả penalty có thể được thực hiện trên bất cứ điểm nào thuộc khu vực 16m50.

    1894: Thủ môn được phép dùng tay trong khu vực 16m50.

    1900: Trọng tài được phép ra sân để điều khiển trận đấu.

    1903: Luạt quy định quả phạt trực tiếp được thực hiện bằng quả sút thẳng vào khung thành của đối phương.

    1907: xuất hiện phạt việt vị chỉ xảy ra ở phía sân của đối phương.

    1909: Thủ thành buộc phải mặc trang phục khác màu với các cầu thủ đồng đội.

    1913: Các cầu thủ của đội bóng đang trong tình thế phòng ngự phải đứng cách bóng 9m khi đá phạt trực tiếp hoặc đá phạt tự do.

    1923: Quả sút phạt góc trực tiếp rót thẳng vào cầu môn được tính.

    1935: Không bị phạt việt vị nếu trước cầu thủ tiền đạo không phải là ba, mà là hai cầu thủ phòng ngự (kể cả thủ thành).

    1939: Trên những chiếc áo cầu thủ có đeo số.
    bạn nào biết thêm thì tiếp tục
     
  2. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    TOP 100 CẦU THỦ CỦA PELE

    Alan Shearer England
    Alessandro Del Piero Italy
    Alesandro Nesta Italy
    Alfredo Di Stefano Argentina & Spain
    Andrei Shevchenko Ukrane
    Bobby Charlton England
    Cafu Brazil
    Carlos Alberto Brazil
    Carlos Valderamma Columbia
    Christian Vieri Italy
    Clarence Seedorf Holland
    Daniel Passarella Argentina
    David Beckham England (MU-REAL)
    David Trezeguet France
    Davor Suker Croatia
    Denis Bergkamp Holland
    Didier Deschamps France
    Diego Maradona Argentina
    Dino Zoff Italy
    Edgar Davids Holland
    El Hadji Diouf Senegal
    Emilio Butragueno Spain
    Emre Belozoglu Turkey
    Enzo Francescoli Uruguay
    Eric Cantona France (...MU)
    Eusebio Portugal
    Falcao Brazil
    Ferenc Puskas Hungary
    Francesco Totti Italy
    Franco Baresi Italy
    Frank Rijkaard Holland
    Franz Beckenbauer Germany
    Gabriel Batistuta Argentina
    Gary Lineker England
    George Best Northern Ireland (MU)
    George Weah Liberia
    Gerd Muller Germany
    Gheorge Hagi Romania
    Giancinto Facchetti Italy
    Gianluca Buffon Italy
    Gianni Rivera Italy
    Gordon Banks England
    Hernan Crespo Argentina
    Marc Vivien Foe Cameroon
    Hong Myung Bo South Korea
    Hristo Stoichkov Bulgaria
    Hugo Sanchez Mexico
    Javier Zanetti Argentina
    Jay-Jay Okocha Nigeria
    Jean-Pierre Papin France
    Jean-Marie Pfaff Belgium
    Jens Ceulemens Belgium
    Johan Neeskens Holland
    Johann Cruyff Holland
    Juan Sebastian Veron Argentina
    Jurgen Klinsmann Germany
    Karl-Heinz Rummenigge West Germany
    Kenny Dalglish Scotland
    Kevin Keegan England
    Laudrup brothers, Michael and Brian Denmark
    Lilian Thuram France
    Lothar Matthaeus Germany
    Luis Enrique Spain
    Luis Figo Portugal
    Marcel Desailly France
    Marco Van Basten Holland
    Mario Kempes Aregentia
    Michael Ballack Germany
    Michael Owen England
    Michel Platini France
    Oliver Kahn Germany
    Paolo Rossi Italy
    Paolo Maldini Italy
    Patrick Kluivert Holland
    Patrick Vieira France
    Paul Breitner Germany
    Pavel Nedved Czech Republic
    Peter Schmeichel Denmark
    Robert Pires France
    Raul Spain
    Resenbrink Van de Kerkhof Belgium
    Rivaldo Brazil
    Roberto Baggio Italy
    Roberto Carlos Brazil
    Roger Milla Cameroon
    Romario Brazil Ronaldinho Brazil
    Ronaldo Brazil
    Roy Keane Republic of Ireland (MU)
    Rui Costa Portugal
    Rustu Recber Turkey
    Ruud Gullit Holland
    Ruud Van Nistelrooy Holland (MU)
    Sepp Maier West Germany
    Socrates Brazil
    Teofilo Cubillas Peru
    Thierry Henry France
    Zblgniew Boniek Poland
    Zico Brazil
    Zinedine Zidane France
     
  3. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    7 linh vật của các kỳ Euro.
    [​IMG]
    Kinas - linh vật của EURO 2004.

    Kể từ khi VCK EURO, giải đấu được coi là World Cup vắng mặt Argentina và Brazil ra đời năm 1960 tại Pháp, rất nhiều những công việc, những ý tưởng được đưa ra để giải bóng đá lớn nhất lục địa được nâng lên một tầm cao mới. Linh vật, một trong những ý tưởng sáng tạo tuyệt vời nhằm mang lại nét đặc trưng cho một VCK và cũng để hiểu thêm về văn hoá của quốc gia đăng cai đã ra đời.
    Euro 2004, Bồ Đào Nha (Kinas)

    Việc lựa chọn linh vật cho VCK EURO lần này quả là điều khó. Cuối cùng, sau bao cân nhắc, Kinas ra đời. Người Bồ Đào Nha (BĐN) tin rằng, có một cậu bé mang tên Kinas được sinh ra ở một ngôi làng nhỏ hẻo lánh ở một vùng quê BĐN và có tài chơi bóng bẩm sinh. Trong con người chú hội tụ đầy đủ những tinh hoa bóng đá của quá khứ và hiện tại. Với Kinas, người ta có thể tìm thấy những tinh tuý của bóng đá BĐN từng hội tụ ở Osebio hay Luis Figo. Chú là đại diện cho tình yêu bóng đá mãnh liệt của người BĐN và cũng là biểu trưng cho sự may mắn. Kinas là linh vật thứ 7 trong lịch sử VCK EURO, chú mang chiếc áo màu cờ tổ quốc với số 04 (2004) trước ngực, những động tác với trái bóng của Kinas cũng thật khác biệt. Nếu như trước đây, các linh vật thường cầm bóng hoặc chơi bằng chân thì với Kinas, chú còn biết chơi bóng bằng đầu và nhiều động tác khác một cách thuần thục. Một hình ảnh ngộ nghĩnh và nhiều ý nghĩa. Hy vọng, không chỉ mang lại sự may mắn cho các đội bóng tham dự VCK, Kinas còn đem đến một mùa hè sôi động và bổ ích cho những fan hâm mộ bóng đá khắp hành tinh.
    [​IMG]
    Euro 2000, Bỉ - Hà Lan (Benelucky, Mistura De Lion Com Diabo)


    Lần đầu tiên trong lịch sử, một VCK EURO do hai quốc gia đồng đăng cai. Bỉ và Hà Lan - hai quốc gia, hai nền văn hoá khác biệt. Chọn linh vật chung cho VCK EURO 2000 là một việc chẳng dễ chút nào cho BTC. Đắn đo mãi, một linh vật mang ý nghĩa khá đặc trưng cho cả 2 nước đã ra đời. Đó chính là Benelucky, chú sư tử sống tận nơi núi rừng sâu thẳm ở biên giới giữa hai nước Bỉ, Hà Lan. Với đủ màu sắc mang trên mình, trông chú thật mạnh mẽ và tiềm ẩn sự huyền hoặc xen lẫn vui tươi. Ngoài ý nghĩa mang biểu tượng của tình đoàn kết, Benelucky còn là hiện thân của sự vui vẻ, cuồng nhiệt với niềm say mê với trái bóng.
    [​IMG]
    Euro 1996, Anh (Lion)


    Nhắc đến vương quốc Anh, ngoài cái tên xứ sở sương mù, không thể không nhắc tới hình ảnh những chú sư tử. Hoàng gia Anh coi sư tử như một biểu tượng của sức mạnh, sự thống trị và yếu tố mang lại may mắn không nằm ngoài quan niệm đó. Sư tử trở thành linh vật của nước chủ nhà VCK EURO ?96. Không phải ngẫu nhiên mà Sư tử Anh lại có thân hình to lớn đến vậy, 2 tay chống nạnh, bóng cắp một bên trông chú thật hiền nhưng cũng rất đỗi oai phong. Đôi mắt mở to nhìn xuống như để chứng tỏ cái uy của mình. Đây là VCK EURO đầu tiên tổ chức trên quê hương của bóng đá, Lion không hãnh diện sao được.
    [​IMG]
    Euro 1992, Thuỵ Điển (Coelho)


    Người Thuỵ Điển tỏ ra rất ngưỡng mộ Coelho và họ quyết định chọn chú thỏ này làm linh vật biểu trưng cho VCK. May mắn là điều mà Coelho luôn mang lại. Trước đó 4 năm, chú thỏ xám đã góp phần làm nên một VCK rất ý nghĩa và thành công. Với chiếc áo vàng, quần xanh (màu cờ Thụy Điển) Coelho của Thuỵ Điển khá giống với người anh em Đức của chú. Cũng dáng chạy khoẻ mạnh tràn đầy sức sống, đôi chân đá cao hào hứng, Coelho là một phần không thể thiếu khi nói về VCK tại Thuỵ Điển. Khi EURO ?92 kết thúc cũng là lúc chú thỏ Coelho tự bổ sung vào kho tàng chuyện kể về mình thêm một trang mới với bao điều đáng nhớ.
    [​IMG]
    Euro 1988, Tây Đức (Berni, Um Coelho)


    Với người Đức, Coelho là biểu tượng cho sự may mắn, thông minh, lanh lợi và vươn tới thành công. Chú thỏ xám Coelho được chọn làm linh vật VCK EURO 1988. Miệng cười rộng ngoác vui vẻ, hai tay vung cao với nhịp chạy mạnh mẽ, mắt dõi theo trái bóng đầy đam mê, Coelho làm cho VCK như sôi động hơn lên. Đâu đâu cũng thấy chú thỏ xám góp mặt. Không nghi ngờ gì nữa chú là một linh vật quá đẹp và ý nghĩa.
    [​IMG]
    Euro 1984, Pháp (Peno, Um Galo)


    Một chú gà trống chính hiệu vừa mang đậm phong cách của văn hoá Pháp, vừa mang ý nghĩa lịch sử. Chân đi đôi giày cỡ lớn, "tay" cắp quả bóng, một tay dang rộng đón chào. Chú gà trống Peno là linh vật thứ 2 trong lịch sử của VCK EURO. Đương nhiên, Pháp cũng đã chọn Peno như một biểu tượng của niềm hy vọng, sự may mắn và chiến thắng. Quả đúng như mong ước, với thắng lợi 2-0 trước Tây Ban Nha trong trận CK năm đó, ĐT Pháp đã đăng quang
    [​IMG]
    Euro 1980, Italia (Pinoquio)


    Tự hào là quốc gia đầu tiên đưa linh vật biểu trưng cho một VCK EURO, Italia đã lựa chọn hình tượng cậu bé Pinoquio (Pinochio). Một nhân vật bằng gỗ với chiếc mũi dài và cặp mắt to ngộ nghĩnh. Người ý quan niệm, Pinoquio sẽ mang lại may mắn cho tất cả mọi người bởi chú là hiện thân của những điều kỳ diệu, phi thường. Với hình ảnh cậu bé bằng gỗ được nhân cách hoá bằng nụ cười vui vẻ, một tay giữ trái bóng, Pinoquio trở thành biểu tượng đầu tiên đại diện cho một EURO thành công mỹ mãn.
     
  4. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    Tại sao các câu lạc bộ có cái đuôi ‘United’?

    ’United’ có nghĩa là các thành viên đều thống nhất tập hợp lại dưới một cái tên chung. Họ cùng vì một mục đích muốn phát triển cái tên chung đó. Ví dụ như, một số CLB ở Newcastle vào những năm 1880, bao gồm Newcasttle East End và Newcastle West End. Khi East End tiếp quản sân St James’ Park của West End năm 1892, họ mới quyết định là mang một cái tên chung cho tất cả các CĐV trong thành phố. Do vậy cái tên Newcastle United ra đời. Còn trong trường hợp khác, tuy không phải là chuyện sáp nhập hay chung tên thì cũng là hướng đến vì các CĐV của địa phương. Nổi tiếng nhất đó là CLB Newton Heath FC đã đổi tên thành Manchester United vào năm 1902.
    Một số các CLB khác cũng có tên ‘United’

    Central United FC, New Zealand
    West Ham United, Anh
    Arcadia United, Zimbabwe
    Ayr United, Scotland
    Ballymena United, Bắc Ireland
    Cambridge United, Anh
    Caps United, Zimbabwe
    Carlisle United, Anh
    Christchurch United, New Zealand
    Colchester United, Anh
    D.C. United, USA
    Drogheda United, CH Ireland
    Dundee United, Scotland
    Fontenoy United, Grenada
    Galway United, CH Ireland
    Geylang United, Singapore
    Gladstone United, Australia
    Gombe United, Nigeria
    Hartlepool United, Anh
    Hazard United, Jamaica
    Jasper United, Nigeria
    JEF United, Japan
    Kwara United, Nigeria
    Leeds United, Anh
    Leventis United, Nigeria
    Mathare United, Kenya
    MDC United, Malawi
    Newcastle United, Anh
    North Shore United, New Zealand
    Okwahu United, Ghana
    Oxford United, Anh
    Peterborough United, Anh
    Pettah United, Sri Lanka
    Plateau United, Nigeria
    Rotherham United, Anh
    Scunthorpe United, Anh
    Seba United, Jamaica
    Sheffield United, Anh
    Southend United, Anh
    St Michel United, Seychelles
    Sunrise Flacq United, Mauritius
    Supersport United, Nam Phi
    Suzuki Newtown United, St Kitts & Nevis
    Sydney United, Australia
    Torquay United, Anh
    Udoji United, Nigeria
    United Petrotin, Trinidad & Tobago

    Tại sao các câu lạc bộ có cái đuôi ‘City’

    Các CLB có đuôi ‘City’ đa số thuộc ở Anh, ‘City’ ở đây có lẽ mang ngữ cảnh là đại diện chính thức cho Thành phố đó. Về mặt lý thuyết bất kỳ một CLB nào cũng có thể gắn cho mình cái tên ‘United’ đằng sau. Tuy nhiên, không phải CLB nào trực thuộc thành phố đó đều gọi là ‘City‘. Chẳng hạn không có CLB nào có tên Glasgow City (scotland) hay Liverpool City (Anh).

    Một số CLB có tên ‘City’:

    London City, Canada
    Bristol City, Anh
    Manchester City, Anh
    Adelaide City, Australia
    Awassa City, Ethiopia
    Birmingham City, Anh
    Bradford City, Anh
    Brechin City, Scotland
    Cardiff City, Wales
    Chester City, Anh
    Cork City, CH Ireland
    Coventry City, Anh
    Derry City, CH Ireland
    Exeter City, Anh
    Hull City, Anh
    Leicester City, Anh
    Lincoln City, Anh
    Norwich City, Anh
    Stoke City, Anh
    Swansea City, Wales
    Waitakere City, New Zealand
    York City, Anh

    Các CLB có tên ‘Athletic’

    Các CLB này không có dính dáng gì đến điền kinh cả, chỉ mang tinh thần của môn thể thao đó mà thôi: nhanh hơn, xa hơn. Nhưng không phải cứ cótên mạnh mẽ như thế là thi đấu xuất sắc, bằng chứng là các CLB có tên này đều đang rất khốn đốn, chưa biết bao giờ mới lên hạng (trừ Charlton Athletic)
    Oldham Athletic, Anh thành lập năm 1895
    Forfar Athletic, Scotland thành lập năm 1881
    Athletic Club, TBN
    Charlton Athletic, Anh
    Cork Athletic, CH Ireland
    Djoliba Athletic, Mali
    Dunfermline Athletic, Scotland
    Lija Athletics, Malta
    St Patrick's Athletic, CH Ireland
    Wigan Athletic, Anh
    Hull City AFC, Anh


    Những CLB ngoài nước Anh có mang tên thuần Anh

    Một số CLB nổi tiếng TG được thành lập bởi sự góp đỡ của những người Anh sống và làm việc ở những quốc gia đó vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tên của CLB thường cho ta biết gốc gác, xuất xứ của CLB. Một số thì chỉ đơn giản là có ‘Made in England’

    AC Milan (1899)
    được thành lập bởi một người Anh, Alfred Edwards, do vậy tên của đội bóng thành Milano đã bị Anh hoá thành Assocazione Calcio Milan (tên nửa Ý, nửa Anh!).
    Tương tự như vậy, CLB lâu đời nhất Italia, Genoa được thành lập bởi người Anh năm 1893, mặc dù tên tiếng Ý của thành phô là Genova

    Athletic Club de Bilbao (1898)
    được thành lập bởi sự sát nhập của 2 CLB địa phương trong đó có thành viên người Anh, CLB xứ Basque (TBN) đã quyết định chọn tên ‘athletic’ thay vì tiếng TBN ‘athletico’

    River Plate
    CLB ”Dòng sông bạc” nổi tiếng của Buenos Aires, tên tiếng TBN là Rio de la Plata
    Ngay cả tên Boca Juniors cũng thuần Anh

    Red Star (1897)
    Đây là CLB lâu đời của Paris được thành lập bởi Jules Rimet (thành viên sáng lập FIFA)
    ’Sao đỏ’ hiện nay đang chơi ở giải hạng 3 của Pháp

    Corinthians (1910)
    CLB thuộc thành phố Sao Paolo, Brazil


    Màu sắc trong bóng đá
    Ở Tây Ban Nha, CLB được mệnh danh là ‘những người làm đệm’ vì áo thi đấu của họ có màu sọc đỏ trắng, giống màu của những chiếc đệm

    Aletico Madrid, TBN
    Là CLB được khán giả ủng hộ nhiều chỉ xếp thứ 2 sau Real, Aletico luôn luôn phải phấn đấu cật lực để vượt qua cái bóng khổng lồ của ‘Những chú kền kền trắng’. Aletico đang trong quá trình tìm lại ánh hào quang xưa. Họ đã từng 9 lần vô địch Tây Ban Nha và có ông chủ tịch nổi tiếng là ‘Điên khùng’ Gesus Gil

    Sunderland, Anh
    gần đây họ đã từ bỏ sân bóng đá cũ là Roker Park để chuyển đến sân The Light-một trong những SVĐ lớn nhất và đẹp nhất của bóng đá Anh


    Những CLB có sắc phục trắng-đỏ:

    Aalborg Boldspilklub af (1885), Đan Mạch
    Athletic Bilbao, TBN
    Brentford, Anh
    Cannes, Pháp
    Cheltenham Town, Anh
    Clyde, Scotland
    Crvena Zvevda, Nam Tư
    Exeter City, Anh
    Fortuna Dusseldorf, Đức
    1FC Koeln, Đức
    Lincoln City, Anh
    Olympiakos, Hy Lạp
    Royal Antwerp FC, Bỉ
    PSV, Hà Lan
    Sheffield United, Anh
    Southampton, Anh
    Sparta, Hà Lan
    Stoke City, Anh
    Tromso, Na Uy
    Vicenza, Italy

    Sọc trắng xanh
    Gần đây, các CLB của Anh thường chơi không thành công trong màu áo này. Vào mùa bóng 1999-2000, đội bóng cuối cùng mặc sắc phục sọc xanh trắng ở giải PL là Sheffield Wednesday, nhưng câu lạc bộ này đã xuống hạng. Tuy nhiên, không phải là màu áo này không đem lại may mắn như vậy. Deportivo La curona đã chứng tỏ điều đó bằng chức vô địch giải Prima Liga cũng mùa bóng 1999-2000.

    Argentina
    Nhắc tới màu áo này không thể không nhắc tới đội tuyển Argentina. Đội bóng đã từng 2 lần vô địch Thế giới và là lò sản sinh ra các thế hệ cầu thủ xuất sắc của bóng đá Thế giới. Năm 1978, trước 77000 người hâm mộ Mario Kempes và Bertino đã ghi hai bàn thắng vào lưới Hà Lan đem lại chức vô địch Thế giới cho đất nước ngay tại quê nhà – Buenos Aires. 8 năm sau, Argentina lặp lại chiến công tại Mexico 1986. Và cũng tử đó, Thế giới biết đến vị Chúa của Bóng đá – Maradona.


    Một số đội có sắc phục sọc Xanh-Trắng

    Brighton and Hove Albion, Anh
    Chester City, Anh
    Colchester United, Anh
    Coleraine FC Ai Len
    De Graafschap, Hà Lan
    Deportivo La Coruna, TBN
    Halifax Town, Anh
    Hartlepool United, Anh
    Hertha BSC, Đức
    HJK, Fần Lan
    Huddersfield Town, Anh
    IFK Goteborg, Thuỵ Điển
    Kilmarnock, Scotland
    Odense Boldklub, Đan Mạch
    Porto, BĐN
    Racing Club, Argentina
    Real Sociedad, TBN
    Sheffield Wednesday, Anh
    Slovan Bratislava, Slovakia
    West Bromwich Albion, Anh

    Màu xanh lá cây

    Trong bóng đá, có một luật bất thành văn là áo thi đấu của các cầu thủ, trọng tài, màu quả bóng và cả màu sân đấu phải được phân biệt một cách rõ ràng, để khán giả có thể tiện theo dõi. Do vậy, ở châu Âu, có ít các đội bóng có màu xanh lá cây vì giống với màu cỏ. Tuy nhiên, ở châu Phi màu xanh lá cây có vẻ phổ biến hơn. Theo các chuyên gia về màu sắc, màu xanh lá cây tượng trưng cho sự bền bỉ, gan lỳ, ngoan cường, bất khuất, rực rỡ, kiêu hãnh, tràn đầy sức mạnh.
    Mãi đến năm 1911, Burnley, CLB hạng nhất của Anh, là đội bóng đầu tiên thi đấu trong trang phục xanh lá cây! Họ quyết định mặc màu áo này để đối chọi với CLB Aston Villa (sắc phục: Đỏ Bordeaux-Xanh dương), sau khi có người nói màu xanh lá cây là màu không đem lại may mắn.


    Cameroon
    Một trong những đội bóng lớn nhất của châu Phi là đội tuyển Cameroon. Cameroon trở thành đội bóng đầu tiên của châu Phi có mặt ở vòng Tứ kết World Cup Italia’90. Họ đã đánh bại nhà đương kim vô địch Thế giới lúc đó là đội tuyển Argentina ở trận khai mạc giải.
    Ở các kỳ World Cup tiếp theo, Cameroon lọt được vào vòng chung kết nhưng thi đấu không thành công. Trong trận chung kết Cup vô địch châu Phi CAN 2000, những chú “Sư tử bất khuất” đã đánh bại những chú “Đại bàng” Nigeria, cũng là đội có trang phuc xanh lá cây

    Panathinaikos
    Panathinaikos được thành lập vào đầu thế kỷ 20 (1908) bởi một người Anh, nhưng mang một cái tên thuần Hy Lạp.
    Biểu tượng của CLB là hình một cái cây có 3 lá (shamrock-tôi cũng ko biết là cây zì) và màu đặc trưng dễ nhận thấy là bộ trang phục xanh lá cây của họ. Panathinaikos đoạt cả thay 18 danh hiệu các loại, đội cũng đã lọt vào trận Chung kết cúp châu Âu năm 1971. Thành công này đạt được nhờ sự dẫn dắt của danh thủ Puskas, ngôi sao của ĐT Hungary và CLB Real Madrid.

    Một số đội bóng có trang phục xanh lá cây:

    Đội tuyển Ai Len
    Đội tuyển Bắc Ai Len
    Đội tuyển Mexico
    Đội tuyển Belarus
    Colorado Rapids, Mỹ
    Ferencvaros, Hungary
    Glentoran FC, N. Ai Len
    Glostrup FK, Đan Mạch
    Hibernian, Scotland
    Legia Warsaw, Ba Lan
    Maccabi Haifa, Israel
    Northwich Victoria, Anh
    Plymouth Argyle, Anh
    Rapid Vienna, Áo
    Sociedade Esportiva Palmeiras, Brazil
    S.E. Palmeiras, Brazil
    St Etienne, Pháp
    Yeovil Town, Anh

    Màu trắng

    Màu trắng là màu biểu trưng cho cái chết và nỗi sợ hãi, băng tuyết và sự lạnh lẽo; là sự ngây thơ và tinh khiết. Nhưng, màu trắng cũng nhanh chóng bị nhuốm bẩn khi các đội thi đấu trong trời mưa, hay mùa đông.
    Màu trắng là màu còn có thể tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng, là màu nổi bật giữa đám đông bởi sự tương phản của nó. Màu trắng cũng rất được ưa thích ở những xứ sở nhiệt đới, bởi vì nó tán xạ nhiệt, giúp cho các cầu thủ cảm thấy mát hơn khi trời nóng.
    Vào thời kỳ sơ khai của bóng đá, vào giữa thế kỷ 19, màu trắng là màu phổ biến nhất trong việc lựa chọn trang phục thi đấu của các đội bóng. Hầu hết các chàng trai đều có ít nhất một chiếc áo thi đấu màu trắng.
    Một số đội có những biến tấu cho những chiếc áo trắng của mình. Ví dụ, để phân biệt với một đội bóng cùng thành phố cũng có áo thi đấu màu trắng, River Plate kẻ thêm một sọc chéo màu đỏ qua vai. Màu áo này còn được sử dụng cho tới tận bây giờ.
    Ở nước Anh, những năm 70, việc ra sân với màu áo trắng đối với các đội khách là một sự khó khăn. Đơn giản bởi đội chủ nhà đã chiếm nó trước rồi.
    Vào năm 1961, khi Don Revie lên nắm chức chủ tịch CLB Leed United, ông liền thay màu hiện tại (xanh-vàng) bằng bộ trang phục toàn màu trắng giống như Real Madrid (hồi đó Real Madrid đang làm mưa làm gió trên đấu trường châu Âu) với mong muốn đội bóng sẽ hấp dẫn & hiện đại hơn như là Real!

    Leeds United
    Vào những năm 70, Leeds là một trong số những CLB hàng đầu của nước Anh, đoạt cúp UEFA năm 1971, cúp FA năm 1972 và cúp Liên đoàn 1974-1974.
    Trong suốt những năm 90, đội hình thi đấu của Leeds toàn những cầu thủ trẻ do một HLV cũng còn rất trẻ là David O’Leary. Lối chơi tấn công giúp họ đạt được một số thành công (Vô địch PL 1992) và dự cúp C1 mùa bóng 2000-01.

    Real Madrid, TBN
    Có thể nói gì về CLB xuất sắc nhất trong thế kỷ 20?
    Đến năm 2000, Real đã giành tổng cộng 27 lần chức vô địch Prima Liga và cúp Châu Âu (bây giờ gọi là cúp của Những nhà vô địch-C1). Real cũng là CLB giành nhiều cúp C1 nhất, là bá chủ châu Âu những năm 50 (5 năm liền). Real có thể lại là CLB xuất sắc nhất thế kỷ tới? Hiện tại đội hình của ‘Những chú kền kền trắng’ gồm toàn các siêu sao thế giới (“6 giải thiên hà”) mà các CLB muốn có chỉ trong mơ.
    Màu áo thi đấu của họ cũng đã quá nổi tiếng với các CĐV. Mùa bóng 1999-2000, họ đã bán được 700.000 chiếc áo đấu!

    Một số đội bóng có trang phục màu trắng

    Đội tuyển Anh
    Đội tuyển Mỹ
    Đội tuyển New Zealand
    Airdrieonians, Scotland
    Auxerre, Pháp
    Ayr United, Scotland
    Bolton Wanderers, Anh
    Borussia Mönchengladbach, Đức
    Bury, Anh
    Clyde, Scotland
    Derby County, Anh
    Dumbarton, Scotland
    Dynamo Kiev, Ukraine
    FC Copenhagen (FC København), Đan Mạch
    FC Hajduk Split Croatia
    Fulham, Anh
    IFK Norrkoping, Thụy Điển
    Iona FC, Ai Len
    Port Vale, Anh
    Preston North End, Anh
    Santos FC, Brazil
    Swansea City, xứ Wales
    Tottenham Hotspur, Anh
    Tranmere Rovers, Anh
    Valencia, TBN
    Vancouver Whitecaps FC, Canada
    Hoàng Anh Gia Lai, Việt Nam

    Màu vàng


    Các chuyên gia về màu sắc cho rằng màu vàng tượng trưng cho sự vui vẻ, lạc quan, lộng lẫy, rực rỡ. Đội bóng nổi tiếng nhất có trang phục màu vàng dĩ nhiên là đội tuyển Brazil. Các CLB có trang phục màu vàng rất phổ biến ở Hà Lan và NaUy nhưng thật đáng ngạc nhiên, rất ít xuất hiện ở các giải đấu cao nhất của Áo, Anh, Hungary, Ai Len, Ý, TBN và Thuỵ Điển. Điều này có thể lí giải là bởi ở Tây Âu, người ta quan niệm rằng màu vàng đi cùng với sự nhút nhát. Thật khó tin là trong lịch sử của giải hạng nhất hay Premier League, chưa từng có CLB nào bước lên bục cao nhất trong trang phục màu vàng! (trừ Wolverhampton Wanderers với trang phục màu vàng kim).




    Romania đã tham gia 7 kỳ World Cup và 3 kỳ Euro, nhưng thành tích lớn nhất mà họ đạt được là lọt vào vòng Tứ kết World Cup ’94 tại Mỹ.
    Các cầu thủ Rumani nổi tiếng về kỹ thuật tuyệt vời, với hầu hết các tuyển thủ quốc gia đang thi đấu tại nước ngoài. (các nước Đông Âu thường sản sinh ra những nhạc trưởng tài ba và giàu kỹ thuật )
    Có lẽ cầu thủ nổi tiếng nhất của Rumani là Georghi Hagi, cầu thủ được mệnh danh là ‘Maradona của vùng Carpat’. Hagi đã từ giã sự nghiệp quốc tế sau Euro 2000 với thành tích 113 lần khoác áo đội tuyển Quốc gia.


    Một số đội bóng trong trang phục màu vàng

    ĐTQG Brazil
    ĐTQG Litva
    ĐTQG Thuỵ Điển
    AEK Athens, Hy Lạp
    Albion Rovers, Scotland
    Alloa Athletic, Scotland
    Al Wasl, UAE
    Barnet, Anh
    Borussia Dortmund, Đức
    Brondby, Đan Mạch
    Cambridge United, Anh
    ChievoVerona, Ý
    Coloumbus Crew, Mỹ
    East Fife, Scotland
    Fenerbahce, TNK
    Galatasaray, TNK
    Las Palmas, TBN
    Livingston FC, Estonia
    Luton, Anh
    Maccbi-Natanya, Israel
    Mansfield, Anh
    Nantes, Pháp
    Oxford United, Anh
    Sport Clube Beira Mar, BĐN
    Sutton United, Anh
    Torquay United, Anh
    Villarreal FC, TBN
    Watford, Anh
    Young Boys, Thuỵ Sỹ
    Norwich City, Anh

    Trong thế giới bóng đá có rất nhiều điều tưởng như nhỏ nhặt nhưng rất thú vị, ví như hai cái tên Athletic Bilbao và Aletico Madrid cùng của Tây Ban Nha mà đã thấy khác nhau rồi, hay xuất xứ các CLB, mối duyên nợ giữa các đội bóng…. nói chung là tất cả những gì liên quan đến bóng đá mà chúng ta có thể chưa biết. Do vậy chúng tôi muốn mở mục này mong mọi người đóng góp nhiều câu chuyện, chi tiết thú vị xung quanh trái bóng tròn.
    Đồng thời đây có thể là nơi để ta có thể hỏi những điều chưa biết mà muốn biết hay muốn biết mà chưa biết (chắc chắn không fải là luật BĐ hay những điều tương tự như vậy),

    Bóng đá và chim có liên hệ gì với nhau không các bạn. Các bạn có thể cho rằng: thật vớ vẩn, chim thì có dính dáng gì đến bóng đá. Thế mà có đấy!
    Một số đội bóng ở Giải PL có những hình con chim trên huy hiệu hay logo của mình và biệt danh của các đội bóng cũng xuất phát từ đó mà ra.

    Gà bantam: Bradford City, Anh

    Chim sơn ca: Cardiff City, xứ Wales
    Barrow AFC, Anh

    Chim hoàng yến: Norwich City, Anh
    FC Nantes, Pháp

    Đại bàng đen: Bestika, TNK

    Đại bàng: Crystal Palace, Anh

    Chim ác là:Newcastle United, Anh
    Notts County, Anh

    Con cú: Sheffield Wednesday, Anh (đây là ngoại lệ vì sân của SW nằm trong quận Owlerton của Sheffield)

    Chim cổ đỏ: Bristol City, Anh
    Swindon Town, Anh

    Muông biển: Brighton & Hove Albion, Anh

    Thiên nga: Swansea City, xứ Wales

    Chim hoàng yến vàng: Fenerbache SK Istanbul, TNK





    Own Goal

    Bàn thắng phản lưới nhà đầu tiên ở một giải World Cup được thực hiện bởi cầu thủ Ernst Loertscher, Thuỵ Sĩ trong trận Đức-Scotland 9/6/1938
    Trong tổng số 17 lần World Cup từ Uruguay 1930 đến Korean-Japan 2002, đã có tổng cộng tất cả 1803 bàn thắng, và chỉ có 24 bàn phản lưới nhà. Bàn thắng ‘phản chủ’ gần đây nhất thuộc về cầu thủ Jeff Agoos (Mỹ) trong trận đấu với Bồ Đào Nha tại Suwon (WC 2002). Ở độ tuổi 34, Jeff Agoos mới có lần ra mắt đầu tiên ở Đội tuyển quốc gia sau khi bỏ lỡ 2 kỳ WC trước đó. Đây cũng là một trong những trận đấu thú vị nhất của giải WC lần thứ 17. Đội tuyển Mỹ đã gây bất ngờ cho khán giả khi dẫn trước BĐN 3-0 ngay trong 30’ đầu tiên của trận đấu, trong 3 bàn thắng đó có bàn phản lưới nhà của hậu vệ Jorge Costa (BĐN). Để như ‘đáp lễ’ đối với Costa, Agoos đã làm thủ môn Brad Fridel trở tay không kịp khi cẩu thả phá bóng trong khu cấm địa rút ngắn khoảng cách xuống còn 2-3 cho BĐN. Nếu để nói về ‘chuyên gia’ phản lưới nhà không thể không nhắc đến Travor Sinclair (Leicester). Là một hậu vệ, anh rất tích cực lên tham gia tấn công và ghi được không ít bàn thắng quan trọng cho đội, nhưng hình như cứ sau mỗi lần ghi bàn anh lại ‘đổ xuống sông, xuống biển’ bằng cái cách chẳng ai muốn. Trong những tình huống quyết định trong trận đấu với Boro, Everton (2002), hay với các đội Arsenal và Chelsea (1999) … anh đều là kẻ tội đồ của đội bóng.

    Kỷ lục về số bàn thắng phản lưới nhà trong một trận đấu (không chính thức) đã thuộc về đội bóng Stade Olympique L’Emyrne (SOE) trong một trận đấu thuộc giải vô địch quốc gia đảo Toamasina. Để phản đối các quyết định của trọng tài, họ đã liên tục đốt lưới nhà 149 lần, tương đương với 49 cú hattrick, tốc độ ghi bàn 1bàn/36,2 giây. có nghĩa là cứ vừa đặt giao bóng xong họ gần như ngay lập tức đá bóng về phía cầu môn của mình, còn thủ môn của đội thì đứng dựa khung thành ngắm trời đất và sốt sắng … đưa bóng vào cuộc. Ngay ngày hôm sau, Bộ trưởng Thể thao của Madagascar quyết định giải tán Liên đoàn bóng đá luôn. Có lẽ vì siêu tiêu cực như vậy nên Guiness đã không công nhận ‘kỷ lục’ này.
    Một kỷ lục khác không kém thú vị thuộc về Chrish Nicholl (Aston Villa) khi anh là nhân vật chính khi ghi cả … 4 bàn thắng trong trận hòa 2-2 với Leicester!

    Bàn thắng ‘đốt lưới nhà’ nổi tiếng nhất, được nhiều người biết đến nhất có lẽ thuộc về Escobar. World Cup 94, tháng 6 trên SVĐ Pasadena Rose Bowl chật cứng 93000 khán giả, Escobar ghi bàn thắng nhưng không phải vào lưới đội Mỹ mà là vào đội nhà Colombia. Không ai ngờ, kể cả Escobar lại tưởng tượng được rằng bàn thắng đó lại có giá đắt đến như vậy. ‘Thật nhục nhã!’ đó là những cái tít của báo chí Colombia đăng tải sau trận đấu với người … láng giềng Mỹ. Sau khi WC kết thúc Escobar trở về Meddelin, một thành phố chỉ có 2 triệu dân nhưng lại có đến … 7000 vụ giết người mỗi năm!
    2/7 – 11 ngày sau, Escobar ngồi trong một hộp đêm gần nhà của anh, một nhóm gã ‘gay’, trong đó có anh em nhà Gallon khét tiếng, đã phỉ báng Escobar vì lỗi ngớ ngẩn trên, cuộc cãi vã xô xát diễn ra. 6 phát súng nhằm vào Escobar kèm theo nhứng lời nguyền rủa ‘Own goal! Own goal!’ từ băng nhóm tội phạm này. Đó là một trong những đỉnh điểm của bi kịch khi một cầu thủ chẳng may đá phản lưới nhà. Hàng vạn người đã tham dự lễ tang của anh và yêu cầu công lý. Bạn của Escobar, Galeano và anh trai Santiago cùng từ bỏ bóng đá ngay sau cái chết thương tâm này. Thật đáng sợ khi phải sống ở đất nước có tỉ lệ tội phạm cao nhất thế giới, người ta nói ở Colombia có 2 điều đáng để biết đến đó là: Valderama & ma túy. Thật trớ trêu, thế giới tội phạm ở Colombia nhúng tay khá sâu vào bóng đá của nước này & với số vũ khí bất hợp pháp, người dân Colombia có thể dùng thay… dĩa để ăn tối. Một tên giết người sẵn sàng hành động chỉ với giá thuê có … 10$.

    Trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình Pele đã ghi tổng cộng hơn 1200 bàn thắng nhưng thật đáng ngạc nhiên là Pele chưa một lần phải ghi bàn thắng ngược như vậy. Có lẽ nhiệm vụ của Pele không phải là quanh quẩn trong khu cấm địa để bảo vệ đội nhà mà chỉ đơn giản là săn bàn thắng.
    ‘Kaiser’ Franz Beckenbauer cũng đã từng đốt cháy lưới nhà bằng đầu trong trận đấu giữa Cosmos và America thuộc giải đấu Soccer League.
    Thủ môn Zubizarretta, một tượng đài trong làng bóng đá TBN, được nhớ tới không chỉ bởi là người đang giữ kỷ lục 126 lần khoác áo ĐTQG, hơn 600 trận thi đấu trong giải La Liga mà còn bởi pha bắt bóng ngớ ngẩn của anh tại giải France ’98 ‘góp phần’ giúp TBN phải xách vali sớm về nước. Tiếp nối truyền thống, gần đây nhiều thủ môn hàng đầu cũng là đối tượng để mọi người chê cười như F.Bathez, D.Seaman, O.Kahn…

    Ở Việt Nam thì sao? Tại Tiger Cup ’98, để tránh đội chủ nhà Việt Nam (Việt Nam nhì bảng A) tại bán kết, 2 đội Indonesia và Thái Lan trong trận cuối cùng của vòng đấu bảng đã thi đấu vật vờ ‘tranh nhau’ thua nhường đối phương vị trí nhất bảng B. Indonesia cao tay hơn khi hậu vệ của họ vào phút cuối đã đá phản lưới nhà để tự thua kèm theo đó là thái độ vui vẻ đáng ngạc nhiên! Rốt cục cả 2 đội đều thua trong trận bán kết và bị phạt 40000$. Thủ môn đội Indonesia và hậu vệ Effendi bị cấm thi đấu suốt đời. Đây là một vết đen của bóng đá Đông Nam Á do căn bệnh thành tích.
     
  5. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    Bản danh sách của Pele: Chưa thuyết phục!



    Vua bóng đá Brazil vừa thay mặt FIFA đưa ra một danh sách gồm 125 cầu thủ xuất sắc nhất thế giới còn sống. Xứ sở Samba đóng góp nhiều cầu thủ nhất (15 người), tiếp đến là Pháp và Italia (14 người). Tuy nhiên, bản danh sách này đã vấp phải khá nhiều chỉ trích từ làng bóng đá thế giới.
    Brazil, nước đang có số lần vô địch thế giới nhiều nhất (5 lần) có đến 15 người đứng trong danh sách của Pele, tất nhiên là có cả tên ông. Trong số 15 người này, có những cầu thủ từ những năm 50, 60 như Pele, Nilton Santos. Lùi về một chút có Carlos Alberto, cầu thủ có cú sút ''tên lửa'' trong trận chung kết World Cup 1970 (Brazil thắng Italia 4-1) hay ''Con báo'' Rivelino, nổi danh với cú sút phạt ''Lá vàng rơi''. Đại diện của thập kỷ 80 là những tên tuổi như Falcao, Socrates, Zico. Các cầu thủ đang thi đấu gồm: Ronaldo, Rivaldo, Ronaldinho, Cafu, Roberto Carlos và Romario. Tất nhiên, do yêu cầu của FIFA là chỉ chọn lựa những tên tuổi còn sống nên danh sách này thiếu khá nhiều cầu thủ lừng danh của bóng đá xứ sở Samba như Garrincha hay Leonidas.

    Tiếp sau Brazil, Pháp và Italia là 2 nước có đông đại diện nhất trong ''danh sách Pele''. Những cái tên tiêu biểu của Italia, 3 lần VĐTG, có Roberto Baggio, Franco Baresi, Gianni Rivera, Paolo Maldini, Dino Zoff... Gần một nửa trong số 14 cầu thủ Italia hiện còn thi đấu (Gianluca Buffon, Paolo Maldini, Alessandro Del Piero, Alessandro Nesta, Francesco Totti và Christian Vieri). Tuy nhiên, báo chí Italia thất vọng khi trong danh sách này không có Sandro Mazzola. Trong 14 cầu thủ Pháp, chỉ có 2 tên tuổi của những năm 50, 60 là Just Fontaine, người đang giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được tại 1 VCK World Cup (13 bàn) và Raymond Kopa, cầu thủ Pháp đầu tiên đoạt Quả bóng vàng châu Âu. Đại diện cho thập kỷ 80 là Michel Platini, cầu thủ vĩ đại nhất của bóng đá Pháp, và ''Viên ngọc đen'' Marius Tresor. Đầu những năm 90 có Jean Pierre Papin, Quả bóng vàng châu Âu 1991, Eric Cantona, cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử Manchester United và Didier Deschamps, thủ quân Pháp vô địch World Cup 1998 và Euro 2000. Đông nhất vẫn là các cầu thủ thuộc ''thế hệ Zidane'', những người đang thi đấu toả sáng, gồm: Zidane, Henry, Trezeguet, Patrick Vieira, Robert Pires, Lilian Thuram và Marcel Desailly. Theo Pele, Zidane, Trezeguet, Henry là những người mà ông cảm thấy ''hài lòng nhất'' khi đưa vào danh sách.
    Thật khó hiểu khi Pele không đưa Bobby Moore vào danh sách.
    Láng giềng và là kình địch của Brazil ở Nam Mỹ, Argentina cũng góp mặt 10 cầu thủ, dĩ nhiên là không thể thiếu ''Cậu bé vàng'' Diego Maradona. Thập kỷ 60 có thiên tài Alfredo Di Stefano và Omar Sivori, thần tượng của Juventus; thập kỷ 70 có Mario Kempes, Vua phá lưới của World Cup 1978. Đại diện của thập kỷ 80 là Diego Maradona, cầu thủ vĩ đại nhất Argentina và Daniel Passarella. Những năm 90 và hiện tại có Gabriel Batistuta, Hernan Crespo, Juan Veron, Javier Saviola và Javier Zanetti. Sự lựa chọn Saviola, và Javier Zanetti gây ra khá nhiều tranh cãi bởi với nhiều người, đây chỉ là những cầu thủ ''trung bình khá'', chưa thể so sánh với Claudio Caniggia, Jorge Valdano hay Oscar Ruggeri.

    Đức, quốc gia chỉ xếp sau Brazil về thành tích tại các kỳ World Cup, được Pele chọn 10 cầu thủ. Đứng đầu danh sách là ''Hoàng đế'' Franz Beckenbauer, người duy nhất cho đến nay đoạt chức VĐTG trên cương vị cầu thủ và HLV trưởng. Thập niên 60, 70 còn có Uwe Seeler, Gerd Mueller và muộn hơn một chút là Paul Breitner. Thập kỷ 80 có Sepp Maier, Karl - Heinz Rummenigge. Tiếp đến là Lothar Matthaus, Juergen Klinsmann của những năm 90. Chỉ có 2 cầu thủ hiện còn đang thi đấu là Michael Ballack và Oliver Kahn. Dĩ nhiên, người Đức cũng không thể hài lòng khi danh sách này vắng mặt Mathias Sammer, Quả bóng vàng châu Âu 1996, người được coi là libero xuất sắc nhất của Đức, sau Beckenbauer.


    Một cầu thủ như Seedorf (trái) mà cũng được lựa chọn.
    Đảo quốc sương mù Anh có 7 cầu thủ (Gordon Banks, David Beckham, Bobby Charlton, Kevin Keegan, Gary Lineker, Michael Owen, Alan Shearer) nhưng lại không có mặt Bobby Moore, trung vệ được coi là xuất sắc nhất lịch sử bóng đá Anh, và Geoff Hurst, cầu thủ duy nhất cho đến nay lập hat-trick trong một trận chung kết World Cup (1966). ''Cơn lốc màu da cam'' Hà Lan có đến 13 người được chọn, đứng đầu là ''Thánh'' Johan Cruyyf, Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu thế kỷ 20 của UEFA. Bên cạnh đó là bộ ba Gu - Ba - Ri (Van Basten, Gullit, Rijkaard), ''Johan đệ nhị'' Neeskens, Rob Rensenbrink và cả Van Nistelrooy. Bất ngờ nhất là sự có mặt của Clarence Seedorf, ít hơn một chút là Edgar Davids, Patrick Kluivert trong khi Ruud Krol hay Ronald Koeman lại vắng bóng.

    Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có mỗi nước 3 đại diện: Butragueno, Raul, Luis Enrique (Tây Ban Nha); Eusebio, Figo, Rui Costa (Bồ Đào Nha). Bóng đá Đông Âu khá thiệt thòi khi Pele chỉ chọn mỗi nước 1 cầu thủ, nhiều nhất là CH Czech cũng chỉ có 2 (Masopust, Nedved). Các nước khác chỉ có 1, gồm: Rinat Dassaev (Nga), Andriy Shevchenko (Ukraina); Davor Suker (Croatia); Stoichkov (Bulgaria); Georghe Hagi (Rumania); Ferenc Puskas (Hungaria); Boniek (Ba Lan). Serbia&Montenegro, quốc gia sản sinh ra nhiều tài năng bóng đá, thậm chí không có đại diện nào.


    Cha Bum kun (phải) xứng đáng hơn Hong Myong-bo.
    Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Hàn Quốc có đại diện trong ''danh sách của Pele''. Nếu như đại diện của Nhật Bản là Hidetoshi Nakata nhận được sự tán đồng cao thì việc Hong Myung Bo vượt qua Cha Bum Kun để đại diện cho Hàn Quốc gây ra khá nhiều tranh cãi. Trong cuộc bầu chọn của AFC năm 2000, Cha Bum Kun đã được bầu là cầu thủ châu Á xuất sắc nhất thế kỷ 20. FIFA giải thích gượng gạo là họ phải ưu tiên tiêu chí chọn cầu thủ đang thi đấu. Châu Phi cũng chỉ có 5 cầu thủ lọt vào ''mắt xanh'' của Pele, gồm: Roger Mila (Cameroon), Abedi Pele (Ghana), George Weah (Liberia), Jay Jay Okocha (Nigieria) và El Hadji Diouf (Senegal). Sự có mặt của El Hadji Diouf là kém thuyết phục nhất khi mà cầu thủ này thậm chí chưa có chân trong đội hình chính của Liverpool và thua xa những tên tuổi như Badou Zaki (Maroc) hay Hossam Hossan (Ai Cập).

    Đáng chú ý trong danh sách 125 cầu thủ do Pele đưa ra có 2 nữ cầu thủ, đều đến từ Mỹ, là Michelle Akers Star và Mia Hamm. Đây cũng là 2 trong số những cầu thủ nữ xuất sắc nhất trong cuộc bầu chọn cuối thế kỷ 20 của FIFA và đóng góp rất lớn vào sự phát triển của bóng đá nữ. Bản danh sách trên của Pele có thể chưa phải là danh sách cuối cùng bởi Vua bóng đá chọn đến 125 cầu thủ trong khi FIFA chỉ yêu cầu có 100, đúng bằng số năm tồn tại của tổ chức này. Ngoài ra, danh sách còn phải đáp ứng yêu cầu, 50 cầu thủ còn đang thi đấu và 50 giải nghệ.
    Tuy nhiên, ngay từ thời điểm này, ''bản danh sách của Pele'' đã gây nên phản ứng khá tiêu cực từ nhiều phía. Enzo Scifo, cầu thủ xuất sắc nhất bóng đá Bỉ thập niên 90, đánh giá bản danh sách quá ''ngoại giao''. Làn sóng chỉ trích Pele còn nặng nề hơn tại quê hương Brazil khi hôm thứ 4, tờ Folha de Sao Paolo cho đăng một bản ''nháp'' danh sách 100, trong đó chỉ có 12 cầu thủ Brazil và không có tên của Jairzinho, Gerson hay Tostao. Pele ngay sau đó đã vội thêm vào danh sách tên của Rivelino và Nilton Santos, cầu thủ được mệnh danh là ''Bách khoa thư'' về bóng đá. Dù vậy, Vua bóng đá vẫn không thoát được những lời trách móc. ''Tất nhiên là Pele có thể chọn bất kỳ ai mà ông ấy muốn. Nhưng thật chẳng hay ho gì khi bỏ quên những đồng đội đã giúp ông lên đến đỉnh cao'' - Gerson, người ghi bàn thứ hai trong trận CK World Cup 1970, lên tiếng. Cựu tiền vệ này còn gay gắt hơn: ''Nếu ông ta nghĩ lại và điền tên tôi vào danh sách thì tôi cũng không chấp nhận''. Ngay cả Mario Zagallo, người có tiếng là mềm mỏng, cũng tỏ ra phật ý: ''Tôi biết Pele là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới nhưng bản danh sách này cần phải xem lại''. Về phần mình, Rivelino, người mới được bổ sung, thì dửng dưng: ''Tôi chẳng thất vọng. Tôi biết giá trị của mình''.

    Phát biểu tại London , Pele thanh minh ''Tôi thậm chí có thể chọn 100 cầu thủ xuất sắc chỉ đến từ Brazil. Do đó, phải ''đóng khung'' 100 cầu thủ xuất sắc nhất của thế giới là việc không thể''. Ông cũng cho biết, bản danh sách này vẫn chưa hoàn chỉnh và thừa nhận mình sai lầm khi sớm công bố ra dư luận. , danh sách này sẽ được FIFA công bố chính thức như một phần trong lễ kỷ niệm ''Bách niên''
    Danh sách 125 cầu thủ
    (Theo thứ tự ABC)
    Xem chi tiết»
     
  6. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    Mười quyết định dở nhất trong lịch sử World Cup

    Thủ môn Shilton chịu thua bàn tay của Maradona, năm 1986.
    Công tác trọng tài tại Vòng chung kết năm nay đang bị ca thán là quá sức tệ hại. Tuy nhiên, trong lịch sử, thế giới bóng đá từng chứng kiến rất nhiều quyết định sai lầm, làm thay đổi không chỉ kết quả trận đấu mà còn cả số phận của những người liên quan, và không phải tất cả đều xuất phát từ những ông vua sân cỏ.

    1. Kết thúc trận đấu ở phút 84

    Pháp là đội có nhiều duyên nợ nhất với những trận đấu gây tranh cãi, ngay từ Vòng chung kết đầu tiên năm 1930. Phút 84, các chú gà trống Goloa vẫn mê mải tấn công, hòng gỡ hòa 1-1 với Argentina. Tuy nhiên, tất cả chợt đứng khựng lại khi nghe tiếng còi mãn cuộc vang lên. Trọng tài giải thích là ông đã nhìn nhầm đồng hồ và cho trận đấu tiếp tục. Thế nhưng, đội Pháp chẳng còn tìm đâu ra hứng khởi để dâng lên, chịu thất bại 0-1 và bị loại.
    2. Công nhận một bàn thắng chưa bao giờ tồn tại (vụ thứ nhất)
    Đó là bàn thắng thứ hai của tuyển thủ Anh Geoff Hurst tại trận chung kết World Cup 1966. Thời gian này, người ta chưa có đủ phương tiện kỹ thuật hiện đại để xác định là bóng đã ở trong vạch vôi cầu môn sau khi bật xuống từ xà ngang đội Đức hay chưa. Những nhân vật duy nhất được quyền quyết định trong trường hợp này là trọng tài và giám biên, và cả hai đều trả lời: “Có, bàn thắng đã được ghi”.
    Ở trận đấu này, người cầm còi còn xử lý sai một tình huống khác. Trận chung kết lẽ ra đã kết thúc với tỷ số 2-1 chứ không phải 4-2, khi tới phút 90, Anh vẫn đang dẫn 2-1. Thế nhưng, đúng phút cuối cùng, khi Jack Charlton (Anh) bị phạm lỗi, trọng tài lại cho người Đức được hưởng một quả phạt và họ đã gỡ hòa. Cả hai đội phải đấu thêm hiệp phụ. Tuy nhiên, ngôi vô địch vẫn thuộc về Anh.

    3. Kết thúc trận đấu khi cầu thủ đang đá phạt góc
    Nạn nhân chịu oan ức trong vụ này là Brazil. Khi trận đấu giữa đội bóng áo vàng xanh và Thụy Điển tại World Cup 1978 đang dừng ở tỷ số 1-1, Brazil được hưởng một quả phạt góc chỉ vài giây trước khi kim đồng hồ chỉ phút thứ 90. Cú sút từ điểm phạt góc làm tung lưới Thụy Điển, nhưng hai đội vẫn rời sân với kết quả hòa, bởi trọng tài đã thổi còi kết thúc trận đấu khi quả bóng đang bay trong không trung.
    FIFA đã quyết định gửi gấp trọng tài Clive Thomas về nhà ngay sau đó, để ông có thời gian chạy chữa cho những vết bầm tím trên mặt - dấu vết của vô số đồng xu được ném xuống từ trên khán đài.

    4. Công nhận một bàn thắng rồi thay đổi ý kiến
    Sự việc xảy ra vào mùa hè 1982, Pháp tranh tài với Kuwait tại vòng đấu bảng Espana. Alain Giresse ghi bàn nâng tỷ số lên 4-1 khi các cầu thủ vùng Vịnh đã dừng cả lại. Trọng tài chỉ tay vào chấm tròn giữa sân, vụ náo loạn lập tức nổi lên, có sự tham gia của toàn bộ đội Kuwait và nhiều quan chức nước này. Họ cho rằng trọng tài đã thổi còi chấm dứt tình huống bóng. Người cầm đầu vụ phản đối là Hoàng tử Fahid, Chủ tịch LĐBĐ Kuwait. Ông lao từ chỗ ngồi danh dự trên khán đài xuống tận đường pitch và dọa sẽ đưa cả đội bóng nước mình rời sân, không tiếp tục trận đấu.
    Không thể tin nổi, phản đối được chấp nhận: Trọng tài Miroslav Stupar (Liên Xô cũ) đã thay đổi quyết định. Tỷ số vẫn là 3-1. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, Pháp đã ghi được bàn thắng thứ tư và không ai còn dám bác bỏ. Đội Kuwait vẫn phải về nhà, nhưng họ có thể tự hào vì đã làm nên một chuyện hy hữu trong lịch sử bóng đá.

    5. Dung túng cho một hành vi giết người
    Tây Đức gặp Pháp tại Espana 1982. Trong một tình huống khung thành nhà bị uy hiếp, thủ môn Đức Harald Schumacher không cần để ý đến quả bóng, mà xông thẳng vào cầu thủ Patrick Battiston đang lao tới, quyết chí "vặt đầu vặt cẳng" anh này. Kết quả là Battiston mất 3 cái răng, chấn thương nghiêm trọng ở cổ và phải thở ôxy trong nhiều tuần.
    Vậy trọng tài Charles Corver đã xử lý như thế nào?
    a. Cho Pháp hưởng một quả đá phạt, đuổi Schumacher ra khỏi sân và ra tòa làm chứng rằng thủ môn này đã cố ý hành hung, khiến anh ta phải ngồi bóc lịch ít nhất 7 năm.
    b. Thổi phạt, tặng Schumacher thẻ vàng và ban một quyết định có lợi cho Pháp.
    c. Cho Tây Đức phát bóng, với lý do Schumacher vẫn chưa chạm vào bóng trước khi đi hết biên ngang và biến anh ta thành người hùng với việc cản phá một loạt cú sút penalty sau đó.

    Đáp án là c.
    6. Công nhận một bàn thắng chưa bao giờ tồn tại (vụ thứ hai)
    Trận tứ kết World Cup 1986 giữa Anh và Argentina. Đội bóng Nam Mỹ vươn lên dẫn trước nhờ “bàn tay của Chúa”. Thủ môn Peter Shilton bay người hết cỡ vẫn phải chịu thua Maradona nhỏ con + 1 cánh tay.
    Mãi về sau này, người ta vẫn cứ phải đặt câu hỏi tại sao ông trọng tài có thể tưởng tượng được một người vừa mập vừa lùn như Maradona lại có thể nhảy cao đến mức ấy để đánh đầu vào lưới.

    7. Để cho Maradona tiếp tục dùng tay chơi bóng
    Sau khi thua Cameroon tại trận mở màn World Cup 1990, Argentina - nhà đương kim vô địch thế giới lúc bấy giờ - có thể đã phải xách valy về nước nếu cú đánh đầu của Kuznetsov mang tới bàn mở tỷ số cho đội Liên Xô cũ. Tuy nhiên, số phận và trọng tài đã giúp họ vào tới tận trận chung kết. Còn Maradona lại trở thành người hùng. “Ngựa quen đường cũ”, cậu bé vàng lại dùng đến cánh tay “nhỏ nhắn” của mình, lần này là để phá bóng.
    Điều gì sẽ xảy ra nếu Liên Xô vươn lên dẫn trước 1-0, bất kể là nhờ cú đánh đầu trong tư thế thoải mái hay từ chấm phạt đền, nhất là khi Maradona bị đuổi khỏi sân vì động tác chơi bóng chuyền quá lộ liễu?

    8. Mời ca sĩ Diana Ross tới sút penalty tại lễ khai mạc World Cup 1994Trong buổi trình diễn tại sân vận động Soldier Field ở Chicago, nữ ca sĩ nổi tiếng này đã chứng minh rằng hát và sút penalty là hai việc hầu như không thể làm đồng thời, khi cô để bóng bay ra ngoài khung thành từ khoảng cách 3,5 m.
    Thực ra, việc một cô gái chưa bao giờ biết đến quả bóng sút hỏng không gây nhiều ngạc nhiên. Điều tồi tệ là đám cổ động viên Mỹ đã đồng loạt bật dậy, hò reo chúc mừng Ross, như thể cô vừa lập được một kỳ tích. Màn trình diễn của giọng ca “Endless love” gây ấn tượng đến nỗi, Liên đoàn bóng bầu dục thế giới đã mời ngay Ross tới hát tại lễ khai mạc World Cup của họ tại Wembley sau đó. Có lẽ trước khi nhận lời, Ross đã phải đặt điều kiện là không thực hiện bất cứ một quả penalty nào nữa.

    9. Hệ thống phân phối vé tại World Cup 1998
    Cứ cho là France 98 là một vòng chung kết thành công đi (đặc biệt là đối với người Pháp), nhưng câu chuyện về những chiếc vé tại kỳ World Cup này là không thể tưởng tượng nổi. Thay vì phân phối vé tới những nước có đội bóng tham gia tranh tài, ban tổ chức lại rao bán gần như toàn bộ số đó cho những người Pháp. Cổ động viên từ 31 nước còn lại phải tranh nhau 8% suất theo dõi 64 trận đấu của World Cup. Thậm chí, nếu muốn mua một chiếc vé bị người ta trả lại, bạn cũng sẽ chỉ được ưu tiên nếu gọi điện trong biên giới đất nước hình lục lăng.
    10. Đưa một Ronaldo "có vấn đề" ra sân tại trận chung kết
    Trước trận tranh Cup vàng giữa Brazil và Pháp năm 1998, cầu thủ hay nhất thế giới lúc bấy giờ có dấu hiệu suy giảm thể lực. Một giờ trước khi trận chung kết khai cuộc, Ronaldo không có tên trong danh sách xuất phát, nhưng cuối cùng anh vẫn ra sân. “Người ngoài hành tinh” đã vật vờ trong suốt thời gian thi đấu, còn Frank Leboeuf - người được phân công kèm Ronaldo - trở nên nhàn rỗi và làm được vô số việc không thuộc phận sự của mình.
    Cho đến giờ, vẫn chưa ai có thể khẳng định cái gì đã khiến Ronaldo bị co giật - sự căng thẳng, chứng dị ứng thuốc hay một cơn đau dạ dày. Và cũng chẳng ai biết rằng có phải nhà tài trợ Nike đã gây áp lực để chàng tiền đạo răng thỏ được thi đấu hay không.

    Soccer for the word
     
  7. petern

    petern <img src=http://forum.gamevn.com/g.png>

    Tham gia ngày:
    24/9/03
    Bài viết:
    3,212
    Cái này đã lên hàng Chú ý rồi thì cũng là đặc biệt hơn các topic khác do đó các bác hạn chế những bài ngắn. Khi nào có bài hay như của neverback thì post lên làm tài liệu tham khảo, còn không thì bàn luận chứ đừng nói nhảm. Tui sẽ xoá hết các bài nhảm.
     
  8. Join

    Join Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    25/8/04
    Bài viết:
    478
    Nơi ở:
    Ngày hôm qua
    Lịch sử bóng đá Việt Nam (1896-1975)

    1. PHÁT TRIỂN NỘI BỘ:

    Theo những tài liệu còn lưu giữ được thì bóng đá đã theo chân người Pháp du nhập vào nước ta vào khoảng năm 1896. Và tất nhiên, trước tiên là tại Nam Kỳ, sau mới lan ra Bắc và Trung.

    a. MIỀN NAM

    Những người chơi bóng đầu tiên ở Sài Gòn là người Pháp (công chức thuộc địa, thương gia, binh lính), và sân chơi của họ mỗi cuối tuần là công viên thành phố, tên Pháp lúc bấy giờ gọi là Jardin de la Ville (Vườn Ông Thượng, sân Tao Đàn bây giờ). Dần dà, những người Âu có điều kiện khác cùng tới chơi. Sau đó, một số ít người Việt Nam, công chức hoặc thương gia mang quốc tịch Pháp, cũng bắt đầu tham gia. Quả bóng bầu dục đôi khi còn xuất hiện lúc đầu được thay hẳn bằng bóng tròn, và họ tập hợp nhau lại thành câu lạc bộ, lấy tên là Cercle Sportif Saigonnais.

    Năm 1905, đội bóng của chiến hạm Anh mang tên King Alfred ghé thăm Sài Gòn, và đã đấu giao hữu với một đội Pháp Việt; đây là trận bóng quốc tế đầu tiên tại Việt Nam. Năm 1906, E. Breton, một uỷ viên Pháp trong L'Union des Sociétés Francaises des Sports Athlétiques đem luật lệ bóng đá sang Việt Nam phổ biến, và trong vai trò Hội Trưởng, chấn chỉnh lại Cercle Sportif Saigonnais theo cách tổ chức của các câu lạc bộ bóng đá bên Pháp. Nhiều câu lạc bộ khác được bắt chước thành lập và hoạt động, như Infanterie, Saigon Sport, Athletic Club, Stade Militaire, Tabert Club... Các giải bóng đá cũng bắt đầu được tổ chức từ đó.

    Do được tổ chức, huấn luyện có quy củ hơn, Cercle Sportif Saigonnais liên tiếp thắng nhiều mùa giải: 1907, 1909, 1910, 1911, 1912, 1916... Dân ta rất nhạy cảm với bóng đá, sớm yêu thích và tự thấy mình cũng có thể chơi bóng đá giỏi nên bắt chước; học sinh, thợ thuyền, công chức rủ nhau chơi, dù trong điều kiện cực kỳ khó khăn, nhất là về sân bãi. Nhưng chỉ trong vài năm, nhiều người Việt đã nắm được luật lệ và kỹ thuật bóng đá nên tự lập đội bóng của mình, lấy tên là Gia Ðịnh Sport (đội bóng Việt Nam đầu tiên, thành lập năm 1907, do các ông Ba Vẻ, Phú Khai dẫn dắt, sau nhập một với đội Ngôi Sao Xanh (Etoile Bleue) của ông huyện Nguyễn Ðình Trị, thành Ngôi Sao Gia Ðịnh).

    Từ năm 1920 thì ta đã có nhiều cầu thủ hay. Ngôi Sao Gia Ðịnh đã thắng tất cả các đội bóng khác mà số đông là đội người Âu, kể cả đội Cercle Sportif Saigonnais của ông Breton (1917), giành Cúp vô địch. Suốt thập kỷ 1925-1935, đội Ngôi Sao đã lừng danh với một thế hệ cầu thủ còn được nhiều người nhắc nhở cho đến nay: Sách, Thơm, Nhiều, Quý, Tịnh, Xường, Trung, Thi, Vi, Mùi, Tiếc, Rớt, Tài, Út, Danh, Giỏi, E. Quang... Sang thập kỷ 1945-1954, đội Gia Ðịnh còn tiếp tục ngự trị trên bóng đá Nam Kỳ với một thế hệ cầu thủ xuất sắc khác: Maurice Tài, Coón, Lý Ðức, Quới, Hiếu, Thọ 2, Tư, Mai, Mỹ, Thách, Thọ Ve, Bùi Nghẻn, Khê…

    Cũng trong thập kỷ 1920, tự thấy mình có thể đứng độc lập được, giới hâm mộ và những nhà dẫn dắt hợp tác thành lập một Tổng Cuộc Bóng Ðá riêng cho người Việt, bầu ông Nguyễn Đình Trị làm Trưởng Ban Trị Sự, và mua đất làm sân riêng. Lúc ấy đã có một Tổng Cuộc Bóng Ðá do người Pháp chủ trì, nên việc hợp tác giữa hai Tổng Cuộc không thể tốt đẹp. Dù vậy, hai bên vẫn phải hợp tác tổ chức những cuộc thi đấu, như Giải Vô Ðịch Nam Kỳ chẳng hạn.

    Trong một trận nẩy lửa giữa Cercle Sportif Saigonnais và Ngôi Sao Gia Ðịnh năm 1925, việc trọng tài người Pháp đã đuổi cầu thủ Paul Thi ra khỏi sân sau một cuộc xô xát, khiến cầu thủ này của đội Ngôi Sao bị treo giò vĩnh viễn sau đó, càng làm cho việc hợp tác thêm khó khăn. Giải Vô Ðịch Nam Kỳ bị gián đoạn trong nhiều năm, chỉ bắt đầu lại năm 1932, với 6 đội người Việt và 3 đội người Pháp. Tuy vậy, từ 1925 đến 1935 cũng có đến khoảng 29 giải bóng đá đủ loại được tổ chức, Gia Ðịnh một mình đăng quang hết 8 lần, xác định vai vế vua bóng đá miền Nam Việt một thời, số còn lại chia đều cho các đội Victoria, Khánh Hội, Cercle Sportif Saigonnais, Jean Comte, Auto-Hall (Nam), Commerce Sport, Thủ Dầu Một…

    Ở miền Nam, về các đội bóng vùng Sài Gòn, ngoài Ngôi Sao Gia Ðịnh, còn có Victoria Sportive, Commerce Sport, Jean Comte, Sport Cholonaise, Khánh Hội Sport, Tân Định Sport, Gò Vấp, Hiệp Hoà, Chợ Quán, Phú Nhuận, Đồng Nai, Enfants de Troupe…; ở các tỉnh có: Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Gò Công, Châu Đốc, Mỹ Tho... Còn về sân bãi, phải kể đến các sân Vườn Ông Thượng (tức sân Tao Đàn), sân Citadelle (tức sân Hoa Lư), sân Renault (sau đổi thành sân Cộng Hoà, tức sân Thống Nhất ngày nay); một số khác chỉ còn trong ký ức như các sân Fourières (ở Bà Chiểu, gần lăng Lê Văn Duyệt), Mayer (góc đường Võ Thị Sáu - Trần Quốc Thảo ngày nay), và Marine (ở gần Trung tâm Mắt Thành Phố hiện nay)... Trên các sân này, đã xuất hiện bao thế hệ cầu thủ bóng đá Việt Nam mà tên tuổi vẫn còn lưu mãi trong ký ức tập thể của giới mộ điệu.

    Ngoài các giải, cúp khá rầm rộ tại Sài Gòn và ở các tỉnh, Tổng Cuộc Bóng Ðá An Nam còn tổ chức tiếp đón nhiều đội bóng nước ngoài, và cử đội tuyển đi thi đấu tại Thái Lan, Campuchia, Malaysia,... Cao trào ấy đã làm môn thể thao vua này lan rộng ra cả nước. Đi đến đâu, bóng đá cũng được dân ta hưởng ứng, luyện tập, và tham gia nhiệt tình. Thuở ấy bóng đá chưa thành nghề mưu sinh, và người chơi bóng chỉ xem đây là một thú tiêu khiển, tập luyện nhằm nâng cao sức khỏe là chính yếu. Đa phần cầu thủ đều sống đạm bạc, đi bộ hay đón xe thổ mộ đến sân tập dượt; thỉnh thoảng mới được các chủ hội cho vài cắc ăn hủ tiếu, uống cà phê khi đá thắng.

    Một khía cạnh lý thú khác: mặc dù là cội nguồn bóng đá của cả nước, Sài Gòn chưa có bóng đá nữ. Khoảng năm 1932, ở miệt vườn Cần Thơ mới xuất hiện đội bóng nữ Cái Vồn do ông bầu Sửu thành lập (kỹ sư canh nông Trần Khắc Sửu, sau làm tổng thống VNCH khoảng 1964-1965; còn Cái Vồn là đội nữ đầu tiên của Việt Nam và có thể của cả Á Châu!). Vài năm sau, có thêm đội Bà Trưng ở miệt Rạch Giá - Long Xuyên. Vào những dịp lễ Tết, các đội này kéo "gánh" lên Sài Gòn... biểu diễn. Một kỳ tích: năm 1933, đội nữ Cái Vồn thi đấu với đội nam Paul Bert tại sân Mayer, và hòa 2-2!

    b. MIỀN BẮC VÀ MIỀN TRUNG:

    Ở miền Bắc, cho đến khoảng năm 1900, ba môn thể thao mà người Pháp thường chơi và được báo chí nói đến là đua ngựa, đấu kiếm và ném quả lăn. Như vậy, bóng đá có lẽ đã chỉ xâm nhập vào đất Bắc khoảng 1906-1907, sau tiếng vang do cuộc viếng thăm của đội King Alfred ở Sài Gòn.

    Ngày 22/12/1909, tờ báo tiếng Pháp Tương Lai Bắc Kỳ (L'Avenir du Tonkin) mới viết vài dòng về trận đấu giữa đội bóng Lê Dương Đáp Cầu (Legion Đáp Cầu) và đội Olympique Hải Phòng (đội Hải Phòng khi đó bao gồm cả cầu thủ người Pháp lẫn người Việt), với mấy dòng tường thuật như sau: Trận đấu diễn ra sôi nổi khiến khán giả rất thích. Các cầu thủ Đáp Cầu chơi có phần hay hơn, nhưng Hải Phòng chơi cũng chặt chẽ, lại không biết dùng đầu. Hai bên biểu diễn hòa nhã, không kêu hét ầm ỹ. Trọng tài công bằng. Cuối cùng Hải Phòng thắng: 2-1. Nhưng ở trận phục thù, cũng tờ Tương Lai Bắc Kỳ ngày 30/1/1910 cho biết Lê Dương Đáp Cầu đã thắng lại đội Hải Phòng 8-1, ngay trên sân Hải Phòng.

    Riêng ở Hà Nội, tháng 2 năm 1912, một Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội (Stade Hanoien) cũng ra đời, bao gồm các đấu thủ người Việt và một số người Pháp như Menin, Megy, Bernard, Bonardi... Về phía quân đội Pháp, họ có Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa (Régiment d’Infanterie Coloniale, RIC), Ngôi Sao Xanh (Étoile Bleue), Lê Dương Đáp Cầu, Lê Dương Việt Trì, và một vài đội nữa. Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa có trình độ khá cao, với nhiều cầu thủ còn để lại tiếng tăm lâu dài như Luier, Lauroix, Marinelli, Beye.

    Ngày 1/11/1913, trận cầu giữa Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội và Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa đã lôi cuốn được gần 3.000 khán giả, kết quả đội bộ binh Pháp thắng 5-3.

    Trong hai thập kỷ 1910-1920, các đội bóng của người Việt phát triển mạnh. Mới đầu chỉ là những đội chân đất do học sinh các trường đi tiên phong. Bóng dùng là bóng cao-su mầu trắng mua từ các cửa hàng người Hoa, Việt hoặc Nhật. Nhiều khu phố cũng có đội bóng riêng. Hà Nội thuở ấy chỉ có khoảng trên dưới 10 vạn dân, các trận giao hữu thường diễn ra ở mọi bãi trống, thậm chí cả trên các ngã ba, ngã tư phố vắng, đặc biệt là gần Nhà thương Đồn Thủy (bệnh viện Hữu Nghị hiện nay) hoặc trước Trường Hàng Kèn (Quang Trung hiện nay), đường Gambetta (Trần Hưng Đạo hiện nay)...

    Sau này, để có sân chơi tương đối đúng kích thước cho các giải chân đất và chân giày của người Việt, Ðội Chớp Nhoáng (Eclair) và Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội mới hợp tác lập ra sân Nhà Dầu (gần kho xăng hãng Shell, sát cầu sông Cái, nay là cầu Long Biên). Riêng sân Mangin (sân Hàng Cỏ, nay gọi là sân Cột Cờ) có kích thước chính xác nhất, thuộc về nhà binh Pháp quản lý và chỉ được dùng cho các giải thi đấu chân giày chính thức. Chính trên sân Mangin, một giải vô địch bóng đá riêng cho Bắc Kỳ đã được tổ chức lần đầu vào khoảng 1918-1919, với không khí tưng bừng của ngày lễ hội: một tiểu đội quân nhạc vừa đi vừa thổi kèn quanh sân, sau đó trận bóng mới bắt đầu. Lúc đầu khán giả vào xem không mất tiền; về sau, ban tổ chức mới kê bàn ngăn bốn đường vào sân bán mỗi vé một hào.

    Ðấy là về sân chơi. Về các đội bóng, những năm cuối thập niên 1930 đầu 1940 là đỉnh cao của bóng đá Việt Nam thời kỳ đầu, cả về phong trào cũng như thành tích. Thời kỳ này hầu như tỉnh nào cũng có một đội bóng, từ Bắc vào Trung, không kể Nam Bộ là nơi khởi thủy. Ở phía Bắc, ngoài Chớp Nhoáng (do nhà mạnh thường quân, kiêm tiền vệ nổi danh Trần Văn Quý cầm đầu) và Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội, còn phải kể đến Racing Club, Lạc Long Ngọn Giáo (La Lance), Hoả Xa (Usaga), Trường Bưởi (Chu Văn An hiện nay), Đại học (Université Club), Ngân Hàng, Ô-tô Han (Auto Hall)…ở Hà Nội, Voi Vàng Ðất Cảng, Olympique Hải Phòng, Mũi Tên (La Flèche), Radium (Trung Học), Thanh Niên Bắc Kỳ (La Jeunesse Tonkinoise) ở Hải Phòng, Hồng Bàng ở Nam Định, Phủ Lý Thể Thao ở Phủ Lý, đến như Lạng Sơn là một địa đầu biên giới miền núi cũng có Le Semeur. Miền Trung cũng có ASNA Vinh, Sept Huế, Touranne, Faifo Cheminot Nha Trang.

    c. HỮU NGHỊ ĐÔNG DƯƠNG:

    Năm 1931, nhận lời mời của Tổng Cuộc Bóng Ðá ở Sai Gòn, các đội Chớp Nhoáng ở Hà Nội và Thanh Niên Bắc Kỳ ở Hải Phòng là những đội đầu tiên từ miền Bắc đi ô-tô vào Nam thi đấu giao hữu; chuyến "Nam du" vô cùng vất vả và chật vật (Ngôi Sao Gia Định hạ Chớp Nhoáng 5-0, Victoria Sport thắng Thanh Niên Bắc Kỳ 1-0), nhưng có tác dụng chắp nối nhịp cầu thể thao Bắc - Nam rất lớn.

    Năm 1936, khi khánh thành đường xe lửa Đông Dương, Thứ Trưởng Bộ Thuộc Ðịa Pháp Léo Lagrange đã có điều kiện tổ chức lần đầu tiên một cuộc thi đấu gồm 5 đội tuyển: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia (lúc đầu mang tên là Giải Léo Lagrange, sau đổi thành Giải Petain, rồi Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương). Từ đấy, cuộc thi đấu tranh giải trở thành truyền thống hàng năm, khi hội đủ điều kiện.

    Cũng vào khoảng thời gian này, thế chiến thứ hai bùng nổ. Mặt Trận Việt Minh ra đời và công khai vận động nhân dân đứng lên giành độc lập. Nhà cầm quyền Đông Dương khởi xướng phong trào Khoẻ Ðể Phụng Sự, giao cho đại tá Ducroy tổ chức Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương, hầu lôi kéo một bộ phận thanh niên thành thị lao vào thể thao mà xa lánh chính trị. Cùng với nhiều bộ môn thể thao khác như bóng bàn, đua xe đạp, đấu quyền Anh,... bóng đá cũng đã thừa cơ phát triển rộng khắp, và đạt được nhiều kết quả khả quan. Nhưng từ 1945 trở đi, do tình hình chính trị khẩn trương và sau đó là chiến tranh, việc tổ chức cũng như trình độ bóng đá đều đình trệ và xuống cấp. Riêng về Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương, có thể ghi lại kết quả của 4 năm đầu:

    - Lần 1 (1941) Hà Nội: Nam Kỳ hạ Trung Kỳ 4-2, đoạt chức vô địch.

    - Lần 2 (1942), Huế: Nam Kỳ hạ Bắc Kỳ 3-2, giữ chức vô địch

    - Lần 3 (1943) Pnôm Pênh: Nam Kỳ hạ Trung Kỳ 1-0, giữ chức vô địch

    - Lần 4 (1944) Pnôm Pênh: Bắc Kỳ hạ Nam Kỳ 3-0, giành chức vô địch.

    2. THÀNH TÍCH QUỐC TẾ:

    Nếu như những năm đầu thập kỷ 1930, đội bóng Nam Hoa của Hồng Kông thắng các đội Việt Nam dễ dàng, và trung phong Lý Huệ Đường đã ngạo mạn nhận xét: bóng đá An Nam như ếch ngồi đáy giếng làm sôi máu làng cầu nước ta thì chỉ mấy năm sau, cùng với đội hình chưa mấy đổi thay, Lý "Cầu Vương" và các đồng đội Phùng Cảnh Tường, Lê Triệu Vinh đã hết qua nổi các hậu vệ Cao Hoài Cúi, Nguyễn Hữu Đước, Trương Tấn Bửu của đội An Nam. Ngược lại, hậu vệ Lưu Khánh Tài, Lý Thiên Sanh của Nam Hoa không cản được cặp Tiền - Tốt phá lưới, buộc thủ môn Bảo Gia Bình của Nam Hoa phải nhiều lần vào cầu môn nhặt bóng.

    Năm 1938, Hoa Nam thua đội tuyển Nam Kỳ 1-2 tại Gia Định. Tháng 5/1938, sang thi đấu tại Hồng Kông, Tuyển Nam Kỳ thắng Tuyển Hồng Kông 4-0, hoà Hoa Nam 1-1, thắng Hải Quân Anh 6-2, thắng Quân Ðội Anh ở đó 3-0, sang Philipin thắng Létan 4-0, và La Salle (đương kim vô địch Philipinnes) 3-0...

    Sau đó là Thế Chiến thứ hai, rồi chiến tranh Việt - Pháp; và tất nhiên là chiến tranh đã làm nền bóng đá Việt Nam dậm chân tại chỗ. Về thành tích chung cả ba miền thì năm 1951, một đội tuyển Việt Nam (với thành phần gồm Quyền, Quới, Waico, Vẹn, Thọ 2, Tư, Mỹ, Cưỡng, Hiếu, Trọng, Ðức của miền Nam, Hiệt của miền Trung, Thọ Ve, Ứng, Hợi, Khuê của miền Bắc)... được phép đi thi đấu giao hữu ở Algeria, Pháp (thua Nice 1-4, Rouen 1-3) và Thụy Ðiển (thua Stockhom 1-4).

    Cho đến năm 1954, thành tích quốc tế chính thức duy nhất (đồng thời có thể xem như đầu tiên và cuối cùng) của đội tuyển quốc gia Việt Nam thời Pháp thuộc là tham dự Á Vận Hội lần thứ hai được tổ chức tại Manila (Philipin), dù không vượt thoát nổi vòng loại (thắng Philipin 3-2, thua Ðài Loan 1-2). Mặt khác, cột mốc đáng ghi nhớ nhất ở đây nằm ngoài lĩnh vực thể thao: trong khi thi đấu thì hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm thời chia đôi, nên đội tuyển Việt Nam (với thành phần: Lâm Kinh, Quí, Quới, Pierre Nhung, Thọ, Hiếu, Maurice Tài, Myo Hồ, Coón, Mỹ, Thách, Phải, Ðức, Tư, Chạc của miền Nam, thêm Ứng, Hợi, Khê từ miền Bắc) vừa về đến Sài Gòn thì đành phải chia thành hai ngả.

    Nhưng cũng từ năm 1954 trở đi, khi hoà bình được lập lại phần nào sau hiệp định Genève, phong trào bóng đá ở cả hai miền mới được phục hồi và nhanh chóng phát triển trở lại, dù trong điều kiện đất nước chia đôi và sau đó là chiến tranh lần nữa.

    Ở miền Bắc, đội bóng đá Thể Công, ra đời từ phong trào thể thao của QĐNDVN và được chính thức thành lập ngày 23/9/1954, thi đấu và phát triển mỗi ngày một mạnh, nhiều năm đoạt chức vô địch.

    Năm 1960, do yêu cầu xây dựng "mũi nhọn đỉnh cao", Trường Huấn luyện TDTT Trung ương được thành lập. Đội tuyển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà thời đó (thực chất là lấy Trường Huấn luyện quốc gia làm nòng cốt, phối hợp cùng Thể Công) được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Đức... đã đạt được thành tích cao ở các giải Galefo (Indonesia, 1963) và Galefo Châu Á (Campuchia, 1966), và trong các cuộc thi đấu thuộc khu vực cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, đương đầu ngang ngửa với các đội mạnh như đội tuyển Trung Quốc, Triều Tiên, có lần còn thắng cả đội tuyển trẻ Liên Xô tại Moscow. Lớp cầu thủ: Thọ, Long, Phàn, Ngọc, Chính, Vinh, Từ Hiển, Hùng (xồm), rồi tiếp đến lớp Khánh, Giáp, Thế Anh thực sự đã đạt được những bước tiến dài, đáng tự hào của bóng đá miền Bắc Việt Nam.

    Trong Nam, bóng đá cũng phát triển mạnh suốt thời gian ấy, làm cho các nước trong khu vực phải kính nể. Vào cuối thập kỷ 1950, đội tuyển Việt Nam Cộng Hoà đã trở thành 1 trong 4 "cường quốc bóng tròn Châu Á", khi lọt vào vòng chung kết giải Vô địch châu Á 1960 cùng với Nam Hàn, Ấn Độ, Trung Hoa quốc gia (do Hồng Kông đại diện). Cựu "Đại Vương Túc Cầu" Lý Huệ Đường, HLV của đội tuyển Hồng Kông, người trong thập niên 1940 đã từng chê bóng tròn Việt Nam như ếch ngồi đáy giếng, bây giờ phải công nhận rằng đội Việt Nam có lối đá đa dạng nhất trong các đội châu Á, và các cầu thủ Việt Nam là những thuật sĩ bóng tròn trên sân cỏ.

    Một chứng cớ khác: khi ghé Sài Gòn để đá giao hữu với Ðội Tuyển Việt Nam Cộng Hoà năm 1959, nhà dìu dắt đội Nhật đã tặng cho Tổng Cuộc Bóng Đá Việt Nam một đôi giầy nhỏ trước khi thi đấu, với ý nghĩa trình độ bóng đá của Nhật chỉ như đôi giầy nhỏ này so với Việt Nam, mong rằng sau các lần thi đấu, Nhật sẽ học hỏi được nhiều bài học quý giá từ một làng bóng có tiếng ở châu Á. Song chỉ 5 năm sau, bóng đá Nhật không còn là đôi giầy nhỏ nữa.

    Từ năm 1960 đến năm 1966, Việt Nam Cộng Hoà thường được xếp hạng từ thứ ba đến thứ nhất trong các giải bóng đá tại châu Á. Một trong những sự kiện đáng ghi nhớ nhất của lịch sử thể thao Việt Nam là Ðội Tuyển Việt Nam Cộng Hoà, dưới sự hướng dẫn của huấn luyện viên Weigang người Ðức, đã đoạt Cúp Merdeka lần thứ 10 do Malaysia tổ chức năm 1966, với sự tham dự của 12 đội bóng của 12 nước. Giải này ra đời từ năm 1957, do sáng kiến của Thủ Tướng Malaysia Abdul Rahman (vốn là cựu hậu vệ của đội tuyển quốc gia, và Merdeka có nghĩa là Ðộc Lập), lúc bấy giờ đã trở thành một giải bóng đá quốc tế hàng năm rất có uy tín trên khắp lục địa.

    Về nội bộ, năm 1954 cũng đánh dấu một thay đổi lịch sử khác là sự mất mát của Ngôi Sao Gia Định. Vì nhiều lý do khác nhau, nhóm cầu thủ đã làm rạng danh bộ áo màu xanh đen với ba sọc ngang và ngôi sao trên ngực trái mỗi người bỗng đi một ngả, song chủ yếu là về đầu quân cho AJS (Association de la Jeunesse Sportive), hoặc Cảnh Sát. Cùng với hai đội khác là Tổng Tham Mưu (TTM) của Quân Ðội và Quan Thuế ít lâu sau, bốn đội này luân phiên thống trị bóng đá miền Nam cho đến năm 1975. Năm 1968, khi giải vô địch Á Châu dành cho các câu lạc bộ vô địch ở mỗi quốc gia (C1) được tổ chức lần đầu tiên tại Bangkok, đội AJS đại diện cho VNCH đã sang dự thi, hoà với Bangkok Bank (Thái Lan), và Mysou State (Ấn Ðộ) 1-1, hạ Lions (Philipin) 6-1, thắng Yangzee (Ðại Hàn) 5-3, chung cuộc đứng thứ 5 trong số 10 đội tham dự.

    Nói tóm lại, dù ở mức độ quốc gia hay câu lạc bộ, bóng đá cả hai miền đều phát triển khả quan. Riêng trong Nam, nền bóng đá VNCH đã nghiễm nhiên trở thành một cường quốc trong vùng Ðông Nam Á, và đang trên đường chinh phục toàn bộ lục địa thì bị gián đoạn.

    BÓNG ĐÁ MIỀN NAM VÀ THÀNH TÍCH QUỐC TẾ (1930-1975)

    Thành tích quốc tế của các đội tuyển miền Nam (với những danh xưng khác nhau, từ Ðội Tuyển Nam Kỳ, Nam Việt, Sài Gòn, đến Việt Nam Cộng Hoà), qua các giải bóng đá thế giới, Á Châu, và các trận hữu nghị quốc tế, có thể được ghi lại như sau:

    World Cup

    - 1974, Khu vực châu Á: VNCH tham dự lần đầu, bị loại sau 3 trận (2 thua 1 thắng: VNCH- Ðại Hàn 0-4, VNCH Hông Kông 0-1, VNCH-Thái Lan 1-0)

    Thế vận hội

    - 1963, Tranh vòng loại Thế Vận Hội Tokyo 1964, bị loại bởi Ðại Hàn và Israël (VNCH - Isarel 0-1 tại Sài Gòn, Israël - VNCH 0-2 tại Tel Aviv, Đại Hàn - VNCH 3-0 tại Seoul, VNCH- Đại Hàn 2-2 tại Sài Gòn).

    - 1968, Tranh vòng loại Thế Vận Hội Mexico 1968, bị loại vì chỉ đứng thứ 4 trên 6 đội trong bảng, với kết quả là 2 trận thắng, 1 hoà, 2 thua (VNCH - Philipin 10-0, VNCH - Ðài Loan 3-0, VNCH - Lebanon 1-1, Nhật Bản - VNCH 1-0, Đại Hàn - VNCH 3-0.

    Vô địch quốc gia châu Á

    - Lần 1 (1956, Hông Kông), thua Israël và Ðại Hàn, không vượt thoát vòng loại.

    - Lần 2 (1960, Seoul) sau khi đứng đầu bảng ở vòng loại (có Malaysia, Singapore), VNCH lọt vào vòng chung kết, xếp thứ 4 sau khi thua Đại Hàn 1-5, Ðài Loan 1-3 và Isarel 1-5.

    ASIAD (Á Vận Hội)

    - Lần 1 (1951, New Dehli), VN không tham dự

    - Lần 2 (1954, Manila), VN không vượt thoát vòng loại, thắng Philipin 3-2, thua Hông Kông (đại diện cho Ðài Loan) 1-2.

    - Lần 3 (1958, Tokyo), VNCH hoà Pakistan 1-1, thắng Malaysia 6-1, nhưng vẫn bị loại

    - Lần 4 (1962, Jakarta), VNCH đứng thứ 4 trong số 8 đội tham dự (thua Ấn Ðộ 2-3 ở bán kết, thua Malaysia 1-4 trong trận tranh huy chương đồng)

    - Lần 5 (1966, Bangkok), VNCH không vượt thoát vòng loại, do thua trận quyết định trước Singapore 1-4.

    - Lần 6 (1970, Bangkok), VNCH không vượt thoát vòng loại.

    SEA Games

    - Lần 1 (1954, Bangkok), VNCH - Thái Lan 3-1, huy chương vàng

    - Lần 2 (1961, Rangoon), VNCH - Thái Lan 0-0 (sau khi hạ Lào 7-0), huy chương đồng

    - Lần 3 (1965, Kuala Lumpur), VNCH - Singapore 4-1, huy chương đồng.

    - Lần 4 (1967, Bangkok), VNCH - Miến Ðiện 0-1, huy chương bạc.

    - Lần 5 (1969, Rangoon), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng.

    - Lần 6 (1971, Kuala Lumpur), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng.

    - Lần 7 (1973, Singapore), VNCH - Miến Ðiện 2-3, huy chương bạc.

    - Lần 8 (1975, Bangkok), CHXHCNVN không tham dự.

    Giao hữu

    - 1930, tiếp Lạc Hoà (Thượng Hải) và Nam Hoa (Hông Kông): Ngôi Sao Gia Định - Lạc Hoà 0-3, Ngôi Sao Gia Ðịnh - Nam Hoa 1- 4 Commerce Sport - Nam Hoa 1-1, Tuyển An Nam - Nam Hoa 2-2.

    - 1936, tiếp Đội Tuyển Trung Hoa chuẩn bị dự Thế Vận Hội Berlin 1936 Nam Kỳ B - Tuyển Trung Hoa 1-8, Nam Kỳ A - Tuyển Trung Hoa 1-4.

    - 1937, tiếp Đội Tuyển Tinh Châu (Singapore bây giờ) . Liên quân Auto Hall/Cảnh Sát - Tuyển Tinh Châu 1-1 Tuyển Nam Kỳ - Tuyển Tinh Châu 1-3.

    - 1949, tiếp Đội Tuyển Pháp B ; Tuyển Nam Việt - Pháp B 1-2.

    - 1950, tiếp Djurgarden (Thụy Ðiển, qua chiếc cầu nối là nhà báo thể thao Vol Lyberg). Ngôi Sao Gia Ðịnh - Djurgarden 0-3, Nam Việt B - Djurgarden 1-3 Nam Việt A - Djurgarden 2-3.

    - 1951, tiếp Nam Hoa (Hồng Kông) Tuyển Nam Việt - Nam Hoa 1-3 ; Liên Quân Cảnh Sát/Ngôi Sao Gia Ðịnh - Nam Hoa 1-3 ; AJS - Nam Hoa 1-1 ; AJS - Nam Hoa 3-1.

    - 1952, tiếp Nam Hoa Tuyển Nam Việt - Nam Hoa 1-3 ; AJS - Nam Hoa 3-1, Liên Quân AJS/TTM - Nam Hoa 1-3 ; Cảnh Sát - Nam Hoa 1-0.

    - 1953, tiếp Lask (Áo) và Djurgarden (Thụy Ðiển) Cảnh Sát - Lask 1-2 ; AJS - Lask 0-1 và 2-0 Nam Việt B - Lask 1-8 ; Nam Việt A - Lask 1-4 AJS - Djurgarden 0-2 ; Nam Việt B - Djurgarden 1-2 ; Nam Việt A - Djurgarden 2-3 ; (Bắc Việt - Djurgarden 1-7).

    - 1954, tiếp AIK (Thụy Ðiển) ; AJS - AIK 2-2.

    - 1958, tiếp Wacker (Áo) Tuyển Quân Ðội - Wacker 0-1 ; Tuyển Sài Gòn - Wacker 4-1.

    - 1959, tiếp Đội Tuyển Vienner (Áo), Djurgarden (Thụy Ðiển) và Đội Tuyển Nhật Bản Tuyển Sài Gòn - Vienner 4-1 ; Liên Quân AJS/Cảnh Sát - Djurgarden 1-3 Tuyển Quân Ðội - Djurgarden - 1-1 ; Tuyển Sài Gòn - Djurgarden 3-1. Tuyển Quân Ðội - Nhật Bản 3-1 ; Tuyển Sài Gòn - Nhật Bản 3-1.

    - 1961, tiếp Nơrkoping (hạng ba Thụy Ðiển) và Young Boys (vô địch Thụy Sĩ) Tuyển Sài Gòn - Nơrkoping 1-1 và 0-4. TTM - Nơrkoping 2-1 ; Cảnh Sát - Young Boys 3-2.

    - 1962, tiếp Lima (Peru), Đội Tuyển Quân Ðội Hoàng Gia Anh và Đội Tuyển Đài Loan TTM – Lima 0-3 ; Tuyển Sài Gòn - Lima - 2-2. Tuyển Quân Ðội - Quân Ðội Anh 1-4 ; Tuyển Sài Gòn - Quân Ðội Anh 0-2 Quan Thuế- Ðài Loan 0-1 ; Liên quân AJS/TTM - Đài Loan 0-0 Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 1-1 ; Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 3-1.

    - 1963, tiếp Nguyên Lãng (Hồng Kông) ; AJS - Nguyên Lãng 4-1. 1965, tiếp Odense (vô địch Ðan Mạch) ; Tuyển Sài Gòn - Odense 1-2.

    - 1969, tiếp Đội Tuyển Đài Loan do Lý Huệ Đường hướng dẫn TTM - Ðài Loan 2-1 ; Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 2-0. 1973, tiếp FC Hertha 03 (Tây Ðức) ; Tuyển Sài Gòn FC Hertha 1-1.

    - 1975, tiếp FC Hertha 03 (Tây Ðức) Tuyển Sài Gòn - FC Hertha 1-2. Tuyển Sài Gòn - FC Hertha 0-1

    Viễn du

    - 1938, Lần đầu tiên Đội Tuyển Nam Kỳ viễn du thi đấu (với thành phần Tịnh, Tài, Cúi, Xê, Bạch, Bửu, Vẹn, Paccini, Vân Bông, Mạnh, Guichard, Quang, Tốt, Tiền, Đại). Tại Hông Kông, thắng 3, hòa 1 (1-1với Nam Hoa). Tại Philipin thắng 4 hoà 1, thua 2...

    - 1940, Đội Tuyển Nam Kỳ sang Hồng Kông thi đấu, thua Nam Hoa 0-1, thắng Macau 2-1, và Hồng Kông 3-0.

    - 1955, Đội TTM thi đấu giao hữu tại Pnôm Pênh và thua Cảnh Sát Cao Miên 1-3. 1962, Đội Tuyển Sài Gòn sang Indonesia thi đấu, thắng Jakarta 4-3, Sourabaga 2-0 và Tuyển Indonesia 2-1.

    Các giải khác

    - 1934, Giải Liên Cảng do Lãnh Sự Pháp ở Hồng Kông tổ chức tại Sài Gòn. Tuyển Nam Kỳ thắng Hồng Kông 3-1 và 6-0. Giải này sau đó vì nhiều lý do nên không được tổ chức nữa.

    - 1959, Giải Merdeka lần thứ 3: TTM đại diện VNCH thắng Ấn Ðộ 3-1, Nhật 3-2, Singapore 2-1, và chỉ thua Malaysia ở vòng đầu, chung cuộc đứng hạng ba trong số 9 nước tham dự.

    - 1961, Giải Bóng Ðá Quốc Tế tại Sài Gòn lần 1, VNCH đoạt chức vô địch VNCH - Indonesia 4-1 ; VNCH - Malaysia 1-0.

    - 1964, Giải Vô Ðịch Thiếu Niên Á Châu tranh tại Sài Gòn, Ðội Tuyển Thiếu Niên VNCH xếp thứ ba ở bảng loại và chung cuộc đứng thứ 7 trong số 8 đội tham dự. Hai đội Miến điện và Israël đồng vô địch, sau khi hòa 0-0 ở trận chung kết.

    - 1966, Giải Merdeka lần thứ 10: Ðội Tuyển VNCH thắng Singapore 5-0, Nhật Bản 3-0, Malaysia 5-2, Ðài Loan 6-1 đứng đầu bảng vòng loại (4 chiến thắng, 8 điểm, hiệu số bàn thắng bại 19/3), trên đội thứ nhì là Ấn Ðộ rất xa (6 điểm, 2 thắng, 2 hoà). Ðể dưỡng quân, Huấn Luyện Viên Weigang xếp thành phần trừ bị để đấu với Ấn Ðộ và chỉ thua 0-1, sau đó thắng Miến Ðiện 1-0 trong trận chung kết, đoạt cúp (Ðội Tuyển VNCH 1966, với thành phần tuyển thủ: Châu, Chinh, Ngôn, Mộng, Lắm, Tam Lang, Có, Hiển, Hội, Thanh, Vinh, Thuận, Chiêu, Quang, Chánh, Phụng, Ðức, Xê)

    - 1969, Giải King's Cup (Thái Lan), Ðội Tuyển VNCH xếp thứ ba sau khi thắng Tây Úc 3-1, Lào 7-0, hòa Singapore 1-1, thua Indonesia 1-3 và Đại Hàn 0-3.

    - 1971, Giải Presta Sukan lần 1 tại Singapore, Ðội Tuyển VNCH đồng vô địch với Ấn Ðộ sau khi hòa 0-0 ở trận chung kết.

    - 1971, Giải Vô Ðịch Quân Ðội khu Viễn Ðông (CISM), Ðội Tuyển Quân Ðội VNCH đoạt chức vô địch (với thành phần có Tiết Anh, Võ Thành Sơn, Quang Đức Vĩnh, Võ Bá Hùng...).

    - 1974, Giải Vô địch Học Sinh Á Châu tại Philipin, Ðội Tuyển Học Sinh VNCH xếp hạng ba sau khi thắng Thái Lan 3-1, trước đó ở vòng loại đã thắng Indonesia 3-1, Singapore 2-0 và thua Malaysia 1-2. Chức vô địch thuộc về Malaysia.
     
  9. neverback

    neverback Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    15/5/04
    Bài viết:
    2,290
    Nơi ở:
    Lục địa Mu
    Trong thế giới bóng đá có rất nhiều điều tưởng như nhỏ nhặt nhưng rất thú vị, ví như hai cái tên Athletic Bilbao và Aletico Madrid cùng của Tây Ban Nha mà đã thấy khác nhau rồi, hay xuất xứ các CLB, mối duyên nợ giữa các đội bóng…. nói chung là tất cả những gì liên quan đến bóng đá mà chúng ta có thể chưa biết.
    Bóng đá và chim có liên hệ gì với nhau không các bạn. Các bạn có thể cho rằng: thật vớ vẩn, chim thì có dính dáng gì đến bóng đá. Thế mà có đấy!
    Một số đội bóng ở Giải PL có những hình con chim trên huy hiệu hay logo của mình và biệt danh của các đội bóng cũng xuất phát từ đó mà ra. :D


    Gà bantam: Bradford City, Anh

    Chim sơn ca: Cardiff City, xứ Wales
    Barrow AFC, Anh

    Chim hoàng yến: Norwich City, Anh
    FC Nantes, Pháp

    Đại bàng đen: Bestika, TNK

    Đại bàng: Crystal Palace, Anh

    Chim ác là:Newcastle United, Anh
    Notts County, Anh

    Con cú: Sheffield Wednesday, Anh (đây là ngoại lệ vì sân của SW nằm trong quận Owlerton của Sheffield)

    Chim cổ đỏ: Bristol City, Anh
    Swindon Town, Anh

    Muông biển: Brighton & Hove Albion, Anh

    Thiên nga: Swansea City, xứ Wales

    Chim hoàng yến vàng: Fenerbache SK Istanbul, TNK
    St
     
  10. JakeSatan

    JakeSatan <b>◄The Red Devil►<br> -=Devils' King=-</b>

    Tham gia ngày:
    4/9/04
    Bài viết:
    8,039
    Nơi ở:
    Địa Ngục^.^
    10 vụ phản bội
    [​IMG]
    Figo, "tên phản bội" to gan nhất xứ bò tót.
    Luis Figo
    Chuyển từ Barcelona sang Real Madrid để được lĩnh 72.000 bảng/tuần, đây là quyết định vì tình yêu? Sự đối nghịch giữa Real và Barca còn hơn cả thù địch giữa Tin lành và Cơ đốc. Nhưng, bằng “nghị lực”, Figo đã vượt lên tất cả để trở thành tên... Judas to gan nhất ở xứ sở bò tót. Và trong một lần trở lại Camp Nou (năm 2002), Figo nhận được 1 rừng chai lọ, dao và cả... thủ lợn.
    Ronaldo
    Chấn thương 33 tháng ở Inter Milan là cực kỳ đen đủi nhưng Ronaldo cũng nhờ dịp đó mà anh nhận ra “người cha thứ 2” - Chủ tịch Massimo Moratti. Ấy thế mà, vừa nhận đủ 132 tuần lương (75.000 bảng/tuần), chờ Moratti trả tiền điều trị xong, “người ngoài hành tinh” Ronaldo đã đứng dậy, “vuốt đuôi”, rồi “dông” thẳng một mạch sang Real Madrid. Cay lắm nhưng báo chí Italia chỉ biết chửi với theo: “Real, hãy mua nốt Moratti!’
    Benito Carbone
    Từng khoác áo 14 CLB, tình yêu của Benito trở nên quá “vĩ đại”. Với Bradford, “Tôi sẽ ở lại đây vì cầu thủ, CĐV, BLĐ là 1 gia đình”. Với Feyenoord, “Trái tim tôi là dành cho Feyenoord”… Vậy thực ra thì trái tim anh thuộc về ai đây!?
    Pierre van Hooijdonk
    ‘‘7.000 bảng/tuần? OK! Chừng đó đủ. Nhưng không phải cho tôi mà là một đứa đánh giày!” và Pierre rời Celtic (1997) để đến Nottingham Forest với mức lương 4,5 triệu bảng/năm. Được đúng 11 trận, anh này lại chê ỏng chê eo “Forest là CLB hạng... gà” và chuyển đến Arnhem, rồi Benfica. Thậm chí, tháng 6/2003, Pierre còn quay lại kiện Forest đòi 650.000 bảng + 50.000 bảng tiền thưởng. Bó tay!
    Alf Common
    Đây được coi là kẻ phản bội lớn nhất thời “tiền sử”, người đầu tiên trên thế giới cán kỷ lục chuyển nhượng 1.000 bảng Anh. Cứ ở đâu mùi tiền “nặng” hơn là ở đó có Alf. Khởi nghiệp ở Sunderland, chạy sang Sheffield United năm 1901 vì 325 bảng, lộn lại Sunderland năm 1904 (520 bảng), bắt tàu đến Middlesbrough năm 1905 để phá kỷ lục thế giới (1.000 bảng)... Mọi chuyện đều có thể xảy ra, miễn là có tiền.
    Charlie Mitten
    Năm 1948, tiền vệ cánh của MU cũng chạy theo tiếng leng keng của những đồng tiền xu. Do không được tăng lương (10 bảng/tuần), Mitten đã “chạy” sang tận Santa Fe (Bogota, Colombia) chỉ vì 5.000 bảng (hoa hồng), mức lương mới 100 bảng/tuần, 1 ngôi nhà và 1 chiếc xe hơi. Nhưng rồi, do phạm luật, Mitten đã bị “đuổi” về Anh, bị cấm thi đấu 6 tháng và phạt 250 bảng.
    Fabrizio Ravanelli
    100 năm sau thời “tiền sử”, Alf Common có một hậu duệ xứng đáng mang quốc tịch Italia: Fabrizio Ravanelli. Yêu Boro, “Tôi dành cho Middlesbrough một tình yêu đặc biệt”. Nhưng vừa đặt chân đến Marseille: “Tôi không muốn trở lại Anh. Thành phố cảng này mới thật sự là thiên đường”. Lúc khoác áo Derby County, “Con người và thành phố này thật tuyệt với, tôi thậm chí có thể ở lại đây mà không cần lĩnh lương”.
    Louis Saha
    Ngay khi MU đưa ra đề nghị, tiền đạo của ĐT Pháp đã cuống cuồng gói ghém hành lý để chuyển từ London đến Manchester như thể nếu không đi ngay, anh sẽ... tắt thở! Bất chấp những lời chèo kéo của HLV Chris Coleman, của ông chủ Mohammed Al Fayed, Saha vẫn nằng nặc đòi đi và Luật Bosman đã “giúp” vụ phản bội diễn ra chóng vánh.
    [​IMG]
    Winston Bogarde
    Xét về thời gian, phải nói Bogarde là cầu thủ trung thành nhất thế giới, nhưng về tiền bạc, đây lại là vụ phản bội “chuối” nhất trong lịch sử. Kể từ năm 2000, hậu vệ người Hà Lan mới ra sân... 4 trận, tuy nhiên, vẫn lĩnh lương đều đều 40.000 bảng/tuần ở Chelsea. Đừng coi thường, sự lỳ lợm, trơ trẽn của Bogarde rất có giá: 8,3 triệu bảng/3 năm. Ngồi chơi ở đâu để kiếm chừng ấy tiền!
     
  11. Xú Quận Mã

    Xú Quận Mã Thành viên cấp 5

    Tham gia ngày:
    9/11/04
    Bài viết:
    834
    Nơi ở:
    Red and Black Brigades
    Một số tin về các huyền thoại:
    +Alfredo Di Stefano :sinh ngày 4/7/1926,biệt danh "người Đức", đá 510 trận ghi 418 bàn
    -khoác áo đội tuyển Argentina 6 trận ghi 6 bàn
    -khoác áo đội tuyển Tây ban nha 31 trận ghi 23 bàn
    Thành tích: 2 lần VĐQG Argentina với River,VĐ copa với ĐT Argentina,3 lần VĐ Colombia với Millinaros,8 lần VĐQG Tây ban nha 4 lần đoạt cúp C1,1 cúp liên lục địa với Real
    +Pele (Edson Arantes Do Nascimento): sinh ngày 23/10/1940, Vua bóng đá đã chơi 1356 trận ghi 1281 bàn
    Thành tích:16 lần VĐQG và VĐ bang Sao Paulo,2 Copa Libertadores, 1 cúp liên lục địa với Santos,người duy nhất dành 3 cúp thế giới với tư cách 1 cầu thủ
    +Johan Cruyff: sinh ngày 25/4/1947, biệt danh "thánh Johan"
    Thành tích :10 lần VĐQG Hàlan ,3 cúp C1, 1 cúp liên lục địa với Ajax
    +Diego Armando Maradona:sinh ngày 30/10/1960, cầu thủ xuất sắc nhất mà bóng đá thế giới sản sinh ra, "Cậu bé vàng" đã chơi 686 trận ghi 350 bàn
    Thành tích đáng chú ý nhất là VĐTG với ĐT Argentina năm 86, 2 lần VĐQG Italia với Napoli, và rất nhiều ...không kể hết được.
    +Eric Cantona: 24/5/1966, King Eric đã chơi cho MU 181 trận ghi 80 bàn, đá cho tuyển Pháp 45 trận ghi 19 bàn.
    Thành tích: 5 chức VĐQG Anh với MU và Leeds, 2 cúp FA, vô địch Pháp 1 lần với Marseille
     
    Onikage thích bài này.
  12. JakeSatan

    JakeSatan <b>◄The Red Devil►<br> -=Devils' King=-</b>

    Tham gia ngày:
    4/9/04
    Bài viết:
    8,039
    Nơi ở:
    Địa Ngục^.^
    Luật I - SÂN THI ĐẤU

    1. Kích thước: sân hình chử nhật, chiều dài tối đa là 120 mét và tối thiểu là 90 mét, chiều ngang tối đa 90 mét và tối thiểu là 45 mét. Sân theo tiêu chuẩn quốc tế có kích thước tối đa là 110 mét x 75 mét và tối thiểu 100 mét x 64 mét.

    2. Các đường giới hạn, đường biên: rộng không quá 0, 12 mét. Mỗi góc sân có cột cờ không nhọn đầu, cao tối thiểu 1 mét 50. Điểm giữa đường giới hạn giữa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân hay còn gọi là điểm giao bóng. Lấy điểm này làm tâm kẻ một đường tròn bán kết 9 mét 15.

    3. Khu cầu môn: từng đường biên ngang của mỗi phần sân, cách cột cầu môn 5 mét 50 kẻ vào sân hai đoạn thẳng dài 5 mét 50, vuông góc với đường biên cuối sân và kẻ đường nối liền hai đoạn thẳng ấy gọi là khu vực 5 mét 50.

    4. Khu phạt đền: từng đường biên ngang của mỗi phần sân, cách cột cầu môn 16 mét 50 kẻ vào sân hai đoạn thẳng dài 16 mét 50, vuông góc với đường biên cuối sân và kẻ đường nối liền hai đoạn thẳng ấy gọi là khu vực 16 mét 50. Trong mỗi khu 16 mét 50 có một điểm được đánh dấu rõ ràng, đường kính 0, 22 mét, cách điểm giữa đường biên ngang 11 mét. Đó là điểm đá quả phạt 11 mét, hay còn gọi là phạt đền (penalty). Lấy tâm là điểm 11 mét kẻ 1 cung tròn bán kính 9 mét 15 ngoài khu 16 mét 50, để xác định vị trí đứng của các cầu thủ (ngoại trừ cầu thủ thực hiện quả 11 mét và thủ môn) khi thực hiện quả phạt.

    5. Khu đá phạt góc: Lấy tâm là chân mỗi cột cờ góc, kẻ vào trong sân 1/ 4 vòng tròn có bán kính 1 mét. Đây là vị trí đặt quả bóng đá phạt góc. Một đoạn thẳng kẻ vuông góc vơi đường biên ngang, cách cột cờ góc 10 mét, giúp trọng tài xác định vị trí đứng của cầu thủ phòng ngự khi thực hiện quả phạt góc.

    6. Khung cầu môn: đặt ở đường biên ngang cuối sân, gồm 2 cột dọc cách đều các cột cờ góc và khoảng cách giữa hai cột là 7 mét 32 (tính từ mép trong của cột), chiều cao cột là 2 mét 44 (tính từ mép dưới xà ngang). Các cột dọc và xà ngang có cùng kích thước và không quá 0, 12 mét. Lưới cầu môn phải làm bằng sợi vải, sợi đay hoặc sợi nylon.

    Luật II - BÓNG THI ĐẤU

    Bóng phải hình tròn. Chất liệu vỏ ngoài của bóng phải bằng da hoặc chất liệu khác được FIFA công nhận.

    - Chu vi quả bóng không quá 0, 17 mét và không nhỏ hơn 0, 68 mét.

    - Trọng lượng: không nặng hơn 450 gram và nhẹ hơn 410 gram.

    - Áp suất của bóng từ 0, 6 đến 1, 1 átmốtphe (600 đến 1100gram/cm2).

    - Chỉ có trọng tài chính mới được quyền thay bóng trong trận đấu.

    Luật III - SỐ LƯỢNG CẦU THỦ

    - Trong một trận đấu phải có 2 đội bóng. Mỗi đội có tối đa 11 cầu thủ trên sân, trong đó có 1 thủ môn.

    - Một trận đấu không hợp lệ nếu một trong hai đội bóng không có tối thiểu 7 cầu thủ trên sân. Đội bóng không đủ cầu thủ chơi trên sân sẽ bị xử thua.

    - Một cầu thủ bị đuổi khỏi sân trước khi trận đấu bắt đầu thì đội bóng đó có quyền thay thế bằng một cầu thủ khác. Trường hợp cầu thủ bị đuổi sau khi trận đấu bắt đầu thì không được phép thay thế cầu thủ dự bị khác.

    Luật IV - TRANG PHỤC

    - Trang phục cơ bản và bắt buộc của một cầu thủ gồm: áo, quần, vớ, giầy và bọc bảo vệ ống chân.

    - Bọc ống chân phải được vớ dài phủ kín. Nguyên liệu của bọc ống chân phải thích hợp (bằng cao su, plastic, sáp hoặc các chất liệu tương tự) và có khả năng bảo vệ cao.

    - Cầu thủ không được mang bất cứ vật gì gây nguy hiểm cho mình và cầu thủ khác khi vào sân.

    - Thủ môn phải mặc áo khác màu với các cầu thủ trên sân và trọng tài.

    Luật V - TRỌNG TÀI CHÍNH

    - Mỗi trận đấu có 1 trọng tài chính để điều khiển. Quyền hạn và việc thi hành quyền lực của trọng tài chính do Luật bóng đá qui định, có hiệu lực khi trọng tài bước vào sân.

    - Trọng tài có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm, kể cả trong những lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định của trọng tài chính, kể cả kết quả của trận đấu là quyết định cuối cùng.

    - Trang phục của trọng tài khác màu hai đội.

    Luật VI - TRỢ LÝ TRỌNG TÀI

    Trong mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý trọng tài được xác định rõ nhiệm vụ như sau:

    - Xác định bóng vượt qua giới hạn của sân.

    - Xác định đội được hưởng phạt góc, đá quả phát bóng trong khu 5 mét 50 hoặc ném biên.

    - Thời điểm cầu thủ đội tấn công phạm luật việt vị. - Xác định lỗi khiếm nhã hoặc sự cố khác xãy ra ngoài tầm nhìn của trọng tài chính.

    - Phối hợp thực hiện thủ tục thay thế cầu thủ. Trường hợp trợ lý trọng tài không đảm đương được công việc, phạm sai sót thì trọng tài chính có quyền thay thế bằng trọng tài thứ tư.

    Luật VII - THỜI GIAN TRẬN ĐẤU

    - Một trận đấu được chia làm 2 hiệp và mỗi hiệp 45 phút.

    - Thời gian nghỉ giữa hai hiệp không quá 15 phút. Điều lệ thi đấu phải xác định rõ thời gian nghỉ giữa hiệp.

    - Việc bù giờ đã mất trong hiệp đấu vì các lý do: thay thế cầu thủ mất nhiều thời gian, cầu thủ chấn thương, nằm sân nhiều, cầu thủ có hành động kéo dài thời gian hoặc bất kỳ lý do nào khác.

    - Trọng tài chính có quyền kết thúc trận đấu sớm hơn qui định vì một lý do nào đó (như an ninh, bạo động), nếu xét thấy thời gian không nhiều thì kết quả trận đấu được trọng tài chính công nhận, ngược lại trận đấu sẽ phải tổ chức lại.

    Luật VIII - QUẢ GIAO BÓNG BẮT ĐẦU TRẬN ĐẤU VÀ QUẢ TUNG BÓNG

    1. Quả giao bóng:

    - Trước trận đấu bắt đầu bằng việc chọn sân. Đội chọn sân thì đội kia được giao bóng.

    - Cầu thủ của đội mỗi đội phải đứng trên phần sân nhà, đội không giao bóng phải đứng bên ngoài vòng cung giữa sân (tức khoảng cách 9 mét 15). Khi trọng tài nổi còi bắt đầu trận đấu, cầu thủ giao bóng đá quả bóng ở vị trí trung tâm sân, bóng phải lăn đủ 1 vòng thì trận đấu mới được coi đã bắt đầu. Cầu thủ đá phải giao bóng đầu tiên không được chạm bóng lần hai.

    - Sau mỗi bàn thắng, đội bị lọt lưới thực hiện quả giao bóng từ chấm giữa sân.

    - Bắt đầu hiệp hai, hai đội đổi sân và đội không giao bóng khởi đầu trận đấu ở hiệp 1 sẽ được giao bóng đầu hiệp hai.

    - Khi cầu thủ thực hiện quả giao bóng không đúng luật thì phải thực hiện lại lần hai. Trường hợp, cầu thủ đội giao bóng tiếp tục phạm luật lần hai thì đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp.

    2. Quả tung bóng, hay còn gọi là quả "thả bóng chạm đất" được thực hiện sau khi trọng tài tạm dừng trận đấu.

    Luật IX - BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC

    Bóng ngoài cuộc:

    - Khi đã vượt hẳn ra ngoài đường biên dọc hoặc đường biên ngang, dù bóng ở trên không hay dưới mặt sân.

    - Khi trọng tài thổi còi dừng trận đấu.

    Bóng trong cuộc:

    - Tức ngoài hai trường hợp vừa nêu trong phần bóng ngoài cuộc.

    - Kể cả các trường hợp sau: bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc, bóng bật vào sân từ trọng tài chính hoặc trợ lý trọng tài đứng bên trong sân, khi trọng tài chưa thổi dừng trận đấu sau một hành động phạm luật của cầu thủ.

    Luật X - BÀN THẮNG HỢP LỆ

    Bàn thắng được công nhận là hợp lệ khi toàn bộ quả bóng đã vượt qua đường cầu môn giữa hai cột dọc khung thành và dưới xà ngang, ngoại trừ: -

    Những trường hợp đặc biệt do luật qui định.

    - Quả bóng do cầu thủ tấn công dùng tay hoặc cánh tay ném, ôm hoặc đấm vào cầu môn.

    Luật XI - LUẬT VIỆT VỊ

    1. Một cầu thủ ở vị trí việt vị là khi cầu thủ đó đứng gần đường biên ngang cuối sân đối phương hơn bóng, trừ các trường hợp:

    - Cầu thủ đó đang ở phần sân đội mình.

    - Có ít nhất 2 cầu thủ đối phương gần biên ngang sân đối phương hơn.

    2. Một cầu thủ đứng ở vị trí việt vị, nhưng vẫn chưa coi là vi phạm luật việt vị nếu:

    - Không tham gia vào tình huống tấn công đó.

    - Không gây trở ngại cho đội phòng ngự.

    - Không tìm cách chiếm lợi thế trong vị trí việt vị.

    - Nhận bóng trực tiếp từ quả ném biên, quả phát bóng. Việt vị chỉ được tính từ khi cầu thủ đồng đội chuyền bóng. Trọng tài cho đội phòng ngự được hưởng quả phạt việt vị bằng quả phạt gián tiếp ngay vị trí phạm lỗi, nhưng nếu điểm phạt trong khu cầu môn thì có thể đá ở bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn.

    Luật XII - LỖI VÀ HÀNH VI THIẾU ĐẠO ĐỨC

    1. Những lỗi phạt trực tiếp:

    - Đá hoặc tìm cách đá vào người đối phương.

    - Ngáng chân đối phương.

    - Nhảy vào ngừơi đối phương.

    - Chèn đối phương.

    - Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.

    - Xô đẩy đối phương.

    Hoặc phạm 1 trong 4 lỗi sau đây:

    - Khi xoạc bóng, chân tiếp xúc với người đối phương trước khi chạm bóng.

    - Lôi kéo đối phương.

    - Nhổ nước bọt vào mặt đối phương.

    - Cố tình dùng tay chơi bóng. Nếu điểm phạm lỗi trong khu vực 11 mét, trọng tài cho đội tấn công được hưởng quả 11 mét.

    2. Những lỗi phạt gián tiếp:

    Một cầu thủ phạm 1 trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt gián tiếp:

    - Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có lối chơi nguy hiểm.

    - Cố tình ngăn cản đường di chuyển của đối phương.

    - Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.

    - Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác, không được đề cập ở luật XII, mà trận đấu phải dừng để cảnh cáo hoặc đuổi cầu thủ.

    3. Những lỗi cảnh cáo:

    Cầu thủ sẽ bị cảnh cáo bằng thẻ vàng nếu phạm vào 1 trong 7 lỗi sau:

    - Hành vi phi thể thao.

    - Hành động, lời nói phản đối quyết định của trọng tài và các thành viên khác trong sân.

    - Vi phạm luật nhiều lần.

    - Hành vi kéo dài thời gian.

    - Không chấp hành qui định khoảng cách 9 mét 15 trong các quả đá phạt.

    - Cố tình rời sân khi chưa được phép của trọng tài.

    - Vào sân trở lại mà không xin phép trọng tài.

    4. Những lỗi bị đuổi khỏi sân:

    Cầu thủ bị phạt thẻ đỏ đuổi khỏi sân nếu phạm một trong những lỗi sau đây:

    - Vi phạm lỗi đặc biệt nghiêm trọng.

    - Có hành vi bạo lực.

    - Nhổ nước bọt vào đối phương hay bất kỳ ai khác.

    - Cố tình phạm lỗi nhằm ngăn cản một đường bóng ghi bàn rõ rệt.

    - Có lời lẽ kích động, lăng mạ hay thô tục.

    - Cố tình dùng tay chơi bóng nhằm ngăn chặn một cơ hội ghi bàn rõ rệt (trừ thủ môn trong khu 16 mét 50).

    - Nhận thẻ vàng thứ 2 trong trận đấu.

    Ngoài ra, FIFA lưu ý "động tác xoạc bóng từ phía sau gây nguy hiểm cho sự an toàn cơ thể đối phương phải được xem là hành vi cực kỳ nghiêm trọng". Cầu thủ phạm lỗi phải bị truất quyền thi đấu ngay lập tức.

    Luật XIII - NHỮNG QUẢ PHẠT

    - Phạt trực tiếp.

    - Phạt gián tiếp.

    Khi thực hiện các quả phạt, bóng phải được đặt “chết” tại chỗ, cầu thủ đá phạt không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác.

    1. Quả phạt trực tiếp:

    - Bóng đá trực tiếp vào cầu môn đối phương, bàn thắng được công nhận.

    - Nếu bóng đá trực tiếp vào cầu môn đội nhà, bàn thắng không được công nhận và đội đối phương được đá quả phạt góc.

    2. Quả phạt gián tiếp:

    - Ký hiệu: trọng tài xác nhận quả gián tiếp bằng cách giơ thẳng cánh tay lên cao và giữ nguyên tư thế đó cho đến khi quả phạt đã thực hiện, bóng đã chạm cầu thủ khác hoặc ra ngoài các đường giới hạn sân.

    - Bóng vào cầu môn:

    + Bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, đã chạm một cẩu thủ khác.

    + Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương, đội đối phương được hưởng quả đá phạt bóng.

    + Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội nhà, đội đối phương được hưởng quả phạt góc.

    Với thủ môn có 5 lỗi vi phạm sau đây bị phạt gián tiếp:

    - Di chuyển quá 4 bước khi giữ bóng bằng tay, đập bóng xuống đất (nhồi bóng), rồi tung bóng lên và bắt lại bóng mà không đưa bóng vào cuộc.

    - Sau khi ôm bóng di chuyển đủ 4 bước, thả bóng lăn vào cuộc lại nhận bóng lại bằng tay.

    - Dùng tay chạm bóng do đồng đội đá về bằng chân.

    - Bắt bóng trực tiếp từ quả ném biên của đồng đội.

    - Theo nhận định của trọng tài, thủ môn có hành động kéo dài thời gian (câu giờ).
     
  13. JakeSatan

    JakeSatan <b>◄The Red Devil►<br> -=Devils' King=-</b>

    Tham gia ngày:
    4/9/04
    Bài viết:
    8,039
    Nơi ở:
    Địa Ngục^.^
    Các trận chung kết Cúp C1 châu Âu

    [​IMG]

    1956 Parc des Princes, Paris

    Real Madrid - Reims 4-3
    * Real Madrid (HLV Villalonga): Alonso; Atienza, arquitos, Lesmes; Munoz, Zarraga; Joseito, Marchal, Di Stefano, Rial, Gento
    * Reims (HLV Batteux): Jacquet; Zimny, Jonquest, Giraudo; Leblond, Siatka; Hidalgo, Glovacki, Kopa, Bliard, Templin.
    Ghi bàn: Real Madrid - Di Stefano (14'), Rial (30', 79'); Marquitos (67'); Reims - Leblond (6'), Templin (10'), Hildago (62')

    1957 Bernabeu, Madrid

    Real Madrid - Fiorentina 2-0
    * Real Madrid (HLV Villalonga): Alonso; Torres, Marquitos, Lesmes; Muñóz, Zárraga; Kopa, Mateos, Di Stéfano, Rial, Gento
    * AC Fiorentina (HLV Bernardini): Sarti; Magnini, Orzan, Cervato; Scaramucci, Segato; Julinho, Gratton, Virgili, Montuori, Bizzarri.
    Ghi bàn: Di Stefano (70'), Gento (76')

    1958 Heysel Stadium, Brussels

    Real Madrid - AC Milan 3-2
    * Real Madrid (HLV Carniglia): Alonso; Atienza, Santamaria, Lesmes; Santisteban, Zarraga; Kopa, Joesito, Di Stefano, Rial, Gento
    * AC Milan (HLV Viani): Soldan; Fontana, Maldini, Beraldo; Bergamaschi, Radice;
    Danova, Liedholm, Schiaffino, Grillo, Cucchiaroni.
    Ghi bàn: Real Madrid - Di Stefano (74'), Rial (79'), Gento (104'); AC Milan - Schiaffino (69'), Grillo (78')

    1959 Neckarstadion, Stuttgart

    Real Madrid - Reims 2-0
    * Real Madrid (HLV Carniglia): Dominguez; Marquitos, Santamaria, Zarraga; Santisteban, Ruiz; Kopa, Meteos, Di Stefano, Rial, Gento
    * Stade de Reims (HLV Batteux) Colonna; Rodzik, Jonquet, Giraudo; Penverne, Leblond; Lamartine, Bliard, Fontaine, Plantoni, Vincent.
    Ghi bàn: Mateos (2'), Di Stefano (47')

    1960 Hampden Park, Glasgow

    Real Madrid - Eintracht Frankfurt 7-3
    * Real Madrid (HLV Múñoz) Domínguez; Marquitos, Santamaría, Pachin; Vidal, Zarraga; Canario, Del Sol, Di Stéfano, Puskás, Gento
    * Eintracht Frankfurt (HLV Oswald)Loy; Lutz, Eigenbrodt, Höfer; Wellbächer, Stinka;
    Kress, Lindner, Stein, Pfaff, Meier.
    Ghi bàn: Real Madrid - Di Stefano (27', 30', 75'), Puskas (45', 56', 60', 71'); Eintracht Frankfurt - Kress (18'), Stein (72', 76')

    1961 Wankdorf Stadium, Berne

    Benfica - Barcelona 3-2
    * SL Benfica (HLV Guttmann): Costa Pereira; Joao, Germano, Angelo; Neto, Cruz;
    Augusto, Santana, Aguas, Coluna, Cavem
    * FC Barcelona (HLV Orizaola) Ramallets; Foncho, Gensana, Gracia; Verges, Garay;
    Kubala, Kocsis, Evaristo, Suarez, Czibor.
    Ghi bàn: Benfica - Aguas (30'), Ramallets (32/phản lưới), Coluna (55'); Barcelona - Kocsis (20'), Czibor (75')

    1962 Olympisch Stadion, Amsterdam

    Benfica - Real Madrid 5-3
    * SL Benfica (HLV Guttmann) Costa Pereira; João, Germano, Angelo; Cavem, Cruz;
    Augusto, Eusébio, Aguas, Coluna, Simões.
    * Real Madrid (HLV Munoz) Araquistain; Casado, Santamaría, Miera; Felo, Pachin;
    Tejada, Del Sol, Di Stéfano, Puskás, Gento.
    Ghi bàn: Benfica - Aguas (25'), Cavem (34'), Eusebio (65', 68'); Real Madrid - Puskas (17', 23', 38')

    1963 Wembley Stadium, London

    AC Milan - Benfica 2-1
    * AC Milan (HLV Rocco) Ghezzi; David, Maldini, Trebbi; Benitez, Trapattoni;
    Pivatelli, Sani, Altafini, Rivera, Mora
    * SL Benfica (HLV Riera)Costa Pereira; Cavem, Cruz, Humberto, Raul; Coluna, Santana; Augusto, Torres, Eusebio, Simoes.
    Ghi bàn: AC Milan - Altafini (58', 70'); Benfica - Eusebio (19')

    1964 Prater Stadium, Vienna

    Inter Milan - Real Madrid 3-1
    * Inter (HLV Herrera)Sarti; Burgnich, Guarneri, Facchetti; Tagnin, Picchi;
    Jair, Mazzola, Milani, Suarez, Corso
    * Real Madrid (HLV Munoz) Vicente; Isidro, Santamaria, Pachin; Zoco, Muller; Amancio, Felo, Di Stefano, Puskas, Gento.
    Ghi bàn: Inter - Mazzola (43', 76'); Milani (61'); Benfica - Felo (70')

    1965 San Siro Stadium, Milan

    Inter Milan - Benfica 1-0
    * Inter (HLV Herrera) Sarti; Burgnich, Guarneri, Facchetti; Bedin, Picchi;
    Jair, Mazzola, Peiro, Suarez, Corso
    * SL Benfica (HLV Schwartz) Costa Pereira; Cavem, Cruz, Germano, Raul; Neto, Coluna; Augusto, Eusebio, Torres, Simoes.
    Ghi bàn: Jair (42')

    1966 Heysel Stadium, Brussels

    Real Madrid - Partizan Belgrade 2-1
    * Real Madrid (HLV Munoz) Araquistain; Pachin, De Felipe, Zoco; Sanchis; Pirri, Velazquez; Serena, Amancio, Grosso, Gento
    * FK Partizan (HLV Gegic) Soskic; Jusufi, Rasovic, Vasovic, Mihailovic; Kovacevic, Becejac; Bajic, Hasanagic, Galic, Pirmajer.
    Ghi bàn: Real Madrid - Amancio (70'), Serena (75'); Partizan - Vasovic (55')

    1967 Estadio Nacional, Lisbon

    Celtic - Inter 2-1
    * Celtic (manager Stein) Simpson; Craig, McNeill, Gemmell; Murdoch, Clark;
    Johnstone, Wallace, Chalmers, Auld, Lennox
    * Inter (HLV Herrera) Sarti; Burgnich, Guarneri, Facchetti; Bedin, Picchi;
    Domenghini, Mazzola, Cappellini, Bicicli, Corso.
    Ghi bàn: Celtic - Gemmell (63'), Chalmers (85'); Inter - Mazzola (8'/11m)

    1968 Wembley Stadium, London

    Manchester United - SL Benfica 4-1
    * Manchester United (manager Busby) Stepney; Brennan, Stiles, Foulkes, Dunne; Crerand, Charlton, Sadler; Best, Kidd, Aston
    * SL Benfica (HLV Otto Gloria) Henrique; Adolfo, Humberto, Jacinto, Cruz; Graca, Coluna, Augusto; Eusebio, Torres, Simoes.
    Ghi bàn: M.U - Charlton (53', 99'), Best (93'), Kidd (94'); Benfica - Graca (75')

    1969 Bernabeu Stadium, Madrid

    AC Milan - Ajax 4-1
    * AC Milan (HLV Rocco) Cudicini; Malatrasi, Anquilletti, Schnellinger, Rosato, Trappattoni; Lodetti, Rivera; Hamrin, Sormani, Prati
    * Ajax (HLV Michels) Bals; Suurbier (Muller), Hulshoff, Vasovic, Van Duivenbode; Pronk, Groot (Nuninga); Swart, Cruijff, Danielsson, Keizer.
    Ghi bàn: AC Milan - Prati (7', 40', 75'), Sormani (67'); Ajax - Vasovic (60')

    1970 San Siro Stadium, Milan

    Feyenoord - Celtic 2-1
    * Feyenoord (HLV Happel) Pieters Graafland; Romeijn (Haak), Laseroms, Israël, Van Duivenbode; Hasil, Jansen; Van Hanegem, Wery, Kindvall, Moulijn
    * Celtic (manager Stein) Williams; Hay, Brogan, McNeill, Gemmell; Murdoch, Auld (Connelly); Johnstone, Lennox, Wallace, Hughes.
    Ghi bàn: Celtic - Gemmell (29'); Feyenoord - Israel (31'), Kindvall (117')

    1971 Wembley Stadium, London

    Ajax - Panathinaikos 2-0
    * Ajax (HLV Michels) Stuy; Neeskens, Hulshoff, Vasovic, Suurbier; Rijnders (Blankenburg), G.Mühren; Swart (Haan), Cruijff, Van Dijk, Keizer
    * Panathinaikos (HLV Puskas) Oeconomopoulos; Tomaras, Kapsis, Sourpis, Vlahos; Kamaras, Elefterakis;Grammos, Antoniadis, Domazos, Filakouris
    Ghi bàn: Van Dijk (5'), Kapsis (87'/phản lưới).

    1972 Feyenoord Stadium, Rotterdam

    Ajax - Inter 2-0
    * Ajax (HLV Kovacs) Stuy; Suurbier, Blankenburg, Hulshoff, Krol; Neeskens, Haan, G.Mühren; Swart, Cruijff, Keizer
    * Internazionale (HLV Invernizzi) Bordonl Burgnich, Facchetti, Bellugi, Oriali; Giubertoni (Bertini), Bedin, Frustalupi; Jair (Pellizarro), Mazzola, Boninsegna.
    Ghi bàn: Cruyff (47', 78')

    1973 Crvena Zvezda Stadium, Beograd

    Ajax - Juventus 1-0
    * Ajax (HLV Kovacs) Stuy; Suurbier, Hulshoff, Blankenburg, Krol; Neeskens, G.Mühren, G.Haan; Rep, Cruijff, Keizer
    * Juventus (HLV Vycpalek)Zoff; Salvadore, Marchetti, Morini, Longobucco; Causio (Cuccureddu), Furino, Capello; Altafini, Anastasi, Bettega (Haller).
    Ghi bàn: Rep (4')

    1974 Heysel Stadium, Brussels

    Bayern Munich - Atletico Madrid 4-0
    * Bayern Munich Maier; Hansen, Breitner, Schwarzenbeck, Beckenbauer; Roth, Zobel,
    Hoeness; Torstensson, Müller, Kapellmann
    * Atletico Madrid Reina; Melo, Capon, Adelardo (benegas), Heredia; Luis, Eusebio, Alberto(Ufarte); Garate, Salcedo, Becerra.
    Ghi bàn: Hoeness (28', 83'), Muller (58', 71')

    1975 Parc des Princes, Paris

    Bayern Munich - Leeds 2-0
    * Bayern Munich (HLV Cramer) Maier; Beckenbauer, Schwarzenbeck, Dürnberger, Andersson (Weiss); Zobel, Roth, Kapellmann; Hoeness (Wunder), Müller, Torstensson
    * Leeds United (HLV Armfield) Stewart; Reaney, F.Gray, Madeley, Hunter; Bremner, Giles, Yorath (E.Gray); Lorimer, Clarke, Jordan.
    Ghi bàn: Roth (71'), Müller (81')

    1976 Hampden Park, Glasgow

    Bayern Munnich - St Etiennes 1-0
    * Bayern München (HLV Cramer) Maier; Hansen, Schwarzenbeck, Beckenbauer, Horsmann; Roth, Dürnberger, Kapellmann, K.H.Rummenigge; Müller, Hoeness
    * AS Saint-Etienne: Curkovic; Repellini, Piazza, Lopez, Janvion; Bathenay, Santini, Larque; P.Revelli, H.Revelli, Sarramagna (Rocheteau)
    Ghi bàn: Roth (57')

    1977 Stadio Olimpico, Rome

    Liverpool - Moenchengladbach 3-1
    * Liverpool (HLV Paisley) Clemence; Neal, Jones, Smith, Hughes; Case, Kennedy, Callaghan, McDermott; Keegan, Heighway.
    * Borussia Monchengladbach (HLV Lattek) Kneib; Vogts, Klinkhammer, Wittkamp, Schäffer; Wohlers (Hannes), Wimmer (Kulik), Stielike, Bonhof; Simonsen, Heynckes.
    Ghi bàn: Liverpool - McDermott (29'), Smith (67'), Neal (87'); Gladbach - Simonsen (50')

    1978 Wembley Stadium, London

    Liverpool - Club Brugge 1-0
    * Liverpool (HLV Paisley) Clemence; Neal, Thompson, Hansen, Hughes; McDermott, Kennedy, Souness; Case (Heighway), Fairclough, Dalglish
    * Club Brugge KV (HLV Happel) Jensen; Bastijns, Krieger, Leekens, Maes (Volders); Cools, Decubber, Vandereycken, Kü (Sanders); Simeon, Sörensen.
    Ghi bàn: Dalglish (64')

    1979 Olympic Stadium, Munich

    Nottingham Forest - Malmo FF 1-0
    * Nottingham Forest (HLV Clough) Shilton; Anderson, Lloyd, Burns, Clark; Francis, McGovern, Bowyer, Robertson; Woodcock, Birtles
    * Malmo FF (HLV Houghton) Moller; R.Andersson, Jonsson, M.Andersson, Erlandsson; Tapper (Malmberg), Ljungberg, Prytz, Kinnvall; Hansson (T.Andersson), Cervin.
    Ghi bàn: Francis (45')

    1980 Bernabeu Stadium, Madrid

    Nottinham Forest - Hamburg 1-0
    * Nottingham Forest (HLV Clough) Shilton; Anderson, Gray (Gunn), Lloyd, Burns, Clark; O'Neill, McGovern, Bowyer, Mills (O'Hare), Robertson; Birtles
    * Hamburger SV (HLV Zebec) Kargus; Kaltz, Nogly, Buljan, Jakobs; Hieronymus (Hrubesch), Magath, Memering; Keegan, Reimann, Milewski
    Ghi bàn: Robertson (21')

    1981 Parc des Princes, Paris

    Liverpool - Real Madrid 1-0
    * Liverpool (HLV Paisley) Clemence; Neal, Thompson, Hansen, A.Kennedy; Lee, McDermott, Souness, R.Kennedy; Dalglish (Case), Johnson
    * Real Madrid (HLV Boskov) Agustin; Cortes (Pineda), Navajas, Sabido; Del Bosque, Angel, Camacho, Stielike; Juanito, Santillana, Cunningham.
    Ghi bàn: Kennedy (82')

    1982 Feyenoord Stadion, Rotterdam

    Aston Villa - Bayern Munich 1-0
    * Aston Villa (HLV Barton) Rimmer (Spink); Swain, Evans, McNaught, Williams; Bremner, Cowans, Mortimer; Shaw, Withe, Morley
    * Bayern München (HLV Csernai) Muller; Dremmler, Weiner, Augenthaler, Horsmann; Mathy (Guttler), Breitner, Kraus(Niedermayer), Durnberger; Rummenigge, Hoeness
    Ghi bàn: Peter Withe (67')

    1983 Olympiako Stadio, Athína

    Hamburg - Juventus 1-0
    * Hamburg (HLV Happel) Stein; Kaltz, Hieronymus, Jakobs, Wehmeyer; Groh, Rolff, Magath, Milewski; Bastrup (Von Heesen), Hrubesch
    * Juventus (HLV Trapattoni) Zoff; Gentile, Brio, Scirea, Cabrini; Bonini, Tardelli, Bettega; Platini, Rossi (Marocchino), Boniek.
    Ghi bàn: Magath (7')

    1984 Stadio Olimpico, Roma

    Liverpool - AS Roma 1-1
    * Liverpool (HLV Fagan) Grobbelaar; Neal, Lawrenson, Hansen, A.Kennedy; Johnston (Nicol), Lee, Souness, Whelan; Dalglish (Robinson), Rush
    * Roma (HLV Liedholm) Tancredi; Nappi, Bonetti, Righetti, Nela; Di Bartolomei, Falcao, Cerezo (Strukeli); Conti, Pruzzo (Chierico), Graziani
    Ghi bàn: Liverpool - Neal (13'); Roma - Pruzzo (42')
    Liverpool thắng 4-2 bằng thi đá 11m.
    Liverpool: Nicol (hỏng), Neal, Souness, Rush, Kennedy
    Roma: Di Bartolomei, Conti (hỏng), Righetti, Graziani (hỏng).

    1985 Heysel Stadium, Bruxelles

    Juventus - Liverpool 1-0
    * Juventus (HLV Trapattoni) Tacconi; Favero, Cabrini, Brio, Scirea; Bonini, Platini, Tardelli; Briaschi (Prandelli), Rossi (Vignola), Boniek
    * Liverpool (HLV Fagan) Grobbelaar; Neal, Beglin, Lawrenson (Gillespie), Hansen;
    Nicol, Dalglish, Whelan, Wark; Rush, Walsh (Johnson).
    Ghi bàn: Platini (56'/11m)

    1986 Sánchez Pizjuán, Sevilla

    Steaua Bucarest - Barcelona 0-0
    * Steaua Bucuresti (HLV Jenei) Ducadam; Iovan, Belodedici, Bumbescu, Barbulescu; Balint, Balan (Iordanescu), Bölöni, Majaru; Lacatus, Piturca (Radu)
    * FC Barcelona (HLV Venables)Urruti; Gerardo, Migueli, Alesanco, Julio Alberto; Víctor, Marcos, Schuster (Moratalla), Pedraza; Archibald (Pichi Alonso), Carrasco
    Steaua thắng 2-0 bằng thi đá 11m
    Steaua: Majaru (hỏng), Bölöni (hỏng), Lacatus, Balint
    Barcelona: Alesanco (hỏng), Pedraza (hỏng), Pichi Alonso (hỏng), Marcos (hỏng)

    1987 Prater Stadium, Vienna

    FC Porto - Bayern Munich 2-1
    * FC Porto (HLV Jorge) Mlynarczyk; Joao Pinto, Eduardo Luis, Celso, Inacio (Frasco); Quim (Juary), Magalhaes, Madjer, Sousa, Andre; Futre
    * Bayern Munich (HLV Lattek) Pfaff; Winklhofer, Nachtweih, Eder, Pflüger; Flick (Lunde), Brehme, Matthäus, M.Rummenigge; Hoeness, Kögl.
    Ghi bàn: Bayern - Kogl (24'); Porto - Madjer (77'), Juary (79')

    1988 Neckarstadion, Stuttgart

    PSV Eindhoven - Benfica 0-0
    * PSV Eindhoven (HLV Hiddink) Van Breukelen; Gerets, Van Aerle, R.Koeman, Nielsen, Heintze; Vanenburg, Linskens, Lerby; Kieft, Gillhaus (Janssen 107)
    * SL Benfica (HLV Toni) Silvino; Veloso, Dito, Mozer, Alvaro; Elzo, Sheu, Chiquinho, Pacheco; Rui Aguas (Vando 57), Magnusson (Hajiri 111)
    PSV thắng 6-5 bằng thi đá 11m
    PSV: Koeman, Kieft, Nielsen, Vanenburg, Lerby và Janssen.
    Benfica: Elzo, Dito, Hajiri, Pacheco, Mozer, Veloso (hỏng)

    1989 Nou Camp Stadium, Barcelona

    AC Milan - Steaua Bucharest 4-0
    * AC Milan (HLV Sacchi) G.Galli; Tassotti, Costacurta (F.Galli 74), Baresi, Maldini; Colombo, Rijkaard, Ancelotti, Donadoni; Gullit (Virdis 60), Van Basten
    * Steaua Bucharest (HLV Iordanescu) Lung; Iovan, Petrescu, Bumbescu, Ungureanu; Hagi, Stoica, Minea, Rotariu (Balaci 46); Lacatus, Piturca.
    Ghi bàn: Gullit (17', 38'); Van Basten (26', 46')

    1990 Prater Stadium, Vienna

    AC Milan - Benfica 1-0
    * AC Milan (HLV Sacchi) G.Galli; Tassotti, Costacurta, Baresi, Maldini; Colombo (F.Galli 89), Rijkaard, Ancelotti (Massaro 72), Evani; Gullit, Van Basten
    * SL Benfica (HLV Eriksson) Silvino; Jose Carlos, Aldair, Ricardo, Samuel; Vitor Paneira (Vata 76), Valdo, Thern, Hernani; Magnusson, Pacheco (Brito 66).
    Ghi bàn: Rijkaard (68')

    1991 Stadio San Nicola, Bari

    Red Star Belgrade - Olympique Marseille 0-0
    * Red Star Belgrade (HLV Petrovic) Stojanovic; Belodedici, Najdoski, Sabanadzovic, Jugovic, Marovic, Mihaijlovic; Binic, Savicevic (Stosic 84), Prosinecki; Pancev
    * Olympique Marseille (HLV Goethals) Olmeta; Amoros, Boli, Mozer, Di Meco (Stojkovic 112); Fournier (Vercruysse 75), Germain, Casoni, Pele; Papin, Waddle.
    Red Star Belgrade thắng 5-3 bằng thi đá 11m.
    Red Star: Prosinecki, Binic, Belodedic, Mihajlovic và Pancev
    Marseille: Amoros (hỏng), Casoni, Papin và Mozer.

    1992 Wembley Stadium, London

    Barcelona - Sampdoria 1-0
    * FC Barcelona (HLV Cruyff) Zubizarreta; Eusebio, Ferrer, R.Koeman, Nando, Juan Carlos; Baquero, Guardiola (Alexanco 113), M.Laudrup; Salinas (Goicoechea 64), Stoichkov
    * UC Sampdoria (HLV Boskov) Pagliuca; Mannini, Lanna, Vierchowod, Katanec; Lombardo, Pari, Cerezo, I.Bonetti (Invernizzi 72); Vialli (Buso 100), Mancini.
    Ghi bàn: Koeman (112')

    1993 Olympiastadion, München

    Marseille - Milan 1-0
    * Marseille (coach Goethals) Barthez; Angloma (Durand 61), Di Meco, Boli, Sauzee, Desailly, Eydelie, Boksic, Voller (Thomas 78), Pele, Deschamps
    * AC Milan (coach Capello) Rossi; Tassotti, Maldini, Albertini, Costacurta, Baresi, Lentini, Rijkaard, Van Basten (Eranio 86), Donadoni (Papin 55), Massaro.
    Ghi bàn: Boli (44')

    1994 Spiros Louis Stadium, Athens

    AC Milan - Barcelona 4-0
    * AC Milan (HLV Capello) Rossi; Tassotti, Panucci, Albertini, Galli, Maldini (Nova 84),
    Donadoni, Desailly, Boban, Savicevic, Massaro
    * FC Barcelona (HLV Cruyff) Zubizarreto; Ferrer, Guardiola, Koeman, Nadal, Bakero, Sergi (Quique 73), Stoichkov, Amor, Romario, Beguiristain (Eusebio 51)
    Ghi bàn: Massaro (22', 45'), Savicevic (47'), Desailly (59')

    1995 Ernst Happel Stadium, Vienna

    Ajax Amsterdam - AC Milan 1-0
    * Ajax (HLV Van Gaal) Van der Sar, Reiziger, Blind, Rijkaard, F.de Boer, Seedorf (Kanu 54), Litmanen (Kluivert 69), Davids, Finidi, R.de Boer, Overmars
    * AC Milan (HLV Capello) Rossi, Panucci, Baresi, Desailly, Maldini, Donadoni, Boban (Lentini 86), Albertini, Costacurta, Massaro (Eranio 90), Simone.
    Ghi bàn: Kluivert (85')

    1996 Stadio Olimpico, Roma

    Juventus - Ajax 1-1
    * Juventus (HLV Lippi) Peruzzi; Ferrara, Torricelli, Vierchowod, Pessotto; Conte (Jugovic 44),Paulo Sousa (Di Livio 57), Deschamps, Del Piero; Vialli, Ravanelli (Padovano 77)
    * Ajax (HLV Van Gaal) Van der Sar; Silooy, Blind, Davids, F.de Boer (Scholten 68); R.de Boer (Wooter 91), Litmanen, Musampa (Kluivert 46); Finidi, Kanu, Bogarde.
    Ghi bàn: Juve - Ravanelli (12'), Ajax - Litmanen (41')
    Juve thắng 4-2 bằng thi đá 11m
    Ajax: Davids (hỏng), Litmanen, Scholten, Silooy (hỏng)
    Juventus: Ferrara, Pessotto, Padovano, Jugovic

    1997 Olympia-Stadion, München

    Borussia Dortmund - Juventus 3-1
    * Borussia Dortmund (HLV Hitzfeld) Klos, Kohler, Sammer, Kree, Reuter, Lambert, Paulo Sousa, Heinrich, Möller (Zorc 89), Riedle (Herrlich 67), Chapuisat (Ricken 70)
    * Juventus (HLV Lippi) Peruzzi, Porrini (Del Piero 46), Ferrara, Montero, Iuliano, Di Livio, Jugovic, Deschamps, Zidane, Boksic (Tacchinardi 88), Vieri (Amoruso 73)
    Ghi bàn: Dortmund - Riedle (29', 34'), Ricken (71'); Juventus (Del Piero 64')

    1998 Amsterdam ArenA, Amsterdam

    Real Madrid - Juventus 1-0
    * Real Madrid (HLV Heynckes) Illgner, Hierro, Sanchis, Panucci, Roberto Carlos, Raúl (Amavisca 90), Karembeu, Seedorf, Redondo, Mijatovic (Suker 89), Morientes (Jaime 82)
    * Juventus (HLV Lippi) Peruzzi, Torricelli, Montero, Iuliano, Di Livio (Tacchinardi 46),
    Deschamps (Conte 78), Davids, Pessotto (Fonseca 71), Zidane, Del Piero, Inzaghi
    Ghi bàn: Mijatovic (67')

    1999 Camp Nou Stadium, Barcelona

    Man United - Bayern Munich 2-1
    * Manchester United (HLV Alex Ferguson) 1-Peter Schmeichel; 2-Gary Neville, 5-Ronny Johnsen, 6-Jaap Stam, 3-Denis Irwin, 7-David Beckham, 8-Nicky Butt, 11-Ryan Giggs, 15-Jesper Blomqvist (10-Teddy Sheringham 67), 19-Dwight Yorke, 9-Andy Cole (20-Ole Gunnar Solskjær 81)
    * Bayern München (HLV Ottmar Hitzfeld) 1-Oliver Kahn; 10-Lothar Matthäus (17-Thorsten Fink 80), 2-Markus Babbel, 25-Thomas Linke, 4-Samuel Osei Kuffour, 18-Michael Tarnat, 11-Stefan Effenberg, 16-Jens Jeremies, 14-Mario Basler (20-Hasan Salihamidzic 89), 19-Carsten Jancker, 21-Alexander Zickler (7-Mehmet Scholl 71).
    Ghi bàn: Man United - Sheringham (90 + 1), Solskjær (90 + 2); Bayern Munich - Basler (6')

    2000 Saint-Denis, Paris

    Real Madrid - Valencia 3-0
    * Real Madrid CF(HLV Vicente del Bosque) 1-Iker Casillas; 2-Michel Salgado (4-Fernando Hierro 84) 3-Roberto Carlos, 18-Aitor Karanka, 3-Iván Campo, 8-Steve Mc Manaman, 6-Fernando Redondo, 11-Iván Helguera, 7-Raúl González, 19-Nicolas Anelka (5-Manuel Sanchís 79), 9-Fernando Morientes (11-Savio Bortolini 71).
    * Valencia CF (HLV Héctor Cuper) 1-Cañizares; 20-Angloma, 5-Djukic, 2-Pellegrino, 22-Gerardo (11-Ilie 68); 6-Mendieta, 14-Gerard, 8-Farinós, 18-Kily González; 7-Claudio López, 10-Angulo.
    Ghi bàn: Morientes (39'), McManaman (67'), Raul (75')

    2001 Giuseppe Meazza, San Siro, Milano

    Bayern Munich - Valencia 0-0
    * Bayern (HLV Ottmar Hitzfeld) Oliver Kahn, Samuel Kuffour, Patrick Andersson, Thomas Linke, Willy Sagnol (Carsten Jancker 46), Owen Hargreaves, Stefan Effenberg, Bixente Lizarazu, Mehmet Scholl (Paulo Sérgio 108), Giovane Élber (Alexander Zickler 100), Hasan Salihamidzic
    Valencia (HLV Héctor Cuper) Santiago Cañizares, Jocelyn Angloma, Roberto Ayala (Miroslav Djukic 90), Mauricio Pellegrino, Amedeo Carboni, Rubén Baraja, Gaizka Mendieta,
    Kily González, Juan Sánchez (Zlatko Zahovic 66), Pablo Aimar (David Albelda 46), John Carew.
    Bayern thắng 5-4 bằng thi đá 11m
    0-0 Paulo Sérgio (hỏng) 0-1 Gaizka Mendieta 1-1 Hasan Salihamidzic1-2 John Carew 2-2 B: Alexander Zickler 2-2 Zlatko Zahovic (hỏng) 2-2 Patrick Andersson (hỏng) 2-2 Amedeo Carboni (hỏng) 3-2 Stefan Effenberg 3-3 Rubén Baraja 4-3 Bixente Lizarazu 4-4 Kily González 5-4 Thomas Linke 5-4 Mauricio Pellegrino (hỏng)

    2002 Hampden Park, Glasgow

    Real Madrid - Leverkusen 2-1
    * Bayer Leverkusen: 1-Hans-Jörg Butt, 26-Zoltan Sebescen (9-Ulf Kirsten 65) 6-Boris Zivkovic 19-Lucio (3-Marko Babic 90+1) 35-Diego Rodolfo Placente 25-Bernd Schneider 28-Carsten Ramelow 10-Yildiray Bastürk 13-Michael Ballack 27-Oliver Neuville 23-Thomas Brdaric (12-Dimitar Berbatov 39).
    * Real Madrid (HLV Vicente Del Bosque) 13-César Sánchez Domínguez (1-Iker Casillas Fernández 68) 2-Míchel Salgado 4-Fernando Ruiz Hierro 6-Iván Helguera 3-Roberto Carlos 10-Luis Figo (8-Steve McManaman 61)24-Claude Makelele(16-Flavio Conceiçao 73) 5-Zinédine Zidane 21-Santiago Solari 7-Raúl 9-Fernando Morientes
    Ghi bàn: Real - Raul (8'), Zidane (45'); Leverkusen - Lucio (14')

    2003 Old Trafford, Manchester

    Juventus - AC Milan 0-0
    * Juventus: BUFFON Gianluigi, THURAM Lilian, TUDOR Igor (42 BIRINDELLI Alessandro) FERRARA Ciro, MONTERO Paolo, TACCHINARDI Alessio, DAVIDS Edgar (66 ZALAYETA Marcelo), CAMORANESI Mauro (46 CONTE Antonio), ZAMBROTTA Gianluca , DEL PIERO Alessandro , TREZEGUET David .
    * AC Milan: DIDA, COSTACURTA Alessandro(66 ROQUE JUNIOR), NESTA Alessandro, MALDINI Paolo, KALADZE Kakha, GATTUSO Gennaro, PIRLO Andrea (71 SERGINHO), RUI COSTA (87 AMBROSINI Massimo), SEEDORF Clarence, SHEVCHENKO Andrey, INZAGHI Filippo.
    AC Milan thắng 3-2 bằng thi đá 11m
    Juventus: Trezeguet (hỏng), Birindelli, Zalayeta (hỏng), Montero(hỏng), Del Piero
    Milan: Serginho, Seedorf(hỏng), Kaladze(hỏng), Nesta, Shevchenko

    2004Arena AufSchalke, Gelsenkirchen

    FC Porto - Monaco 3-0
    * FC Porto: 99-Vitor Baia; 22-Paulo Ferreira, 2-Jorge Costa, 4-Ricardo Carvalho, 8-Nuno Valente; 23-Pedro Mendes, 6-Francisco Costinha, 18-Maniche Ribeiro; 10-Deco Souza (3-Pedro Emanuel 85); 19-Carlos Alberto (15-Dmitri Alenichev 60), 11-Derlei Silva (77-Benni McCarthy 78).
    * Monaco: 30-Flavio Roma; 4-Hugo Ibarra, 27-Julien Rodriguez, 32-Gael Givet (19-Sebastian Squillaci 73), 3-Patrice Evra; 14-Edouard Cisse (18-Shabani Nonda 64), 7-Lucas Bernardi, 15-Andreas Zikos; 8-Ludovic Giuly (9-Dado Prso 23), 25-Jerome Rothen; 10-Fernando Morientes.
    Ghi bàn: Carlos Alberto 39, Deco Souza 71, Dmitri Alenichev 75.
     
  14. vothan

    vothan Thành viên cấp 3

    Tham gia ngày:
    25/11/04
    Bài viết:
    128
    Nơi ở:
    túp lều của thần c
    Thông tin thú vị về Cúp C1 châu Âu
    1. Chuỗi vô địch liên tiếp

    Trong khoảng 20 năm đầu tiên, việc một CLB chế ngự Cúp C1 châu Âu trong thời gian dài không phải chuyện hiếm (điển hình là trường hợp của Real Madrid) nhưng ngày nay việc bảo vệ danh hiệu vô địch giải đấu này cực kỳ khó khăn. Lần cuối cùng một đội bảo vệ được danh hiệu vô địch Cúp C1 châu Âu cách đây cũng đã 24 năm.

    Dưới đây là những đội vô địch Cúp C1 liên tiếp:

    - 5 lần: Real Madrid (1955/56-1959/60)

    - 3 lần: Ajax Amsterdam (1970/71-1972/73)

    Bayern Munich (1973/74-1975/76)

    - 2 lần: Benfica (1960/61-1961/62)

    Inter Milan (1963/94-1964/65)

    Liverpool (1976/77-1977/78)

    Nottingham Forest (1978/79-1979/80)

    AC Milan (1988/89-1989/90)

    Một số thông tin khác:

    - Sau Madrid, Milan là thành phố 3 năm liên có đại diện trong trận chung kết Cúp C1 (AC Milan 1962/63, Inter Milan hai mùa kết tiếp)

    - Nước Anh giành 6 Cúp C1 liên tiếp, 1976/77 và 1977/78 - Liverpool; 1978/79 và 1979-80 - Nottingham Forest; 1980/81 - Liverpool; 1981/82 - Aston Villa.

    - Có hai đội bóng thua hai trận chung kết Cúp C1 liên tiếp: Juventus 1996/97-1997/98 và Valencia 1999/2000 - 2000/01.






    2. Giành Cúp C1 mà không thua trận nào

    - Thành tích này xuất hiện khá phổ biến cho đến thập niên 90 và bắt đầu hiếm dần khi Champions League xuất hiện.

    Dưới đây là các đội lập được thành tích này (mùa giải/tên đội/trận/thắng/hoà/thua/hiệu số)


    Mùa Đội VĐ Trận Thắng Hoà Thua Hiệu số
    1963/64 Inter 9 7 2 0 16-6
    1971/72 Ajax 9 7 2 0 14-3
    1978/79 N. Forest 9 6 3 0 19-7
    1980/81 Liverpool 9 6 3 0 24-4
    1983/84 Liverpool 9 7 2 0 15-3
    1988/89 AC Milan 9 5 4 0 20-5
    1990/91 Sao Đỏ 9 5 4 0 18-7
    1992/93 Marseille 11 7 4 0 15-4
    1993/94 Milan 12 7 5 0 21-2
    1994/95 Ajax 11 7 4 0 18-4
    1998/99 M.U 13 6 7 0 31-16








    3. Số lần tham dự Cúp C1 liên tiếp

    Trong vô số chiến tích của Real Madrid tại các Cúp châu Âu có kỷ lục 15 mùa giải liên tiếp tham dự Cúp C1 châu Âu.

    15 lần - Real Madrid (1955/56-1969/70)

    12 lần - Dynamo Kyiv (1993/94-2004/05)

    10 lần - Dynamo Berlin (1979/80-1988/89)
    Rosenborg BK (1995/96-2004/05)

    9 lần - Celtic (1966/67-1974/75)
    Liverpool (1976/77-1984/85)
    Rangers (1989/90-1997/98)
    Manchester United (1996/97-2004/05)

    8 lần - Bayern München (1997/98-2004/05)
    Olympiakos Pireus (1997/98-2004/05)
    PSV (1997/98-2004/05)
    Real Madrid (1997/98-2004/05)
    Skonto Riga (1997/98-2004/05)
    Sparta Praha (1997/98-2004/05)

    7 lần - CSKA (Sofia) (1956/57-1962/63)
    FC Porto (1995/96-2001/02)
    Galatasaray (1997/98-2003/04)
    Arsenal (1998/99-2004/05)

    6 lần - Benfica (1960/61-1965/66)
    Újpest Dozsa (1970/71-1975/76)
    Linfield (1982/83-1987/88)
    Steaua Bucuresti (1993/94-1998/99)
    Barcelona (1997/98-2002/03)
    Spartak Moskva (1997/98-2002/03)
    Maribor Branik (1998/99-2003/04)
    Olympique Lyonnais (1999/00-2004/05)

    5 lần - Górnik Zabrze (1963/64-1967/68)
    Anderlecht (1964/65-1968/69)
    Bayern München (1972/73-1976/77)
    Jeunesse d'Esch (1973/74-1977/78)
    Omonia Nicosia (1975/76-1978/79) [withdrew from 1974/75 competition]
    Omonia Nicosia (1981/82-1985/86)
    Steaua Bucuresti (1985/86-1989/90)
    Real Madrid (1986/87-1990/91)
    Sparta Praha (1987/88-1991/92)
    Brøndby IF (1996/97-2000/01)





    4. Số lần tham dự Champions League liên tiếp

    Bắt đầu từ mùa giải 1991/92, Cúp C1 chuyển thành Champions League. Dưới đây là những đội tham dự liên tục nhiều nhất.

    9 lần Manchester United (1996/97-2004/05)

    8 lần Rosenborg BK (1995/96-2002/03)
    Bayern München (1997/98-2004/05)
    Dynamo Kyiv (1997/98-2004/05)
    Olympiakos Pireus (1997/98-2004/05)
    PSV (1997/98-2004/05)
    Real Madrid (1997/98-2004/05)

    7 lần Galatasaray (1997/98-2003/04)
    Arsenal (1998/99-2004/05)

    6 lần Barcelona (1997/98-2002/03)

    5 lần FC Porto (1995/96-1999/00)
    Spartak Moskva (1998/99-2002/03)
    Deportivo La Coruña (2000/01-2004/05)
    Juventus (2000/01-2004/05)
    Olympique Lyonnais (2000/01-2004/05)





    5. Nhà vô địch Cúp C1 có thành tích tại giải VĐQG tồi nhất

    - Không một nhà vô địch Cúp C1 nào mà có thành tích tại giải VĐQG cùng năm đó tệ hại hơn Aston Villa mùa 1981/82: đứng thứ 12.

    - Hầu hết các nhà vô địch Cúp C1 đều nằm trong Top 3 tại giải VĐQG cùng năm đó, ngoại trừ các trường hợp Nottingham Forest mùa 1979/80 (thứ 5), Liverpool mùa 1980/81 (5), Juventus mùa 1984/85 (4), Real Madrid mùa 1997/98 (4) và 1999/2000 (5) và Aston Villa kể trên.




    6. Những cuộc đối đầu nội bộ tại Cúp C1

    - Trước đây việc ''gà nhà đá nhau'' tại Cúp C1 là chuyện hiếm bởi mỗi quốc gia chỉ được cử một đại diện tham dự giải đấu này. Muốn có hai đại diện tham dự Cúp C1 thì quốc gia ấy phải có đội bóng vô địch Cúp C1 nhưng không vô địch QG.

    - Nhưng tình hình thay đổi khi Cúp C1 bắt đầu được cải tiến, mở rộng đối tượng tham gia. Từ mùa giải 1997/98, các nhà á quân của 8 quốc gia đầu tiên trong bảng xếp hạng UEFA cũng được tham dự Cúp C1. Từ mùa giải 1999/2000, 6 quốc gia đầu tiên trong bảng xếp hạng UEFA được cử từ 3-4 đại diện tham dự Cúp C1 châu Âu.

    - Nhờ đó mới có chuyện Tây Ban Nha có 3 đại diện tại bán kết Champions League và cuối cùng là một trận chung kết nội bộ. Mùa giải 2002/03, trận chung kết Champions League cũng diễn ra giữa hai đội bóng Italia là AC Milan và Juventus.


    Những cuộc đối đầu nội bộ

    Mùa Trận vòng Tỷ số
    1957/58 Real Madrid - Sevilla tứ kết 8-0 và 2-2
    1958/59 Real Madrid - Atlético Madrid bán kết 2-1, 0-1 và 2-1
    1959/60 Real Madrid - Barcelona bán kết 3-1 và 3-1
    1960/61 Real Madrid - Barcelona vòng 2 2-2 và 1-2
    1978/79 Nottingham Forest - Liverpool vòng 1 2-0 và 0-0
    1985/86 Hellas Verona - Juventus vòng 2 0-0 và 0-2
    1997/98 Bayern München - Dortmund tứ kết 0-0 and 0-1
    1998/99 B.München - Kaiserslautern tứ kết 2-0 and 4-0
    1999/00 Valencia - Barcelona bán kết 4-1 and 1-2
    1999/00 Real Madrid - Valencia chung kết 3-0
    2001/02 Barcelona - Real Madrid bán kết 0-2 và 1-1
    2002/03 Inter - Milan bán kết 1-1 và 0-0
    2002/03 Milan - Juventus chung kết 0-0 (3-2/11m)
    2003/04 Chelsea - Arsenal tứ kết 1-1 và 2-1









    7. Đánh bại nhà đương kim vô địch

    Đội bóng Hoàng gia Real Madrid không chỉ giữ kỷ lục về số lần vô địch Cúp C1 châu Âu mà còn giữ kỷ lục về số lần đánh bại các nhà ĐKVĐ: Tổng cộng 7 lần mà 4 trong số đó họ tiến thẳng đến ngôi vô địch.

    7 lần Real Madrid (1963/64, 1965/66, 1986/87, 1987/88, 1997/98, 1999/00, 2001/02)

    4 lần Juventus (1982/83, 1984/85, 1995/96, 2002/03)

    3 lần CSKA Sofia (1973/74, 1980/81, 1981/82)
    Dynamo Kiev (1967/68, 1976/77, 1998/99)

    2 lần Barcelona (1960/61, 1985/86)
    Milan (1962/63, 1968/69)



    8. Một số kỷ lục khác

    - Trận đấu có tỷ số đậm nhất:

    1973/74, vòng 1: Dinamo Bucuresti 11-0 Crusaders

    - Tỷ số chung cuộc đậm nhất:

    1965/66, vòng 1: Stade Dudelange 0-8 Benfica; Benfica 10-0 Stade Dudelange.
    Chung cuộc: Benfica thắng 18-0.

    - Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất:

    1969/70, vòng 1: Feijenoord 12-2 KR (Reykjavik), tổng cộng 14 bàn.

    - Chung cuộc có nhiều bàn thắng nhất:

    1965/66, vòng 1: Stade Dudelange 0-8 Benfica; Benfica 10-0 Stade Dudelange.
    Chung cuộc: Benfica thắng 18-0. Tổng cộng: 18 bàn

    1968/69, vòng 2: Reipas (Lahti) 1-9 Spartak Trnava; Spartak Trnava 7-1 Reipas (Lahti).
    Chung cuộc: Spartak Trnava thắng 16-2. Tổng cộng: 18 bàn.

    1969/70, vòng 1: Feijenoord 12-2 KR (Reykjavik); KR (Reykjavik) 0-4 Feijenoord (in Rotterdam).
    Chung cuộc: Feijenoord thắng 16-2. Tổng cộng: 18 bàn.

    1979/80, vòng 1: HJK (Helsinki) 1-8 Ajax; Ajax 8-1 HJK (Helsinki).
    Chung cuộc: Ajax thắng 16-2. Tổng cộng: 18 bàn.
     
  15. JakeSatan

    JakeSatan <b>◄The Red Devil►<br> -=Devils' King=-</b>

    Tham gia ngày:
    4/9/04
    Bài viết:
    8,039
    Nơi ở:
    Địa Ngục^.^
    Vì là một fan của MU nên em xin post bài này là sơ lược về lịch sử MU nhá:
    Manchester United

    [​IMG]

    Ra đời với tên khai sinh Newton Heath vào năm 1878, cái tên Manchester United chỉ chính thức xuất hiện vào năm 1902, và chỉ sau đó 6 năm, M.U đã giành ngôi quán quân giải hạng Nhất. Chiếc Cúp FA cũng đã từng hiện diện tại sân nhà Bank Street của M.U trước khi họ chuyển tới Old Trafford vào năm 1910, và sau đó là thêm một chức VĐQG nữa dưới thời HLV Ernest Mangnall.

    Chiến tranh thế giới thứ 2 đã ngăn cản sự phát triển của M.U, nhưng khi Sir Matt Busby lên nắm quyền vào năm 1945, M.U đã bước sang một trang sử khác và lứa cầu thủ mang biệt danh 'Busby Babes' của ông đã giành 3 danh hiệu VĐQG trong những năm 50.

    Tuy nhiên, tai nạn máy bay năm 1958 ở Munich đã cướp đi sinh mạng của 8 cầu thủ M.U và bóng đá thế giới cũng mất đi một trong những tập thể xuất sắc nhất trong thời kỳ ấy. Thế nhưng, rất may cho M.U bởi HLV Busby vẫn còn sống và tiếp tục dẫn dắt CLB này đăng quang ở giải VĐQG năm 1965 và 1967, trước khi giành chức VĐ Cúp C1 châu Âu năm 1968. Hơn 20 năm sau, M.U mới lại có chiếc Cúp châu Âu thứ 2 khi họ lên ngôi ở Cúp C2 năm 1991, nhưng thời kỳ vàng son của M.U chỉ bắt đầu khi giải Ngoại hạng Anh ra đời vào năm 1993.

    Dưới sự dẫn dắt của Sir Alex Ferguson, M.U đã làm mưa làm gió ở giải Ngoại hạng Anh. Họ lập 2 cú đúp trong 2 năm 1994 và 1996, trước khi vươn tới đỉnh cao giành cú ăn ba, gồm chức VĐ Premier League, VĐ Cúp FA và VĐ Champions League trong mùa giải 1999.

    Thông tin về CLB:

    Địa chỉ: Old Trafford Sir Matt Busby Way Manchester M16 ORA Tel.: (01 61) 8 68 80 00 Fax: (01 61) 8 76 55 02

    SVĐ (Sức chứa): Old Trafford (61.250)

    Màu áo truyền thống: Đỏ-Trắng-Đen

    Website chính thức: http://www.manutd.com/home/default.sps

    Thành tích:

    VĐQG Anh: (13) 1908, 1911, 1952, 1956, 1957, 1965, 1967, 1993, 1994, 1996, 1997, 1999, 2003.
    Cúp QG Anh: (11) 1909, 1948, 1963, 1977, 1983, 1985, 1990, 1994, 1996, 1999, 2004.
    League Cup Anh: (1) 1992.
    Cúp C1 châu Âu: (2) 1968, 1999.
    Cúp C2 châu Âu: (1) 1991.
    Siêu Cúp châu Âu: (1) 1991.

    NHỮNG KỶ LỤC

    Trận thắng đậm nhất:

    + Giải VĐQG: Thắng 9-0 trước Ipswich, Premier League, ngày 04-03-1995

    + Cup C1: Thắng 10-0 trước RSC Anderlecht, lượt về vòng sơ loại Cúp C1 châu Âu, ngày 26-09-1956

    Trận thua đậm nhất: Thua 0-7 trước Blackburn, giải hạng nhất, ngày 10-04-1926 và thua 0-7 trước Aston Villa, giải hạng nhất, ngày 27-12-1930 và thua 0-7 trước Wolverhampton, giải hạng nhì, ngày 26-12-1931

    Trận đấu có đông khán giả nhất: 76.962 (bán kết Cúp FA giữa Wolves và Grimsby ngày 25-03-1939)

    Kỷ lục mua cầu thủ: 29,3 triệu bảng, mua Rio Ferdinand từ Leeds, 7/2002

    Kỷ lục bán cầu thủ: 25 triệu bảng, bán David Beckham cho Real Madrid, 7/2003

    Ghi bàn nhiều nhất trong một mùa giải: Dennis Viollet, 32 bàn, mùa 1959-60

    Ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại: Bobby Charlton, 199 bàn, từ 1956-73

    Thi đấu nhiều nhất: Bobby Charlton, 606 trận, từ 1956-73
     
  16. vothan

    vothan Thành viên cấp 3

    Tham gia ngày:
    25/11/04
    Bài viết:
    128
    Nơi ở:
    túp lều của thần c
    Nhóm các CLB mạnh nhất Châu Âu G14




    Real Madrid


    Năm thành lập: 1902
    Địa chỉ: Real Madrid Club de Futbol Avenida Concha Espina 1 28036 Madrid Spain
    Chủ tịch: Florentino Pérez Rodríguez
    Official Web Site : www.realmadrid.com



    AC Milan


    Năm thành lập: 1899
    Địa chỉ: A.C. Milan Via Turati 3 20121 Milan Italy
    Chủ tịch: Silvio Berlusconi
    Official Web Site : www.acmilan.com



    AFC Ajax


    Năm thành lập: 1900
    Địa chỉ: AFC Ajax Arena Boulevard 29 1101 AX Amsterdam The Netherlands
    Chủ tịch: Michael Van Praag
    Official Web Site : www.ajax.nl



    Liverpool FC


    Năm thành lập: 1888
    Địa chỉ: Liverpool Football Club and Athletic Grounds
    52 Mount Pleasant Liverpool, L3 5WN United Kingdom
    Chủ tịch: Mr. D. R. Moores
    Official Web Site : www.liverpoolfc.tv



    Juventus FC


    Năm thành lập: 1897
    Địa chỉ: Juventus Football Club C.so Galileo Ferraris 32
    10131 Torino Italy
    Chủ tịch: Vittorio Caissotti Di Chiussano
    Official Web Site : www.juventus.com



    Bayern Munich


    Năm thành lập: 1900
    Địa chỉ: F.C. Bayern München Säbener Strasse 51 81547 München Germany
    Chủ tịch: Franz Beckenbauer
    Official Web Site : www.fcbayern.de



    FC Internazionale Milano


    Năm thành lập: 1908
    Địa chỉ: F.C. Internazionale Via Durini 24 20122 Milan Italy
    Chủ tịch: Massimo Moratti
    Official Web Site : www.inter.it



    FC Barcelona


    Năm thành lập: 1899
    Địa chỉ: F.C. Barcelona Avda. Aristides Maillol s/n 08028 Barcelona Spain
    Chủ tịch: Joan LAPORTA
    Official Web Site : www.fcbarcelona.com



    Manchester United FC


    Năm thành lập: 1878
    Địa chỉ:Manchester United Football Club Sir Matt Busby Way Old Trafford Manchester, M16 ORA United Kingdom
    Chủ tịch: Martin Edwards
    Official Web Site : www.manutd.com



    Borussia Dortmund


    Năm thành lập: 1909
    Địa chỉ:Borussia Dortmund Strobelallee 50 44139 Dortmund Germany
    Chủ tịch: Gerd Niebaum
    Official Web Site : www.borussia-dortmund.de



    PSV


    Năm thành lập: 1913
    Địa chỉ:PSV Mathildelaan 81 5616 LA Eindhoven Netherlands
    Chủ tịch: Harry Van Raaij
    Official Web Site : www.psv.nl



    FC Porto


    Năm thành lập: 1893
    Địa chỉ:Futebol Clube do Porto Torre das Antas Avenide Ferrán de Magallanes 1882, 14 Piso 4360158 Porto Portugal
    Chủ tịch: Jorge Nuno de Lima Pinto Da costa
    Official Web Site : www.fcporto.pt



    Olympique de Marseille


    Năm thành lập: 1899
    Địa chỉ:Olympique de Marseille 25 Rue Negresko
    13008 RCS Marseille France
    Chủ tịch: Robert Louis-Dreyfus
    Official Web Site : www.olympiquedemarseille.com



    Paris Saint-Germain


    Năm thành lập: 1970
    Địa chỉ:Paris Saint-Germain - Parc des Princes24 rue du commandant Guilbaud 75781 PARIS Cedex 16 - France
    Chủ tịch: Francis GRAILLE
    Official Web Site : www.psg.fr
     
  17. vothan

    vothan Thành viên cấp 3

    Tham gia ngày:
    25/11/04
    Bài viết:
    128
    Nơi ở:
    túp lều của thần c
    Còn đây là lịch sử của đội bóng hùng mạnh nhất nước Ý

    AC Milan - Thành lập năm 1899



    Cách đây 104 năm , vào ngày 16 tháng 12 năm 1899, AC Milan đã ra đời dưới cái tên “ Câu lạc bộ bóng đá và cricket thành phố Milan”.

    Ngày 16 tháng 12 đã là ngày mở đầu cho một hành trình lịch sử chói lọi của câu lạc bộ. Trong cái ngày lạnh lẽo đó, trước thềm bước sang thế kỉ mới, tại con phố Via Berchet sầm uất ở Milano, một người Anh là Alfred Edwards đã cùng những người bạn của mình thành lập nên đội bóng đồng thời ông cũng trở thành vị chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ. Đó là điểm khởi đầu cho một chuỗi những sự kiện lịch sử huy hoàng của câu lạc bộ, điều đã tốn không biết bao giấy mực của lịch sử bóng đá thế giới. Đặc biệt trong suốt 15 năm qua, AC đã chứng tỏ rằng họ là một trong những câu lạc bộ mạnh nhất trên thế giới. Lịch sử của AC Milan đã trở thành một huyền thoại, cũng như những con người đã đóng góp vào huyền thoại đó: những vị chủ tịch, những huấn luyện viên đã đến và ra đi và một phần công sức không nhỏ của các cầu thủ- những cái tên đã theo suốt những chặng đường lịch sử của AC Milan : Từ Alfred Edwards- người sáng lập ra câu lạc bộ cho đến ngài thủ tướng nước Ý Silvio Berlusconi, người đã đưa Milan lên bục cao nhất của vinh quang. Những chiến thắng thanh thế dành được ở mọi trong nước cũng như trên thế giới đã chứng minh sức mạnh của CLB.

    Sự thành công của CLB luôn có một phần đóng góp đáng kể của những người huấn luyện viên, AC Milan đã từng được dẫn dắt bởi những huấn luyện viên bậc tài của Ý như Gipo Viani, Nereo Rocco và Nils Liedholm hay những HLV tài giỏi của thập kỉ 90 như Arrigo Sacchi và Fabio Capello. Cũng như những người tiền nhiệm, các huấn luyện viên sau này đã kế thừa, xây dựng cho Milan một lối đá hiện đại nhưng không mất đi vẻ quyến rũ và cống hiến. Có thể nói AC là CLB chơi bóng đẹp nhất ở Serie A, một đấu trường bóng đá khốc liệt và đầy tính cạnh tranh, nhưng AC Milan đã làm được cái điều ấy,thứ bóng đá họ chơi là một thứ bóng đá cống hiến ,kĩ thuật. Nhưng câu lạc bộ nào cũng có lúc huy hoàng và những lúc đen tối,có hai giai đoạn trong lịch sử,một là giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới I và thứ II và một giai đoạn cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80.

    Hai thập kỉ đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ AC MILan vang dội chiến thắng.Trận đấu mở màn của AC là trận đấu với CLB cùng thành phố Mediolanum, 3 trong số 11 cầu thủ lúc đó chính là những người đã thành lập nên CLB mặc dù AC thắng với tỉ số 3-0, trận đấu được coi là chính thức đầu tiên sau khi AC Milan đăng kí với hiệp hội bóng đá Italia là với FC Torino và CLB này có thể tự hào là CLB đầu tiên đánh bại AC hùng mạnh với tỉ số 3-0 .ng ư ời đ ội tr ư ởng đầu ti ên c ủa CLB là Kilpin, ông cũng là một trong những người thành lập nên CLB. Vào thời ấy để được chơi cho AC Milan ( là thành viên của đội bóng), bạn cần có 20 lira lệ phí , đối với sinh viên là 12 lira. Nếu cầu thủ nào không trả tiền anh ta sẽ bị khai trừ không được tập luyện. Danh hiệu đầu tiên họ dành được là vào năm 1901 khi đánh bại Genoa trong một trong những câu lạc bộ dẫn đầu giải vô địch lúc đó ( lúc này giải vô địch gồm những câu lạc bộ địa phương của từng liên đoàn bóng đá địa phương thi đấu với nhau sau đó chọn ra hai câu lạc bộ mạnh nhất vào chơi trận playoff, đội thắng cuộc là đội dành chức vô địch). Hai danh hiệu tiếp theo AC dành được là vào các năm 1906( trước Juventus) và 1907 trước Turin cùng với Andrea Doria (sau này hợp nhất với một đội khác của thành Genoa để trở thành CLB Sampdoria) .

    Một năm sau đó, một phần của AC Milan tách ra thành một đội bóng riêng đó chính là Inter Milan(1908). Trận derby đầu tiên của thành Milan diễn ra vào ngày 18 tháng 10 năm 1908 và AC thắng với tỉ số 2-1 . Kể từ năm đó giải vô địch luôn bị gián đoạn bởi chiến tranh thế giới lần thứ I. Trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh không sự kiện quan trọng nào xảy ra trừ sự thành lập của Serie A năm 1929 . Vị trí cao nhất mà AC đạt được trong giai đoạn này là xếp thứ 3. Trong khoảng thời gian tiếp theo đó CLB được bổ sung bộ ba người Thuỵ Điển GreNoLi lừng lẫy, lúc đó các câu lạc bộ bóng đá Ý lúc đó được phép có 5 cầu thủ nước ngoài . Gunnar Nordahl trở thành cây săn bàn lừng lẫy của AC với 210 bàn thắng trong 257 trận đấu ( trung bình 0.81 bàn một trận), còn Gren và Nils là hai tiền vệ năng nổ. Với bộ ba này lần đầu tiên AC dành Scudetto đồng thời cũng là chứ vô địch trong nước lần thứ 4.(1950-1951) Milan đã trở thành một CLB thành công trên đất nước Ý và trên toàn thế giới bởi những danh hiệu vô địch, bởi những cầu thủ mà các câu lạc bộ khác trên thế giới luôn thèm muốn : Gunnar Gren, Gunnar Nordhal, Nils Liedholm.

    Cuối thập kỉ 50 còn có thêm ba cầu thủ vĩ đại khác gia nhập ngôi nhà Milan . Một trong số đó là cầu thủ Gianni Rivera người được AC mua về với giá 200 ngàn $ từ CLB Alessandria, 200 ngàn $ là một cái giá kỉ lục lúc đó. Hai cầu thủ còn lại một mang quốc tịch Brazil José Altafini và cầu thủ người Uruguay Achiaffino cùng với các tên tuổi Anquiletti, Trapattoni, Lodetti, Sormani và Prati.

    Một trong những thời kì huy hoàng nhất của câu lạc bộ là vào thập kỉ 60 với Gianni Rivera . Anh đã chơi một trận xuất sắc trước Benfica Lisbona đem về cho AC Milan chiếc cúp vô địch châu Âu đầu tiên năm 1963 với chiến thắng 2-1 nhờ công của tiền đạo người Brazil Altafini. Năm 1968 AC dành được Scudetto lần thứ 5 và chiếc cúp C2 danh giá .Tiếp sau năm đó năm 1969 AC dành chiếc cúp C1 lần thứ hai trong lịch sử khi đánh bại CLB Ajax với tỉ số 4-1 . Đây cũng là năm Rivera dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu. Cho đến giữa thập kỉ 70 AC đã trở thành CLB danh giá nhất nước Ý , dành được cúp C2 và chiếm 3 danh hiệu của bóng đá Ý, AC đã thực sự thống trị bóng đá Italia . Nhưng sau đó AC không dành thêm danh hiệu Scudetto nào và sự nghiệp của Rivera kết thúc.


    Tiếp đó là khoảng thời gian đen tối nhất của lịch sử CLB AC Milan mặc dù có những lúc AC toả sáng khi dành được chiếc cúp QG năm 1977 và Scudetto năm 1979 – đây có thể coi là những khoảnh khắc tươi sáng nhất trong quãng thời gian đen tối này .Cuối năm 1980 , một vụ scandal về cá độ bị đưa ra công lý , những người tham gia và vụ cá độ này gồm có 2 cầu thủ của AC Milan và ngài chủ tịch Felica Colombo . Chính vì vụ cá độ bóng đá này , câu lạc bộ lừng lấy một thời đã bị đẩy xuống chơi lần đầu tiên trong lịch sử tại giải Serie B .Nhưng cũng trong thời điểm khó khăn này, một tài năng đã nảy nở đó là Franco Baresi , người đã thay thế Rivera nắm quyền chỉ đạo cả đội bóng và sau này đã trở thành biểu tượng của câu lạc bộ. Ông đã là người giữ kỉ lục cho Milan trong suốt 20 năm, người xứng đáng được nhận danh hiệu “ Cầu thủ thế kỉ của Milan “ trong một cuộc thăm dò chung. Chỉ sau một năm chơi tại Serie B, AC đã trở lại Serie A nhưng cũng chỉ một năm sau CLB lại phải xuống hạng . Nhưng thành công hơn mùa giải Serie B đầu tiên, AC đã vững vàng hơn, trưởng thành hơn , dành ngôi quán quân và được lên chơi tại Serie A . Một thời kì tươi sáng mở ra cho AC khi nhà tỉ phú Berlusconi bỏ tiền ra mua lại cả đội bóng, từ đây lịch sử CLB bước sang một trang mới.

    Vị chủ tịch mới đã đem đến những gương mặt mới cho CLB, trong số đó là tài năng trẻ Paolo Maldini, Donadoni và bộ ba người Hà Lan ( Ruud Gullit,Marco Van Basten và Frank Rijkaard ). huấn luyện viên lúc đó là người hùng của thập kỉ 50 – Nils Liedholm . Nhưng sự huấn luyện của Nils không mang lại kết quả mong đợi và sự thay thế tuyệt vời bằng Arrigo Sacchi đã đem lại nguốn sinh khí mới cho CLB.

    Dưới cương vị huấn luyện viên,Sacchi trong 4 mùa bóng, Milan đã giành được một danh hiệu Scudetto sau biết bao năm chờ đợi, 2 cúp C1, 2 lần dành siêu cúp châu Âu , hai lần dành cúp liên lục địa. Nhưng ban huấn luyện có những bất đồng với Marco Van Basten và Capello đã kế nhiệm chức HLV AC Milan. Dưới thời của Capello trong 5 mùa giải :4 danh hiệu vô địch Serie A, một siêu cúp Châu Âu, và chiếc cúp C1.Mùa giải năm 1992 là mùa giải đáng nhớ của CLB khi AC không để thua trận nào ở Serie A, kỉ lục đó là 59 trận bất bại . Năm 1993 AC lọt vào chung kết cúp C1 nhưng để thua O. Marseille với tỉ số 1-0. Nhưng năm tiếp theo, 1994 AC đã đánh bại Barca với tỉ số 4-0 một cách thuyết phục , người hùng của trận đấu đó là cầu thủ người Nam Tư- Dejan Savicevic. Chán với những vinh quang, Capello chuyển sang cầm quân cho Real.Tiếp đến một loạt các huấn luyện viên mới đã đến với AC, như Tabarez, Sacchi (lần thứ 2), Capello ( lần thứ hai),Zaccheroni, Fatih Terim. Ngoài HLV Carlo Ancelotti, người đã kế tục với chiếc cúp C1 lần thứ 6 huấn luyện viên cũ Alberto Zaccheroni trong hai mùa bóng đã dẫn dắt Milan đến với danh hiệu vô địch Serie A gần đây nhất( mùa giải 1998-1999). Đó là cuộc đua nước rút trong 10 vòng cuối của Milan với Lazio .

    Trải qua thời gian, những lớp cầu thủ xa hơn nữa đã giành được những thắng lợi lớn, ví dụ như tài năng đến từ Serbia & Montenegro , Dejan Savicevic, cầu thủ người Liberia George Weah,cầu thủ người Croatia Zvonimir Boban, cầu thủ người Pháp Marcel Desailly, mà ở đây mới chỉ nhắc đến một số.

    Ngoài ra Milan còn sản sinh ra những tên tuổi của bóng đá Ý như Paolo Maldini, Mauro Tassotti, Daniel Massaro, Alessandro Costacurta, Alberigo Evani, Roberto Donadoni, Filippo Galli,Demetrio Albertini. Bên cạnh các cầu thủ trên, những cầu thủ hiện tại đang từng bước chứng tỏ bây giờ là những ngôi sao mới như Massimo Ambrosini, Christian Abbiati, Serginho, Gennaro Gattuso và Andriy Shevchenco, Manuel Rui Costa và Filippo Inzaghi , Nesta, hay Rivaldo.

    Lối trình diễn của các cầu thủ cùng với truyền thống lâu đời của câu lạc bộ ngày một nâng cao vị thế cho CLB. Milan đang mang trong mình những gía trị được thừa hưởng từ các lớp cầu thủ trước và đang vươn tới tương lai với những tham vọng lớn lao. Đội bóng đã thể hiện cho những fan hâm mộ của mình không chỉ những trang sử truyền thống lâu đời hơn 100 năm qua mà đó hơn hết là tinh thần, sức manh để sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thách thứ gian khổ...
     
  18. vothan

    vothan Thành viên cấp 3

    Tham gia ngày:
    25/11/04
    Bài viết:
    128
    Nơi ở:
    túp lều của thần c
    NHỮNG HUYỀN THOẠI MẶC ÁO SỐ 7 CỦA MANCHESTER UNITED


    CANTONA, một trong những số 7 huyền thoại của MU


    Qua mọi thời kỳ, chiếc áo số 7 của Manchester United có những chủ nhân khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm: Nhân vật kiệt xuất của M.U. Chiếc áo số 7 luôn là một vinh dự cho bất kỳ cầu thủ nào khoác nó khi đặt chân đến M.U. Đồng thời, nó cũng là trách nhiệm nặng nề cho ất kỳ cầu thủ nhận lấy. Bởi nó đã dệt lên những huyền thoại ở Old Tranfford như George Best, Johnny Berry, Bryan Robson, Willie Morgan... những người đã đóng góp những thành công rực rỡ cho M.U.

    Sở dĩ phải nói lên điều đó vì tất cả những cầu thủ từng khoác chiếc áo số 7 của M.U luôn là những người xuất sắc nhất trong đội hình đội bóng này. Khi các CĐV sân Old Trafford chưa kịp quên đi hình ảnh của George Best thì lập tức họ đã thấy một Cantona lừng lẫy. Tiếp đó, là một tiền vệ tài hoa bậc nhất của bóng đá hiện đại, David Beckham.




    Johnny Berry (1951 - 1958)

    Johnny Berry, đến với M.U vào năm 1951 - 1958, một trong những tiền vệ cánh phải dũng mãnh nhất của M.U thời đó. Ông đã đóng góp khá nhiều bàn thắng quan trọng giúp cho M.U giành 3 chiếc cúp vô địch ngoại hạng Anh. Tuy nhiên ông đã vĩnh viễn giã từ sự nghiệp thi đấu ở tuổi 31, trong vụ tai nạn máy bay ở Munich.


    George Best (1963 - 1974)

    George Best, một trong những huyền thoại vĩ đại nhất của M.U. ông chính là cầu thủ đầu tiên đưa chiếc áo số 7 trở thành huyền thoại ở M.U. Đến với M.U vào năm 1963 - 1974, George Best đã ghi được 137 bàn thắng trong 316 trận chơi cho M.U. Ngoài ra, cầu thủ này còn là một tác nhân quan trọng giúp cho tuyển Anh giành Cúp VĐTG 1966.


    Willie Morgan (1968 - 1975)

    Willie Morgan là một mẫu tiền vệ cánh xuất sắc, với lối rê bóng điêu luyện, đầy kỹ thuật. Tiền vệ này đến M.U vào năm 1968 - 1975, ông là người khoác chiếc áo số 7 khi George Best nghỉ thi đấu. Ông cho rằng tài năng của mình và George Best là ngang nhau. Trong 236 trận thi đấu cho M.U, Morgan đã ghi được 25 bàn.


    Steve Coppell (1974 - 1983)

    Steve Coppell, nỗi kinh hoàng cho bất cứ hàng phòng ngự nào ở Anh. Ông cùng M.U giành cúp FA vào năm 1977 khi đánh bại Liverpool ở Wembley. Lần đầu tiên khoác áo tuyển Anh của Coppell là chiến thắng trước Ý tại Wembley tại vòng loại World Cup 1978. Coppell phải giã từ sự nghiệp ở tuổi 28 vì chấn thương đầu gối.


    Bryan Robson (1981 - 1984)

    Bryan Robson được mệnh danh là "Vị thủ lĩnh ma quái", ông đến với M.U với giá 1,5 triệu bảng vào năm 1981 - 1994. Robson đã cùng M.U giành được 3 chiếc cúp FA vào những năm 82-83, 84-85 và 89-90. Hai lần vô địch ngoại hạng vào các năm 92-93, 94-95, giành cúp Châu Âu vào năm 90-91.


    Eric Cantona (1992 - 1997)

    Eric Cantona, người được CĐV M.U xưng tụng là "King Eric" một trong những huyền thoại của M.U. Cantona đến M.U vào năm 1992 với giá 1,2 triệu bảng được Liên đoàn bóng đá Anh bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong năm 1994. Cantona giúp cho M.U giành 3 chức VĐ Premier League.


    David Beckham (1992 - 2003)

    Cầu thủ xuất sắc nhất nước Anh năm 2000, Beckham đã đặt dấu ấn thành công của mình vào giải 1999 - 2000 ở giải ngoại hạng Anh. Với chiếc áo số 7, có lẽ Beckham là cầu thủ được những người hâm mộ yêu mến nhất ở M.U. Beckham đã cùng M.U làm cú ăn ba lịch sử mùa bóng 1998 - 1999.


    Cristiano Ronaldo (2003)

    Sau những huyền thoại. George Best, Cantona, Beckham. Và giờ đây là C.Ronaldo cũng khoác chiếc áo số 7. Liệu chàng tiền vệ từ Madeira, Bồ đào Nha này có thể trở thành một huyền thoại của M.U? Đến M.U từ đầu mùa bóng, C.Ronaldo đã nhanh chóng hoà nhập và mau chóng thay thế Beckham.
     
  19. JakeSatan

    JakeSatan <b>◄The Red Devil►<br> -=Devils' King=-</b>

    Tham gia ngày:
    4/9/04
    Bài viết:
    8,039
    Nơi ở:
    Địa Ngục^.^
    Worldcup Uruguay 1930

    [​IMG]
    Việc tổ chức World Cup lần đầu tiên khác nhiều so với ngày nay, không có vòng đấu loại, 13 đội lọt vào vòng chung kết đều là những đội được mời và vòng chung kết sẽ chưa diễn ra nếu như các đội chưa đến Uruguay đầy đủ. Trong số 13 đội thì có 4 đội đến từ Châu Âu, 8 đội đến từ Nam Mỹ và 1 đại diện của châu Mỹ. Chất lượng chuyên môn của giải khá cao và cho thấy sự thống trị của bóng đá Nam Mỹ.

    Măc dù bóng đá chính thức được cả thế giới công nhận vào năm 1904 với việc thành lập Liên đoàn bóng đá thế giới - FIFA, nhưng phải đến tận năm 1924 và kỳ Olympic tại Paris thì môn thể thao này mới có những trận đấu mang tính quốc tế. Đây là lần đầu tiên các đội bóng đến từ các châu lục khác nhau cùng tập trung tại châu Âu để thi đấu. Giải đấu này đã thành công ngoài mong đợi, hơn 50.000 khán giả đã chứng kiến đội tuyển Uruguay đánh bại Thụy Điển trong trận chung kết.

    Tuy nhiên, vào năm 1928, khi mà nhiều quốc gia còn chưa muốn tham dự Olympic tại Amsterdam, thì đây là thời điểm chín muồi để có thể tổ chức 1 giải đấu riêng cho bóng đá, đặc biệt khi xu hướng bóng đá chuyên nghiệp đang ngày càng tăng trong thời gian này. Vào ngày 26/5/1928, tại Amsterdam, hội nghị của FIFA đã bỏ phiếu thống nhất tổ chức một giải đấu mới vào năm 1930 và tất cả các thành viên sẽ được tham gia giải đấu này. Ngày 18/5/1929, cuộc họp Liên đoàn bóng đá thế giới tổ chức tại Barcelona đã chọn Uruguay là quốc gia đầu tiên được đăng cai tổ chức vòng chung kết bóng đá thế giới lần đầu tiên.

    Với tư cách là đương kim vô địch bóng đá tại Olympic và cũng để kỷ niệm 100 năm giành được độc lập, Uruguay đã có vinh dự là nước đầu tiên được tổ chức 1 vòng chung kết bóng đá thế giới. Mặc dù việc chọn lựa được tất cả các quốc gia thuộc Liên đoàn bóng đá thế giới- FIFA tán đồng nhưng nhiều nước châu Âu vẫn giấu giếm sự lưỡng lự của mình trong việc quyết định liệu có cho đội bóng nước mình vượt qua Đại Tây Dương để tham dự vòng chung kết lần này hay không. Và trên thực tế ngày càng nhiều nước châu Âu đã phá vỡ lời hứa tham dự giải lần này.

    2 tháng trước vòng chung kết, không một quốc gia châu Âu nào tỏ ý muốn tham dự giải nhưng nhờ những nỗ lực cá nhân của Chủ tịch Liên đoàn bóng đá thế giới hồi đó là ông Rimet, cuối cùng đã có 4 đội bóng châu Âu là Bỉ, Pháp, Nam Tư và Rumani đồng ý tham dự. Vào ngày 21/6/1930, 4 đội bóng này đã thực hiện chuyến đi bằng thuyền tàu từ thành phố cảng Villefranche-Sur-Mer và đến thủ đô Rio de Janeiro của Brazil vào ngày 29/6.

    Trong trận khai mạc, đội tuyển Pháp đã gặp đội tuyển Mexico và giành thắng lợi 4-1. Nhưng những ngôi sao thực sự tại vòng chung kết lần này lại là đội chủ nhà Uruguay và người láng giềng của họ, đội tuyển Argentina. Tại vòng bán kết, Argentina thắng đậm đội tuyển Mỹ với tỷ số 6- 1, trong khi Uruguay cũng có trận thắng trước đội tuyển Nam Tư với cùng tỷ số và điều này đã hứa hẹn một trận chung kết đỉnh cao giữa 2 đội tuyển láng giềng.

    Một vài ngày trước trận chung kết, tại sân vận động Centenario với sức chứa 100.000 khán giả, bầu không khí đã trở nên cực kỳ náo nhiệt khi chuẩn bị được chứng kiến trận chung kết toàn Nam Mỹ giữa đội tuyển Uruguay và Argentina.

    Và ngay từ khi trận đấu chưa bắt đầu, bầu không khí đã sớm căng thẳng khi cả 2 đội đều muốn thi đấu bằng bóng của mình. Cuối cùng, trọng tài John phải áp dụng hình thức tung đồng tiền và bóng đội Argentina được chọn thi đấu. Lúc đó, tất cả các khán giả tại sân vận động đều cho rằng đây là một điềm không hay với đội tuyển Uruguay.

    Quả thật, may mắn có vẻ không mỉm cười với họ cho dù họ dẫn trước vì sau đó, Argentina lần lượt quân bình rồi dẫn trước 2-1. Nhưng hiệp 2, đội tuyển Uruguay đã có cú lội ngược dòng ngoạn mục khi họ ghi tới 3 bàn vào lưới đội tuyển Argentina do công của các cầu thủ Pedro Cea, Iriate và Castro. Kết quả chung cuộc, đội tuyển Uruguay đã thắng Argentina với tỷ số 4-2 và trở thành đội tuyển đầu tiên vô địch bóng đá thế giới.

    Chủ tịch FIFA, ông Jules Rimet, đã trao bức tượng thần vệ nữ cao 30cm làm bằng vàng, nặng 4 kg do nhà điêu khắc người Pháp Abel Lafleur thiết kế, cho thủ quân đội tuyển Uruguay José Nazassi. Buổi lễ ăn mừng chiến thắng được tổ chức kéo dài nhiều ngày sau đó. Thế nhưng ngược lại với khung cảnh đó, tại thủ đô Argentina, Buenos Aires, cảnh sát đã phải dùng súng bắn vào những kẻ quá khích tấn công vào Đại sứ quán Uruguay ở Argentina. Ngày 31/7, ngày đội tuyển Uruguay giành được cúp vàng đã chính thức trở thành ngày quốc lễ của Uruguay.

    Danh sách ghi bàn

    8 bàn - Stábile ARG

    5 bàn - Cea URU

    3 bàn - Peucelle ARG, Prequinho BRA, Beck JUG, Anselmo URU, Pateunade USA

    2 bàn - Monti, Zumelzú ARG, Moderato BRA, Vidal CHI, Maschinot FRA,
    Vujadinović JUG, M.Rosas MEX + 1 own goal, Stanciu ROM, Castro, Dorado,
    Irarte URU, McGhee USA

    1 bàn - M. Evaristo, Scopello, Varallo ARG, Arellano, Subiabre CHI, Langiller,
    L.Laurent FRA, Marjanović, Tirnanić JUG, Carreño, Gayón MEX, Benito
    Cacéres PAR, Sousa PER, Barbu ROM, Scarone URU, Brown USA

    Phản lưới nhà: 2

    Tổng cộng: 70 bàn, trung bình 3.89 bàn/trận. Đội ghi nhiều bàn thắng nhất: Argentina (18),
    Bỉ và Bolivia không ghi được bàn thắng nào. Tổng cộng có 35 cầu thủ ghi bàn, không một cầu thủ nào trong số đó ghi được bàn thắng tại World Cup 1934.


    Hành trình


    Vòng bảng 13 đội chia làm 4 bảng. Bảng A gồm Argentina, Chile, Pháp và Mexico. Bảng B gồm Bolivia, Brazil và Nam Tư. Bảng C gồm Peru, Romania và Uruguay. Bảng D gồm Bỉ, Paraguay và Mỹ. 4 đội đầu bảng lọt vào bán kết gồm Argentina, Mỹ, Uruguay và Nam Tư.
    Bán kết Argentina - Mỹ 6-1
    Uruguay - Nam Tư 6-1
    Chung kết Uruguay - Argentina 4-2
    Đội hình hai đội
    Uruguay: Ballestero - Mascheroni, Nasazzi - Andrade, Fernández, Gestido -
    Dorado, Scarone, Castro, Cea, Iriarte.
    Argentina: Botasso - Della Torre, Paternoster - J.Evaristo, Monti, Arico
    Suárez - Peucelle, Varallo, Stábile, Ferreira, M.Evaristo.
    Ghi bàn: 1;0 Dorado (12'), 1:1 Peucelle (20'), 1:2 Stábile (38'), 2:2 Cea (58'), 3:2 Iriarte
    (68'), 4:2 Castro (89')
     
  20. JakeSatan

    JakeSatan <b>◄The Red Devil►<br> -=Devils' King=-</b>

    Tham gia ngày:
    4/9/04
    Bài viết:
    8,039
    Nơi ở:
    Địa Ngục^.^
    Worldcup Italia 1934

    Italia, một trong những ứng cử viên không thành công cho chức vô địch tại vòng chung kết năm 1930, đã được chọn làm chủ nhà cho World Cup thứ 2.

    [​IMG]

    Vòng chung kết lần này đã diễn ra từ ngày 27/5 tới 10/6 năm 1934. Lần này có đến 2/3 thành viên của Liên đoàn bóng đá thế giới muốn tham dự vì vậy FIFA đã phải tổ chức vòng đấu loại trong đó có cả đội chủ nhà (đội tuyển Ý) để chọn ra 16 đội lọt vào vòng chung kết.

    Nhưng để trả đũa việc một số đội châu Âu đã không tham gia vòng chung kết 4 năm về trước, các đội tuyển Nam Mỹ như Argentina và Brazil đã không gửi đến vòng chung kết lần này đội hình mạnh nhất của mình.

    Vì lý do này, chỉ có những đội châu Âu mới lọt đến vòng tứ kết. Và trận đấu đỉnh cao của vòng chung kết lần này đã diễn ra giữa đội tuyển Tây Ban Nha với đội tuyển Ý tại thành phố Florence. Trận đấu diễn ra với nhiều pha vào bóng thô bạo của các cầu thủ Ý, và đến cuối trận đấu tỷ số vẫn là 1- 1. Theo quy định hồi đó, nếu kết thúc trận đấu mà 2 đội vẫn hoà thì trận đấu sẽ được tiếp tục vào ngày hôm sau.

    Với cố gắng lấy lại sức cho đội của mình, cả 2 HLV đã phải liên tục thay cầu thủ (5 lần với đội Ý , 7 lần với đội Tây Ban Nha) và cuối cùng chiến thắng cũng đã đến với đội tuyển Ý với 1 bàn thắng duy nhất của trung phong Giuseppe Meazza. 2 ngày sau, 1 diễn biến tương tự với đội tuyển Áo đã diễn ra tại thành phố Milan.

    Trên sân San Siro, 2 đội đã phải thi đấu trên 1 sân đầy nước do 1 cơn bão vừa đi qua và 1 lần nữa, trung phong Meazza lại trở thành người hùng của đội tuyển Ý khi anh ghi bàn thắng quyết định, giúp đội tuyển Ý thẳng tiến tới trận chung kết gặp đội CH Séc và Slovakia- đội đã đánh bại Đức với tỷ số 3 - 1 ở vòng bán kết.

    Trong trận chung kết (10/6/1934), toàn bộ đất nước Italia đã phải nín thở khi chỉ còn 20 phút nữa trận đấu sẽ kết thúc, cầu thủ chạy cánh của đội Tiệp Khắc, Puc, đã bật cao đánh đầu đưa đội khách vượt lên dẫn trước. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, cầu thủ gốc Argentina, Orsi, đã cân bằng tỷ số cho đội tuyển Ý.

    Nhưng đội Ý đã phải chịu tổn thất khi tiền đạo Meazza phải rời sân do chấn thương mắt cá chân. Tuy nhiên, cuối cùng, may mắn đã mỉm cười với người Ý với bàn thắng của cầu thủ Schiavio. Đội tuyển Ý hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu vô địch qua những gì họ đã thể hiện ở vòng chung kết lần này. Cả đất nước Italia có 1 đêm không ngủ.

    Danh sách ghi bàn

    5 bàn - Nejedlý CZE

    4 bàn - Conen GER, Schiavio ITA

    3 bàn - Orsi ITA, Kielholz SUI

    2 bàn - Horvath AUT, Voorhoof BEL, Puč CZE, Fawzi EGY, Lángara ESP, Hohmann,
    Lehner GER, Toldi HUN, Ferrari, Meazza ITA, Jonasson SWE

    1 bàn - Belis, Galateo ARG, Bican, Schall, Sindelar, Zischek AUT, Leónidas
    BRA, Sobotka, Svoboda CZE, Irragorri, Regueiro ESP, Nicolas, Verriest
    FRA, Kobierski, Noack, Siffling GER, Smit, Vente HOL, Sárosi, Teleki,
    Vincze HUN, Guaita ITA, Dobay ROM, Abegglen, Jâggi SUI, Dunker, Kroon
    SWE, Donelli ITA

    Tổng cộng: 70 bàn thắng, trung bình 4.12 bàn/trận. Đội ghi nhiều bàn thắng nhất: Italia (12), không đội nào không ghi được bàn thắng. Tổng cộng có 46 cầu thủ ghi bàn.

    Hành trình

    Vòng bảng Gồm 16 đội tuyển, Argentina, Áo, Bỉ, Brazil, Tiệp Khắc, Ai Cập, Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Hà Lan, Hungary, Italia, Rumania, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Mỹ

    Bán kết Italia - Áo 1-0
    Tiệp Khắc - Đức 3-1
    Chung kết Italia - Tiệp Khắc 2-1
    Đội hình hai đội
    Italia: Combi - Monzeglio, Allemandi - Ferraris, Monti, Bertolini -
    Guaita, Meazza, Schiavio, Ferrari, Orsi
    Tiệp Khắc: Planicka - Zenisek, Ctyroky - Kostalek, Cambal, Krcil -
    Junek, Svoboda, Sobotka, Nejedly, Puc

    Ghi bàn: 0:1 Puc 71, 1:1 Orsi 81, 2:1 Schiavio 95
     

Chia sẻ trang này