[Fanfic] Gate : Pax Americana

Thảo luận trong 'Văn Học' bắt đầu bởi Rumer, 29/10/18.

  1. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    Author : Rumer

    Nội dung:

    Thế kỉ 21, Một cánh cổng kì lạ xuất hiện tại trung tâm Ginza, Tokyo Nhật Bản, nó từ đâu đến và ai tạo ra nó thì vẫn còn là điều bí ẩn. Từ phía kia cánh cổng, Một đội quân gồm những chiến binh cổ đại liền xuất hiện và tàn sát dân chúng. Quân đội nhật phản công và sau khi dành thắng lợi, họ quyết định tiến qua cánh cổng bí ẩn đó để truy bắt kẻ chịu trách nhiệm cho “thảm kịch Ginza”. Quân đội Đế chế và lực lượng phòng vệ Nhật (JSDF) chạm trán nhau thêm lần nữa tại đồi Alnus và chiến thắng vẫn nghiêng về phía những binh đoàn thế kỉ 21.

    Biết rằng thất bại là không tránh khỏi, Pina, công chúa của Đế chế và cũng là người đầu tiên tiếp xúc với JSDF đề xuất một nền hòa bình. Nhật bản chấp nhận và tuyên bố với các nước trên thế giới rằng “ Thế giới mới” là một đặc khu chính trị và kinh tế nằm trong lãnh thổ Nhật.

    Fanfic lấy cột mốc từ chương 49-50 của bộ manga. Ngay tại thủ đô đế chế, Sadera, Hoàng đế Molt Son Augustus đột ngột lâm bệnh, thái tử Zorzal một kẻ tàn nhẫn và bốc đồng chớp lấy thời cơ tuyên bố mình là nhiếp chính, âm mưu phá hỏng hiệp ước hòa bình mong manh vừa đạt được.

    Phía bên này, các cường quốc khác cũng bắt đầu khởi động các kế hoạch xâm nhập Đặc Khu.

    Cảnh báo : Các nhân vật trong fanfic có thể hơi khác so với trong manga- anime Gate thus JSDF fought there.
     
  2. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 1

    KAYLE

    Vùng Biển Phía Nam Nhật Bản – 3: 00 sáng

    Kayle giật mình tỉnh giấc khi chiếc trực thăng đi vào vùng thời tiết xấu trên biển nam Nhật Bản. Khoang máy bay bắt đầu rung lắc, còn động cơ thì cứ phát ra những âm thanh rầm tú đáng sợ, làm người ta dễ nghĩ đến chuyện nó sắp nổ đến nơi. Nếu một mai ngày tận thế đến thì ắt hẳn nó phải bắt đầu như thế này đây. Khi cô còn chưa kịp hoàng hồn thì một cơn chấn động nữa tràn đến, lần này có vẻ nguy hiểm hơn, Kayle ngã nhào khỏi ghế, đầu đập vào tường.

    Mặc kệ cơn đau choáng váng, cô liền vùng dậy, thắt lại đai an toàn rồi khom người lại. Bên ngoài, mặt biển tối đen nhưng tĩnh lặng và lạnh lẽo. Một tín hiệu tốt, trong trường hợp xấu nhất, phi hành đoàn buộc phải bơi một quảng đường dài đến bờ. Cơ trưởng vẫn chưa phát tín hiệu cấp cứu, và khi trực thăng đâm sầm xuống mặt nước thì có lẽ đã quá muộn. Họ không có phao cứu hộ và cũng ai chẳng cần đến nó làm gì nếu chiếc Black Hawk vỡ tan tành sau cú va chạm. Không đủ thời gian để vớ theo thứ gì được nữa, cô kết luận, họ phải thoát khỏi chỗ này thật nhanh trước khi biển cả nhấn chìm mọi thứ. Giờ thì Kayle chỉ mong dòng nước kia đừng quá lạnh lẽo vì sự thật là cô bơi rất kém.

    “Cố lên nào!” giọng cơ trưởng vang lên trong bộ đàm, trầm và nặng, có mùi Whiskey .

    “Chirst, chúng ta rơi nhanh quá.” Cơ phó hốt hoảng kêu lên.

    “Lo để ý bảng thủy lực đi.” Chirst quát “Havey! bám chặt vào.”

    Havey là tên của chàng xạ thủ súng máy, hai mươi tuổi, người Colorado, răng trắng và má lúng đồng tiền. Mặt mày cậu ta giờ tái mét, tuyệt vọng bám lấy đai bảo hộ như những người bị đắm tàu, nhất quyết không chịu buông mảnh ván bé nhỏ.

    Nước bắt đầu bắn lên cửa sổ, và Kayle biết trực thăng đang bay rất thấp. Chừng hai mươi mét là cùng. Đèn cứu hộ tự động bật lên, đỏ sẫm, thê lương như màu máu, còi hú inh ỏi. Khi những ngọn sóng nhấp nhô bắt đầu xuất hiện trên ô cửa kính mờ đục thì cô biết chuyện gì sắp xảy ra

    Năm giây nữa thôi, không hơn. Linh tính đang mách bảo cô. Một tiếng động lớn, vỡ toang và thế là xong

    Hít thật sâu, Kayle chờ đợi. Cô đã nhẵn mặt với thần chết, một lão già cô đơn, ảm đạm, không phải người đàng hoàng gì cho cam. Lão vung tay vào không khí, nắm lấy trái tim của một kẻ đáng thương nào đó, rồi ung dung nhìn nó lạnh dần. Thường thì các ông bà cụ quá tuổi thất thập là con mồi dễ xơi, nhưng gần đây lão lại chú ý tới đám thanh niên và những hoạt động sôi nổi của họ dưới nắng sa mạc. Phải nói là thần chết đang ăn nên làm ra, tuy có vài vụ thất bại nhưng đâu có hề gì vì lão luôn để lại một cái hẹn khi ra đi, như nhắc mọi người nhớ rằng sớm muộn gì họ cũng gặp lại lão.

    Nhưng hôm nay tử thần lại hào phóng tặng thêm cho cô một cái hẹn nữa .

    Chiếc Black Hawk làm một cú xoay người tuyệt đẹp trên mặt biển, lực quán tính làm cơ bắp cô căng lên, ngực nhói đau và hai tai điếc đặc. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong vòng vài nhịp tim, và khi Kayle kịp định thần lại thì nó đã kết thúc rồi. Chirst vừa có một màn cứu thua ngoạn mục, tựa như Roy Jones mắt sưng vù, hàm bị lệch tung đòn đấm móc hạ James Toney trước khi chuông hiệp mười hai kịp đổ.

    “Thoát rồi!” Chirst reo lên vui sướng “Năm mét có hơn đấy.”

    Kayle trộm nghĩ liệu hơi men đang làm ông ta cao hứng hơn bình thường không vì cô thấy hai người còn lại thì chỉ biết ngồi chết lặng trên ghế. Đây có lẽ là lần đầu tiên họ bước một chân xuống mộ, một trải nghiệm không lấy gì làm hay ho.

    Khi trực thăng đã lên cao hơn một chút thì đèn cứu hộ và còi cũng tắt ngấm. Bóng tối tràn vào khoang, tham lam chiếm hết hết mọi khoảng không lớn nhỏ, trừ gương mặt của Havey, u sầu và mệt mỏi dưới ánh trăng mờ xuyên qua lỗ châu mai.

    Trong cảnh tranh tối tranh sáng, Kayle cố tìm lại hành lí, nó đã văng đi đâu mất sau lần chết hụt vừa rồi. Gọi là hành lí nhưng thật ra cô chỉ mang theo vài bộ quần áo, kem đánh răng và khăn tắm trong cái Ba lô có đính logo Fort Bragg, hậu quả của việc bị lôi ra khỏi giường lúc hai giờ sáng. Giờ muốn tìm nó cũng không phải là chuyện dễ vì trong cái khoang rộng chừng bốn mét vuông này là cả một mớ hỗn độn: bưu phẩm từ quê nhà gửi đến, gói lại bằng giấy bạc văng tứ tung trên sàn, vài cái thùng gỗ trông giống thùng đạn cối nằm xếp chồng lên nhau, tạo thành một bức tường màu xanh xám chắn mất lối đi đến buồng lái.

    “Tuyệt thật” Cô lầm bầm “Họ gọi mình dậy lúc hai giờ sáng và nhét mình lên một cái xe thồ.”

    Bất cứ khoảng trống nào còn sót lại đều được tận dụng triệt để, chỉ cần hạ băng ghế phụ xuống là sẽ có chỗ cho vài block bia, một ai đó, mà cô đoán là Havey đã nảy ra ý tưởng biến trầng trực thăng thành một tác phẩm nghệ thuật như cái mà ta thường thấy trong các nhà thờ ở Rome. Nàng Megan Fox tóc đen khiêu gợi trong bộ bikini màu da báo, cạnh bên là Scarlett Johanson, tóc vàng bốc lửa nằm dài trên bãi biển cùng dòng chữ “Chào mừng đến Malibu”. Đàn ông sinh ra để làm chiến binh cũng như phụ nữ sinh ra để thỏa mãn chiến binh, Nietzsche chắc chắn thế và do bọn đàn ông thì tin sái cổ nên Kayle đành chấp nhận trừ việc cô không nghĩ mình sẽ thỏa mãn bất cứ ai trong số bọn họ.

    Phải mất chừng năm phút để Havey lấy lại bình tĩnh, cậu lấy tay lau đi những giọt mồ hôi trên trán nhưng mắt vẫn lơ đãng nhìn về đất liền, nơi ánh đèn thành phố chỉ còn là những đốm mờ trong sương. Với một cảm giác có phần ích kỷ, cô hy vọng tình trạng u ám này kéo dài, ít ra là cho đến khi họ đến Tokyo vì không biết bao nhiêu lần, cô phát giác cặp mắt ấy đang hau háu nhìn mình. Đó là một cái nhìn làm người khác bối rối, cứ như họ đang trần truồng vậy.

    “Havey, kiểm tra thiệt hại đi. Cậu có hai phút. Thiếu tá không sao chứ?”

    “Vẫn còn sống” Cô đáp cộc lốc “Chuyến bay không như tôi mong đợi.”

    Dù thấy mình hơi bất lịch sự nhưng nghĩ lại cô có quyền nói năng như thế vì nói gì thì nói, cô là người có cấp bậc cao nhất ở đây.

    “Xin lỗi về sự cố vừa rồi” Ông ta cười cười “Thường thì thời tiết không hay nhặng xị như vậy đâu nhưng cô biết rồi đấy, chúa thích làm theo cách riêng của ông ta. Tôi luôn tin rằng nếu chúng ta …”

    “Tôi không tìm thấy đồ của mình.” Kayle bực bội ngắt lời, việc mò mẫm trong bóng tối đang bào mòn lòng kiên nhẫn của cô, trong khi đầu vẫn còn đau như búa bổ bởi cú va chạm .

    Anh chàng xạ thủ nghe vậy liền tháo dây bảo hộ ra, nhảy vào giúp. Một vài lần, tay họ vụng về chạm vào nhau và cô là người chủ động rút tay lại. Havey đang cười, Kayle không thấy rõ mặt cậu nhưng cô biết thế. Tám tháng ở Fort Bragg là một trời kinh nghiệm, họ sẽ tìm đủ mọi cách để chạm vào bạn từ phòng ăn ra bãi tập. Sĩ quan huấn luyện, đồng đội của cô, thợ nấu, thợ bảo trì và bảo vệ, tất cả bọn họ. Cánh đàn ông dường như bị ám ảnh bởi việc đó, hoặc có thể do chính Kayle mới là người bị ám ảnh nên đâm ra hoang tưởng. Đời nào có chuyện mọi người đều thông đồng với nhau được, cô tự nhủ vậy.

    “Trong này tối quá” Havey nói

    “Đợi một chút” khi ông ta vừa dứt câu thì đèn bật sáng. Lần này không phải màu đỏ nữa mà là một màu xanh lá mạ. Chàng xạ thủ súng máy không gặp mấy khó khăn để tìm thấy cái Balo và khi cô định nói cảm ơn thì nụ cười đáng ghét ấy lại xuất hiện. Dưới ánh đèn mờ mờ, nó càng trông tởm lợm hơn.

    “Tôi thắng rồi nhé trung úy” Havey tinh quái nói, không kiềm nổi phấn khích “Mười đô! Không! hai mươi chứ.”

    “Mười thôi” Chirst gạt đi nhưng khá yếu ớt “Đừng có tham lam”

    “Hai mươi. Thiếu úy Cooper có thể làm chứng.”

    Thoạt nhiên, cô không hiểu họ đang nói về cái gì nhưng nó ắt phải liên quan đến một vụ cá cược. Copper khẳng định rằng là đàn ông thì không nên hứa cụi và Chirst phải miễn cưỡng gật gù. Không gian bị náo động bởi sự sôi nổi của ba người bọn họ, tuyệt nhiên chẳng ai nhớ đến việc mình vừa suýt mất mạng. Chirst rất muốn biết Havey định làm gì với số tiền ấy và ông ta cũng tự vạch ra một kế hoạch khá lằng nhằng, đầy những khả năng nếu mình là người chiến thắng.

    “Đi bơi. Hồ bơi của quân đội có giá vé năm đô” Havey nói “Số còn lại tôi sẽ mua một chai Labor”

    “Nó có giá một trăm năm mươi đô đấy” Copper tặc lưỡi“không đủ.”

    “Không có vấn đề gì, tôi vớ được một mánh lớn hai trăm đô vào ngày hôm qua rồi. Ngài có biết DD không? Cái tên đẹp mã bên khu Nanto ấy?”

    “Có” Chirst gật gù “Nghe đồn là con cưng tay nghị sĩ nào đó, lại giàu có nữa chứ.”

    Hậu duệ của những ngài tay to mặt lớn luôn nhận được sự chăm sóc đặc biệt - Từ “đặc biệt” ở trong quân đội luôn được hiểu theo cách tiêu cực- Buồn cười thay khi một bộ phận trong quân ngũ lại chính là nguyên nhân khiến số còn lại vác ba lô xung trận. Có hàng nghìn lí do để người ta đi lính. Người thì vì lòng yêu nước thuần túy, chiến đấu bảo vệ giá trị Mỹ - Một thứ mà Kayle vẫn chưa thể xác định được là cái gì. Người thì xem chuyện đi lính như một nghề, nhưng phần đông chọn kiểu đầu húi cua chỉ để đi tìm sự công bằng.

    Thanh niên xuất thân từ các gia đình làm công ăn lương khó lòng chạm ngón tay lên bãi cỏ của dân thượng lưu. Đó là sự thật phũ phàng dù điệp khúc “Một giấc mơ mỹ” chưa bao giờ là quá cũ. Những thanh niên như Havey thích thú với cái ý nghĩ rằng chiến trường là nơi họ lập lại trật tự vốn dĩ đã bị đảo lộn từ lâu, nơi tiền, địa vị trở nên vô nghĩa, và chỉ cần một chút liều lĩnh cộng với may mắn, họ sẽ có quyền đứng ngang hàng với lũ hợm hĩnh kia. May mắn thì cô không chắc nhưng về phần liều mạng thì Kayle biết họ có thừa.

    Suốt thời gian ở trại huấn luyện, cũng may cho Kayle vì ngoài việc cô là phụ nữ ra thì họ không chú ý đến những thứ khác lắm. Chuyện sẽ còn tệ hơn nếu ai đó biết được cha cô là trung tướng Ron.

    “Hắn luôn mồm bảo rằng mình phục vụ đất nước, và rằng sẽ thật không công bằng nếu hắn ngồi ở nhà nhìn đồng bào mình đổ máu.” Havey nói, tất nhiên là bằng giọng hài hước. “Vậy đấy. Quí ngài DD đạo mạo, quí ngài DD sẵn sàng từ bỏ căn biệt thự bên hồ để đến đây với chúng ta! Toàn là bịa đặt. Hắn ra đây chỉ vì số người vác cái bụng đến gõ cửa nhà hắn đã vượt quá năm”

    “Sao cậu biết?” Copper ngạc nhiên.

    “Nếu không muốn người khác biết thì đừng bao giờ làm. Dù gì thì tôi cũng cho hắn một vố. tôi thách hắn cưa đổ con bé người Nhật ở của hàng hóa phẩm trong một tuần” Havey nhúng vai “Nếu tôi thua thì buộc phải trồng cây chuối và sủa gâu gâu mỗi khi gặp hắn trong một tháng. Khỏi phải nói gã tức tối đến mức nào khi vừa chào hỏi được vài câu thì con thì bé chỉ gật đầu rồi chạy biến. Nó không đáp lại gã một lời và tôi thắng cược”

    Kayle phải thừa nhận cu cậu liều mạng thật. Chirst thì lại đinh ninh Havey chơi ăn gian.

    “Cậu đã gian lận?”

    “Chỉ một nửa thôi. Tôi không hề thông đồng với con bé đó và hơn nữa tôi biết nó bị câm lâu rồi.”

    Hai người phi công cười phá lên. Kayle cũng cười theo, chỉ là một một cái nhếch môi rất nhẹ nhưng vậy cũng đủ làm Havey hài lòng. Cô không phải là loại lạnh lùng, xa cách và cũng chưa bao giờ muốn trở thành người như thế.

    Kể từ cái ngày Louie bỏ nhà ra đi với vài trăm đô dằn túi, quyết chí ngắm thế giới qua gian bếp của Bobby Van's Steakhouse, trong khi ở bên ngoài, các ngài tài phiệt, những tay chơi cổ phiếu mới phất, và CEO của Goldman Sach đang nhâm nhi rượu vang cùng món bò hầm kiểu pháp thì những gì từng thuộc về anh: Khẩu súng săn của anh, phòng của anh, trách nhiệm của anh và quyền thừa kế - cha cô kiên quyết gạch tên anh khỏi di chúc - đều được đẩy sang cô.

    “Kể từ nay, con là con trai ta .Đừng làm ta thất vọng như thằng Louie’’

    Cha cô đã nói như thế sau khi Louie đi được khoảng một tuần

    Đối với Kayle, lời của ông giống một mệnh lệnh hơn là thỉnh cầu. Đến giờ cô vẫn còn thắc mắc tại sao mình không có chút phản kháng nào, dù là nhỏ nhất trước quyết định kì lạ ấy. Cô đáng nhẽ nên tìm cách từ chối hoặc khăn gói ra đi. Nhưng không, cô chỉ im lặng và chấp nhận. Có lẽ vì chuyện quá bất ngờ, đường đột nên cô không biết phải làm sao cho đúng hoặc là do cô sợ cha mình lên cơn đau tim nếu nói không. Louie bỏ đi đã là quá sức chịu đựng. Thêm một lần nữa sẽ là đòn chí mạng. Dù luôn cố tỏ ra là kẻ cứng rắn gai góc nhưng có một lần nọ, cô thấy trung tướng ngồi cạnh lò sưởi với khẩu súng săn của Louie trên tay. Ông dùng khăn lau sạch lớp bụi bám trên báng súng rồi cẩn thận đặt nó về chỗ cũ.

    “Một ngày nào đó, có lẽ thế” Cha cô nói rất khẽ như cố không cho ai nghe thấy.

    Lúc bé, Kayle luôn nghĩ mình sẽ lên xe hoa với một nghị sĩ hoặc tướng tá đẹp mã khi lớn lên và thực sự cô đã được nuôi dạy để làm chuyện đó. Cô học trường tư, có thầy dạy kèm riêng để đảm bảo cô sẽ biết lướt mười ngón tay trên đàn dương cầm và đọc Hermet vanh vách bằng ba thứ tiếng. Kayle mơ về những buổi mít tinh ở Boston, ở Carolina và những bữa tiệc rượu Brandy, nơi phòng khách luôn rộn rã tiếng cười của các mệnh phụ phu nhân, trong khi cánh đàn ông bận bàn chuyện cử tri, phổ thông đầu phiếu. Mẹ cô đã có ba mươi tám năm hạnh phúc với một cuộc sống như thế và hiển nhiên cô cũng muốn được như bà.

    Dù đã năm năm trôi qua, cô vẫn không thôi nghĩ vể cái ngày cô đứng trước gương trong bộ đồ đi săn quá cỡ của Louie, súng trường đeo trên vai, chiếc nón tai bèo xấu xí che mất những lọn tóc mai vàng cô từng tự hào một thời mà than thở

    “Mình đang làm cái quái gì thế này?”.

    Cha cô dạy cô mọi thứ mà ông đã cố dạy cho Louie khi anh lên mười: săn bắn, cắm trại, nghệ thuật lãnh đạo, truyền thống quân đội. Có vài khó khăn nhưng rồi cô cũng vượt qua được. Kayle bắn rất khá, khá hơn so với cô nghĩ. Trong cuộc thi tác xạ toàn bang một năm sau, cô dành giải nhì chung cuộc. Thành tích này thôi thúc cô điền tên vào trường bắn tỉa lục quân nhưng cha cô liền nhăn mặt.

    Ông đã dọn lối cho cô vào học West Point dưới sự đỡ đần của một vị đại tá từng mang ơn ông, vô tình thay nay là hiệu phó của học viện. Đó bước đầu tiên để Louie và nay là cô có một chân trong Lầu Năm Góc. Kế hoạch phải nói là rất hoàn hảo, Trung tướng Ron đã lường hết mọi chuyện trừ cái tính cứng đầu của thằng quí tử. À không, ông cũng đâu ngờ cô cũng cứng đầu y như vậy. Cái viễn cảnh phải hy sinh cuộc sống cũ chỉ để đổi lấy ba mươi năm ngồi sau bàn giấy, dự những buổi tọa đàm nhàm chán và chờ đợi đặc ân từ đám bạn già đầy uy quyền của cha mình khiến Kayle phát ngán. Không! Ngàn lần không. Cha đã biến cô thành một người lính, và cô sẽ sống như một chiến binh đúng nghĩa.

    Kì lạ thay, lúc đó chuyện phản kháng thật quá ư là dễ.

    Một ngày cuối tháng giêng, trời vẫn còn se lạnh, người ta thấy một chiếc Lincol dừng lại trước cổng Fort Bragg, ngôi nhà của các lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ. Kayle bước xuống xe với một niềm vui khó hiểu, khác hẳn với ngài trung tướng, rầu rĩ và mệt mỏi lê bước như một kẻ sắp ra pháp trường.

    “Ta không biết nói gì ngoài việc chúc con may mắn” Cô thấy hai má ông rung lên “Nhưng nếu sau này con đổi ý thì …”

    “Không đâu” Kayle ngắt lời ông. Cô sẽ không bỏ cuộc giữa chừng “không bao giờ”

    Thế là Kayle sải bước đi vào trong, để rồi sáu năm sau, cô lại ước gì mình đã nói “Vâng”

    “Đó là vụ hai trăm đô, thế còn vụ mười đô?”

    Kayle vô tư lự hỏi, giống như khi ta vô tình nghe được chuyện trái khoái trong quán rượu rồi mời người kể vài ly bia, hy vọng họ bồi vào một cái gì đó thú vị hơn nữa. Tuy nhiên, chỉ có sự im lặng là hồi đáp. Tự dưng cả ba người bọn họ nín bặt như thể cô vừa phạm thánh.

    Không hiểu sao cô lại có cảm giác trò cá cược vừa rồi có liên quan đến mình. Mấy trò chơi khăm của đám lính tráng với cấp chỉ huy thì không có gì lạ vì chính cô cũng từng bỏ ra năm dollar ra để đoán cái ngày đại tá Peterson đệ đơn ly dị bà vợ đàng điếm. Tiền thắng cược nào có quan trọng lắm khi niềm vui duy nhất ở đây là đừng bao giờ để bị phát hiện.

    “Trung úy Chirst?” Cô chờ đợi một câu trả lời.

    “À thì…” ông ta ấp úm “Chỉ đơn thuần là về nhiệm vụ ấy mà.”

    “Nhiệm vụ? Nhiệm vụ của ai đây?”

    “Của cô, thưa thiếu tá” Chirst e dè đáp

    Kayle tựa lưng vào ghế, ngồi bắt chéo chân rồi ném cho Havey một cái nhìn đe nẹt khiến mặt mày cậu ta biến sắc. Phải thừa nhận là việc dọa nạt cấp dưới có cái thú vị riêng của nó.

    Chirst hít một hơi rồi nói :

    “Thiếu tá biết đấy, chúng tôi không hay nhận nhiệm vụ đưa đón cấp sĩ quan. Thường thì những chuyến bay sớm chỉ để chuyển thư và bưu phẩm còn sót lại từ đợt trước mà thôi. Lúc thấy cô ở sân bay, tôi đã nói với Havey rằng cô giống Demi Moore nhưng anh ta lại cho là không.”

    Nhiều phụ nữ sẽ nhảy cẩn lên khi người ta so sánh họ với nữ minh tinh một thời nhưng Kayle lại thấy khó hiểu vì Demi Moore và cô đâu có điểm gì chung, ngay cả màu tóc cũng khác.

    “Trong A Few Good men. Cô ấy đóng vai nữ luật sư hải quân đến vịnh Cuba để điều tra án mạng. Tôi nghĩ cô sắp biện hộ cho anh binh nhì nào đó ở Tokyo, có vẻ tôi đoán trật rồi.”

    Cô nhớ là mình chưa hề nhắc đến nhiệm vụ ở Tokyo, cũng như việc cô là ai và từ đâu đến. Các phi công thường chỉ biết mỗi tên hành khách, nơi đi và điểm đến, ngoài ra thì họ không được cung cấp gì thêm.

    “Cái Logo trên túi của cô, thưa thiếu tá.”

    Havey nhanh nhảu nhảy vào và giải thích. Cái logo đính trên đó giờ như chứng minh thư của cô vậy. Thật sự thì số luật sư quân đội xuất thân từ Fort Bragg gần như là con số không.

    “Cô thuộc lực lượng đặc biệt sao?” Cooper tỏ vẻ ngạc nhiên “Seal hay Delta?”

    “Spectre” cô đáp.

    Đó là cái tên khá lạ lẫm nhưng nếu là người từng lăn lộn ở Iraq hay Afganishtan thì họ phải biết đơn vị này. Năm 2007, Hoa Kỳ nhận ra rằng họ không thể chống lại lối đánh du kích đô thị theo cách thông thường được. Cuộc xung đột gần thập kỷ chỉ quanh đi quẩn lại trên những con phố đầy bụi, những khu nhà tồi tàn vùng ngoại ô, nơi quân nổi loạn tha hồ tổ chức phục kích, còn mấy tay diều hâu ở Washington thì đứng ngồi không yên với đám người biểu tình ở đồi Capitol mỗi khi đạn cối đánh sập khu nhà nào đó. Do vũ khí hạng nặng tỏ ra kém hiệu quả nên họ đành quay sang sử dụng các đội đặc nhiệm.

    SEAL và Delta là những người đầu tiên vào cuộc, họ tham gia các trận càn cùng lính thủy đánh bộ, những vụ đột kích lúc năm giờ chiều, khi đối phương còn bận đọc kinh cầu nguyện. Không còn cảnh nhà cửa tan hoang vì bom đạn nữa, thương vong cũng giảm rõ rệt, tướng lĩnh hoan hĩ, dân Mỹ vui mừng, tất cả đều hạnh phúc trừ người Iraq – tất nhiên họ lúc nào mà không phiền muộn. Nhưng rồi các chỉ huy chiến trường cũng nhận ra họ đang lãng phí nguồn lực của hai đơn vị tinh nhuệ nhất Hoa Kỳ. Nhiệm vụ chính của SEAL là tiêu diệt các đối tượng giá trị chứ không phải ngày nào cũng xuống phố chơi trò mèo vờn chuột với phiến quân được và tổn thất cũng dần bất đầu xuất hiện. Quân đội cần gấp một lực lượng lì lợm, không ngại nguy hiểm chuyên trách mảng đó nên cuối năm 2009, Spectre ra đời. Đội có một trăm năm mươi thành viên, đa phần là tân binh như Kayle, một ban tham mưu độc lập nhưng toàn là nhân viên CIA và ở đâu có bọn Langley thì chỗ đó luôn bốc mùi hắc ám.

    Trách nhiệm của Spectre là tìm và diệt càng nhiều quân nổi dậy càng tốt, một công việc vinh quang, khiến ai trong đội cũng nghĩ mình như người hùng trong mấy tháng đầu tiên nhưng đó là chỉ trước khi CIA tiếm hết mọi quyền hành. Các nhiệm vụ bắt đầu trở nên bẩn thỉu, họ thường xuyên xông vào nhà người khác lúc nửa đêm, lôi kẻ tình nghi ra khỏi giường rồi ném lên xe tải, đôi khi cô còn nhận được lệnh bắt luôn cả đàn bà trẻ nít vì có tên khôn lõi nào đó trong ban tham mưu nghĩ cái trò gây sức ép luôn cần thiết trong trường hợp bẻ răng hay trấn nước mất tác dụng. Dưới đôi cánh bảo hộ của cục tình báo, Spectre tha hồ sử dụng mọi phương thức tấn công tàn bạo miễn là hoàn thành nhiệm vụ

    Tuy không trực tiếp tham gia vào mấy vụ tra khảo nhưng cô cũng nghe được vài lời bàn tán. CIA có hẳn một trại tù ngay tại Iraq, họ ngụy trang nó thành nhà máy phân bón, tường bê tông bao quanh và lính Spectre bảo vệ chúng. Điều kiện giam giữ thì khỏi cần bàn, tù nhân còn thở được ngày nào thì khổ ngày ấy. Báo chí đánh hơi được liền mò đến, CIA nhanh chóng dọn sạch chỗ đó rồi chuyển tù nhân đến nơi khác. Họ còn láu cá trao cho Spectre một cái tên dài lằng ngoằng “Đơn vị xây dựng, tái thiết, cung ứng vật tư nông nghiệp Iraq thời hậu Sadam do Hoa Kỳ tài trợ” để tránh bị nghi ngờ.

    Do dính líu quá nhiều đến hoạt động tra tấn bắt bớ nên quân đội phát hoảng rồi nhường luôn quyền điều hành Spectre cho phía tình báo. Một nước cờ khôn ngoan, nhỡ một mai chuyện có bị vỡ lỡ thì họ chỉ cần phủi tay nói “Spectre thuộc CIA nên chúng tôi không liên quan.” Cái ngày đó cuối cùng cũng đến, chỉ có điều sớm hơn họ tưởng mà thôi.

    “Spectre xuất hiện ở đây thì sớm muộn gì cũng có rắc rối.” Chirst rầu rĩ rồi buông thêm một câu “Chiến tranh là không tránh khỏi.”

    Người đàn ông này cũng là môt cựu binh của “Chiến dịch Iraq tự do”, cái tên có phần mỹ miều cho một cuộc phiêu lưu thảm họa của nước Mỹ.

    “Tôi không ngại đánh nhau đâu” Havey nhúng vai. “Tôi đã sẵn sàng”

    Kayle thì không thể nói mình sẵn sàng được. Ngay từ cái lúc gã chiến binh thánh chiến ngã nhào từ bang công tầng ba xuống đất với một cái lỗ to bằng đồng xu trên bụng, cô biết mình chưa bao giờ sẵn sàng. Mỗi lần siết cò, mỗi lần máu bắn ướt mặt tường, thảm trải sàn và rèm cửa, một phần trong cô lại chết đi. Người ta đã dạy cô cách giết chóc hoàn hảo nhất nhưng lại quên nói cho cô biết làm sao để sống chung với nó. Sau Iraq hoang tàn, bạo lực và một Afganishtan cũng hoang tàn bạo lực không kém thì cô chỉ muốn đến một chỗ yên bình, nơi cô có thể dành cả buổi sáng viết báo cáo, ăn trưa trong căn tin, dạo chơi trên những con phố mà không cần sợ cái thùng rác ở góc đường tự dưng phát nổ. Cha cô nói đúng. Ba mươi năm làm văn phòng và chờ chiếu cố không hẳn là ý tồi.

    “Sẽ không có chiến tranh đâu. Spectre bị giải thể rồi. Kẻ thù không còn thì nó cũng chẳng cần tồn tại làm gì. Tôi đến đây với tư cách là sĩ quan huấn luyện.”

    Kayle cố trấn an Chirst mà thực sự cô nói thế chỉ để tự trấn an chính mình nhỉ? Một cú điện thoại khẩn từ Tokyo, một chuyến bay vội vã, mệnh lệnh thì mờ mịt. Có chuyện gì đó rất kinh khủng đang diễn ra và tệ hơn hết là cô hoàn toàn không biết đó là gì.

    “Cánh cổng.” Cooper khẳng định “Chỉ có thể là nó mà thôi”

    Nghĩ lại, Kayle thấy chuyện này cứ như đùa. Một vật thể kì quái tự dưng xuất hiện ngay tại khu vực nhịp nhịp nhất của Tokyo, một trận tắm máu giữa JSDF với những kẻ xâm lược cưỡi rồng và kị sĩ mặc áo giáp lưới, một chiến dịch trã đũa qui mô kết thúc với chiến thắng tuyệt đối của người Nhật. Ngay cả khi súng vẫn chưa thôi nổ và người vẫn chưa thôi chết trên những con phố đổ nát của Syria thì truyền thông vẫn ngập trong đống tin tức về một đất nước viễn đông và một thời kì hoàng kim của khai phá, thám hiểm. Liệu mọi người sẵn sàng gây chiến với nhau vì nó không nhỉ?

    Kayle toan tiếp tục câu chuyện thì Chirst cắt ngang.

    “Đã đến Tokyo thưa thiếu tá, thời gian hạ cánh dự đoán là 4: 25 sáng.”

    Kayle thoáng nhìn qua ô cửa, con tim cô đập rộn ràng theo từng làn sóng phấn khích. Tokyo không làm cô thất vọng, nó đẹp rực rỡ trong thứ ánh sáng nhiều màu, các khu dân cư riêng rẽ được xâu lại với nhau bằng những con đường uốn lượn và những tòa nhà chọc trời đứng sừng sững, đầy kêu hãnh, thách thức cái lạnh tháng mười. Một thành phố sầm uất giống y như trong trí tưởng tượng của cô miền Tây Virginia. Nếu như Kayle, một thiếu tá, một người Mỹ thú nhận rằng mình không biết một thành phố lớn thì trông ra làm sao, người ta sẽ cười phá lên. Trước khi vào quân đội, thị trấn Hasen là nơi gần ánh sáng đô thị nhất mà cô từng đặt chân đến, sau đó cô chỉ biết Bagdad, một thành phố cũng nổi tiếng đông đúc nhưng người dân cứ tối tối lại ở lỳ trong nhà, còn ban ngày, họ chẳng dại gì mà thò đầu ra đường. Nói chung, Kayle không biết tí gì về New York, Washington hay Los Angeles trừ những thứ có trên tạp chí, phim ảnh và mục quảng cáo nhà đất.

    Khi họ bay ngang trung tâm thành phố, Kayle đề nghị Chirst bay thấp hơn để cô có thể thấy rõ con phố bên dưới. Chirst vui vẻ làm theo và cô không ngại nói cảm ơn ông với thái độ chân thành nhất.

    “Lần đầu cô đến Tokyo sao? Ấn tượng chứ?” Chirst hỏi

    Đáng nhẽ cô phải nói đây là lần đầu tôi thấy một thành phố thực sự nhưng lại thôi.

    Cánh cổng mà Cooper nhắc đến ở bên khu Ginza, ở đây thì cô thể không thấy nó được. Xa về phía tây, vươn lên giữa những tòa nhà cao tầng là tháp truyền hình Tokyo, công trình cao nhất nhì thế giới lộng lẫy trong ánh đèn Neon xanh màu biển. Cô đã từng nhìn thấy tòa tháp trên mặt báo nhưng giữa việc ngắm nghía một kỳ quan kiến trúc qua khung ảnh cỡ 6x9 và trông thấy nó bằng đôi mắt trần thịt thì đúng là khác nhau một trời một vực. Nó to và cao đến nổi những tòa nhà cao nhất Tokyo chỉ như những cây nấm lùn dưới gốc đại thụ và đẹp đến mức Kayle không tìm được từ ngữ nào diễn tả được.

    Chirs không hề dấu diếm ý định lượn quanh cái tháp vài vòng nhưng do sợ mấy tay điều phối không lưu sẽ nhảy dựng lên nên đành bỏ cuộc.

    “Các anh sẽ về Iga ngay hay ở lại một hai hôm?”

    “Về ngay hôm nay, thưa thiếu tá. Tám hoặc chín giờ sáng là chậm nhất. Máy bay cần được bảo trì trước khi cất cánh.”

    “Vẫn còn đủ thời gian cho điểm tâm. Các anh tham gia cùng tôi chứ?”

    “Một mênh lệnh?” Ông ta huýt sáo

    “Còn tùy” Cô nhúng vai. “Nhưng anh có thể tạm xem đó là một lời mời. Giờ thì lượn vài vòng quanh cái tháp truyền hình xem nào, tôi sẽ chịu trách nhiệm.”

    “Tuân lệnh” Chirst và Cooper đồng thanh trong niềm vui sướng.

    Mặc xác cái gì đang ở phía trước. Trong lúc này, tất cả những gì cô muốn là tận hưởng cảnh tượng huyễn mỹ trước mắt mà thôi.
     
    Kitr thích bài này.
  3. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 2

    HART

    Trời mưa suốt cả tuần ở Tokyo. Mưa bắt đầu rơi từ hôm thứ hai, đến hôm thứ năm thì cứ như một trận bão, và khi người ta bắt đầu hy vọng về một ngày đẹp trời thì nó lại mưa tiếp. Khu phía tây đã bị ngập, công binh liền vác xẻng đào một cái mương nhưng nước lại chảy lênh láng sang nhà ăn tập thể nên họ đành phá nó đi. Sau vài hôm làm việc dưới cái lạnh thấu xương và ướt sũng, cả bọn đi kết luận rằng căn cứ đang nằm trong một vùng trũng, rằng có đào hay xới tiếp cũng không ăn thua và việc cầu nguyện cho mưa đừng rơi xem chừng khả thi hơn.

    Đại tá Hart Sayer đứng trên bậc tam cấp của khu nhà sĩ quan, mắt hướng về khoảng sân đối diện, hắt một hơi đầy bực dọc. Đã gần sáu giờ sáng mà trên cái sân rộng gần ba trăm mét vuông không có lấy một bóng người, trừ ba bốn chiếc áo mưa lượn lờ gần hàng rào bảo vệ như những bóng ma. Cánh quân y nằn nặc xin ông cho hoãn các hoạt động huấn luyện thường ngày lại vì theo họ để binh sĩ phơi mình dưới thời tiết như thế này chẳng khác gì làm bia cho bệnh sưng phổi. Sau ba mươi năm lấy doanh trại làm nhà, Hart không thích ý tưởng này chút nào, việc thiếu tiếng kèn Trumpet và bốt nện vào mỗi sáng cứ như sự trừng phạt, nhưng cái trách nhiệm giữ cho các đội đặc nhiệm luôn ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu làm ông chỉ còn biết cách đồng ý .

    Nước mưa bắn lên bộ quân phục của Hart khi ông tiến về phía sở chỉ huy. Đó là một căn nhà hai tầng cũ kĩ màu xám, vốn đã vô chủ từ lâu trước khi Hart đến đây và thấy được tiện ích của một căn hộ có ít cửa sổ, nằm ở rìa ngoại ô hẻo lánh, xứng đáng làm trụ sở tạm thời của lực lượng đặc nhiệm. Người lính đứng trong trạm gác vội dập gót chào khi thấy ông đến, một người khác xuất hiện từ hư không cùng với một chiếc ô, anh ta tháp tùng ngài chỉ huy trưởng đến tận cửa rồi mới trở về vị trí cũ. Hart bước vào trong, cởi áo khoác và mũ rồi đi lên lầu,ít ra trong này cũng làm ông thoải mái đôi chút, khô ráo và sạch sẽ.

    Nhân viên trực điện đài vẫn đang ngáy ngủ trên ghế sofa, và còn khoảng một tiếng nữa mới đến giờ làm việc nên ông không định đánh thức anh ta dậy. Dù đã đến Nhật Bản ít lâu nhưng đồng hồ sinh học của ông vẫn cứ chạy như hồi còn ở Nam California thành thử trong ngày luôn có những khoảng thời gian trống nhạt nhẽo. Hart đi đi lại lại quanh bàn làm việc, ngước mắt nhìn lên kệ sách, với tay lấy một cuốn nhưng sau đó lại đặt nó về chỗ cũ. Ông không đọc sách hay xem tivi vào buổi sáng mà chỉ thích nghe Raido, một thói quen có từ thời niên thiếu sống với ông nội trong căn nhà gỗ ở miền tây Arizona, nơi mà vào những năm sáu mươi, điện và truyền hình vẫn còn là thứ quá xa xỉ. Tokyo cũng có đài phát thanh nhưng khổ nổi không có kênh tiếng Anh nào, chỉ toàn tiếng Nhật và Hart hoàn toàn mù tịt về thứ ngôn ngữ nghe lạ tai này.

    Nước Nhật là một xứ sở bí ẩn, ngay cả người dân của nó cũng có cái gì đó rất kì lạ. Nhiều lúc, ông cũng phải đặt câu hỏi về độ tin cậy của người đồng minh Nhật Bản. Họ thích hay căm ghét nước Mỹ? Thật khó để biết được. Ở Panama, Iraq, Afganishtan hay Yemen thì chuyện có phần đơn giản hơn, phân nửa dân số ở đó muốn ông chết, số còn lại chỉ mong ông biến đi cho khuất mắt.

    Có một dạo, ngài đại tá nảy ra ý tưởng dò xét thái độ của người Nhật. Ông vận quân phục chỉnh tề với ba ngôi sao bạc, hai trái tim tím cài trên áo, đón chuyến xe buýt đầu tiên đến nhà ga đông đúc nhất Tokyo và ngồi lì ở đó hàng giờ đồng hồ. Mặc dù không hút thuốc nhưng Hart ngậm một cái tẩu trên miệng, cốt để nhại lại hình ảnh của tướng Mc Arthur, người mà ông cho rằng đã hằn sâu trong tâm trí của dân Nhật. Thành thật mà nói, ông đã mong chờ những cái liếc mắt, bĩu môi nhưng cuối cùng chẳng nhận được gì. Họ hoàn toàn lờ ông đi, như thể ông không có ở đó và điều đó không có nghĩa là họ thù địch. Chưa khi nào trong đời ông cảm thấy bức bối đến thế.

    Là sĩ quan thuộc lực lượng tác chiến Đặc biệt, Hart thừa biết chiến trường ngày nay không đơn thuần chỉ là chạy và bắn nữa, nó đòi hỏi ông phải có một hiểu biết nhất định về cư dân bản địa và dùng những hiểu biết đó như một lợi thế, nhưng giờ ngay cả chuyện họ là thù hay là bạn ông còn lo chưa xong huống hồ gì dám nghĩ đến chuyện tiếp theo. Hart phải thừa nhận đây là khởi đầu có phần tồi tệ khi ông phải phối hợp với người Nhật trong những nhiệp vụ sắp tới dù cả đời ông luôn tự cho mình là kẻ lạc quan.

    Ngài đại tá tự pha cho mình một tách cà phê rồi ngồi vào bàn làm việc. Cách giết thời gian hữu hiệu hiện giờ là đọc tiếp bộ tài liệu mật do CIA gởi đến, một thứ nhìn chung khá vô tích sự. Tất cả tin tình báo về Đặc Khu bí ẩn đều được cung cấp bởi Nhật Bản và họ chia sẻ chúng một cách tằn tiện. Đến giờ thì Hart chỉ biết ở bên kia cánh cổng có một quốc gia đa chủng tộc được gọi là Đế Chế, ngoài ra thì ông không có thông tin gì thêm. Tuần trước, ông phải gọi một cú điện than phiền đến Đô đốc Flint vì họ gởi đến danh sách các loại hoa được người dân Đế chế yêu thích trong khi cái ông cần là một tấm bản đồ,đã vậy ở đầu mỗi trang tài liệu luôn bắt đầu với dòng chữ:

    Đây là thông tin chưa được kiểm chứng, một số được dựa trên quan sát cá nhân và những ghi chép không rõ nguồn gốc từ nền văn hóa bản địa.”

    “Thế có nghĩa là sao? ” Ông lầm bầm “Tức là không thể tin tưởng vào những gì mình đọc được à?"

    “Tức là họ chẳng biết gì hết” một giọng nói phát ra từ phía cửa

    Hart ngước mắt nhìn lên thì chỉ thấy cái dáng người cao gầy quen thuộc. Nhiều đồng đội đã ra đi trong những buổi liên hoan hoặc trong quan tài nhưng người này vẫn còn ở đây.

    “Emerson. Anh dậy sớm thế?”

    “Thời tiết lạnh lẽo không tốt cho khớp gối lắm. Tốt nhất là đừng nằm lì một chỗ quá lâu.” Emerson chậm rãi bước vào phòng, mặt nhợt nhạt như thường lệ. “tôi ngồi được chứ?”

    Hart không trả lời, chỉ hắng một tiếng và tiếp tục công việc. Sau từng ấy năm, ông vẫn không hiểu tại sao ông bạn của mình cứ giữ khư khư mấy cái cử chỉ lịch sự rườm rà mãi. Có lẽ là do xuất thân một trời một vực nên ông vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng.

    Hart gặp Emerson tại trại huấn luyện Braka khi được gởi sang Afganishtan làm cố vấn năm 1983. Ngay từ giây phút đầu tiên, ông đã có ác cảm với người thanh niên tóc màu bạch kim, hàm khỏe, đeo kính gọng tròn chỉ vì anh ta không thuộc tầng lớp của ông. Bọn người thượng lưu ở West point có thói quen nhắc cho Hart nhớ nguồn gốc nhập cư Ireland nên bất cứ khi nào nhìn thấy một tên trong số bọn chúng, Hart gần như chỉ muốn lao vào đấm một trận ra trò. Các Mujahideen năm đó cũng nhận ra khác biệt giữa hai người bọn họ, dù cả hai đều mặc cùng mặc một màu quân phục, cùng phụng sự một đất nước. Trong khi Trung úy Emerson đẹp trai và lịch lãm như một nhà quý tộc thì Hart lại mang nét thô kệch của dân vùng Arizona. Emerson đại diện cho tất cả những gì Hart căm ghét, từ thái độ dửng dưng đến cái đầu chải chuốt quá đáng nhưng ông đành gác chuyện đó qua một bên vì phía trước là cả một cuộc chiến dài gian khổ.

    Sau vài lần nếm mùi lửa đạn, nhìn thấy máu của kẻ thù hoặc chiến hữu thắm trên cát, Hart mới phát hiện ra người đồng sự cũng không tệ như ông nghĩ. Emerson Wilkes là một kẻ mộng mơ, một quí tộc khắc khổ và một người lính đầy cay đắng. Chính tinh thần quả cảm nặng tính cải lương ấy làm lòng đố kị trong ông dần phai đi, và như một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu với cái kết có hậu, ông đã quyết định kết bạn với Emerson.

    Mà thật sự thì Hart không bao giờ cảm thấy hối hận về quyết định ấy. Nếu không nhờ Emerson và gia đình Wilkes thì ông còn lâu mới ngồi vào vị trí này được. Bản tính bốc đồng khiến Hart luôn là sĩ quan đầy tiềm năng nhưng cũng làm ông khó mà leo cao.

    “Có gì mới không?” Emerson hỏi rồi chỉ tay vào mớ giấy từ Hart đang cắm cúi đọc

    “Tôi đã xem qua nó. Cũng vô dụng như những lần trước. Hai chương đầu có vẻ ổn, ít ra anh cũng biết thế giới mới không man rợ nhưng ta tưởng. Phần còn lại thì chỉ làm anh nhức đầu bới thuật ngữ của dân otaku.”

    Ota..ku ? cái từ này hình như ông đã nghe ở đâu đó. Có một điều rất là khó chịu khi học tiếng nhật, một số từ quá dài để nhớ trong khi số khác lại quá ngắn và dễ lẫn lộn.

    “Otaku, những kẻ nghiện manga hay anime, người nhật hay gọi như thế. Còn nhớ đám thanh niên ăn vận lòe loẹt trong hội chợ lần trước không ? Cosplayer, một dạng của Otaku.”

    Cái này thì ông không bao giờ quên được. Đám Cosplayer ấy khiến mấy cái quần ống toe và băng đô của dân Hippie trông chẳng khác gì sự cáy tháy vô hại.

    “Cà phê không ?”

    Hart vội láy sang chuyện khác trước khi Emerson kéo ông vào mấy chủ đề chán ngắt. Hôm nay là một ngày ủ dột và ông không thích bắt đầu nó với những thứ dễ làm ông nổi cáu.

    “Không đường nhé. Tôi thích cà phê Columbia.”

    Vì không phải là người sành cà phê nên Hart đành để Halminton xoa đôi bàn tay mảnh khảnh quanh cốc cà phê Bolivia với hy vọng là ông bạn già của ông không nhận ra sự khác biệt, dù gì Columbia và Bolivia cũng nằm cùng một châu lục.

    “Tôi e rằng có vài tin xấu” Emerson nhấp một ngụm nhỏ, nhăn nhó đặt cái cốc xuống bàn “Có vẻ chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm hộ tống một phái đoàn ngoại giao ở Đặc khu, theo như cái cách mà họ nói bóng gió trên truyền hình thì có lẽ là vậy.”

    Hart biết việc Hoa Kỳ can dự vào Đặc Khu chỉ là vấn đề thời gian. Nhật Bản không thể dùng kế hoãn binh lâu hơn được nữa, họ có hai chọn lựa: Mất đồng minh hoặc chấp nhận chia sẻ quyền lợi. Ông không ngạc nhiên khi họ chọn cái thứ hai, nhất là khi có khối kẻ ngoài kia chỉ muốn thấy dân Nhật ăn cỏ.

    “Và nếu anh định hỏi chúng ta có bao nhiêu thời gian thì không nhiều đâu, chừng một tuần hoặc hơn.”

    “Lạy chúa.” Hart thất vọng. Chừng ấy thì không đảm bảo được gì “Làm thế quái nào mà Đô Đốc nghĩ có thể tiến hành một vụ xâm nhập trong một tuần được, thậm chí tôi còn không có lấy một tấm bản đồ”

    “Không phải Đô Đốc. Mệnh lệnh trực tiếp từ Nhà Trắng và nên nhớ rằng đây không phải chiến dịch quân sự” Emerson nhúng vai “Một Sứ mệnh ngoại giao, tôi tin là nó được gọi như vây.”

    “Cũng như nhau thôi !” Hart bực bội “Họ muốn gọi nó là gì cũng được. Bất cứ khi nào binh sĩ của tôi bước ra khỏi nước Mỹ thì đó là chiến tranh.”

    Chẳng ai muốn nghe mấy chuyện đánh nhau vào lúc này. Từ Wincosin đến New Orleans, người ta nắm lấy tay nhau và hát Kumbaya còn các chính khách thì suốt ngày ra rả với cái mớ thông điệp hòa bình, ổn đinh thịnh vượng. Hai mươi năm, ba cuộc chiến, Hart biết nước mỹ đã quá mệt mỏi, thêm một cái quan tài phủ cờ nào nữa chỉ khiến họ điên lên thôi.

    Nhưng đó không hẳn là thứ khiến Hart lo lắng. Những nhiệm vụ phức tạp là sở trường của lực lượng đặc biệt. Tất cả binh lính trong đơn vị đều là những người dày dặn trận mạc và từng chiến đấu cùng ông ở Iraq. Họ từng tiến hành nhiều vụ khó khăn hơn nhiều với mức thương vong thấp.

    “Vấn đề ở chỗ” Emerson khẽ nâng cặp kính, và như thường lệ ông biết mình sắp nghe cái gì đó rất xấu “Người Nhật chỉ cho một đoàn ba mươi người vào Đặc Khu, không hơn không kém và Tổng thống đã đồng ý.”

    Họ muốn tự sát chắc. Hart chỉ muốn như thét lên. Một phái đoàn ngoại giao ít nhất cũng đã hơn hai mươi người, và nếu họ chỉ được phép cử ba mươi thì chỉ có sáu bảy lính đặc nhiệm làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn. Đó sẽ là một thảm họa nếu họ bị tấn công, không có hỏa lực yểm trợ, hoàn toàn đơn độc. Ông không hề nghi ngờ khả năng của những chàng trai do ông đích thân đào tạo nhưng chỉ cử đi một tiểu đội thì chẳng khác gì muối bỏ bể. Ông hy vọng ai đó đã nói cho Tổng Thống biết kế hoạch này phi lí đến mức nào.

    “Tôi lại nghĩ họ thích nó” Emerson dường như đọc được suy nghĩ của Hart “Nga và Trung Quốc sẽ gào lên nếu quân đội Mỹ ồ ạt tràn sang Đặc khu, một nhóm không quá ba mươi người thì dễ chấp nhận hơn.”

    “Dễ chấp nhận hơn ?” Hart châm chọc “Nếu ba mươi cái xác được xem là dễ chấp nhận thì tôi không có gì để nói.”

    Ngài phó chỉ huy không nói gì thêm, chỉ thở dài và thưởng thức cốc cà phê. Cũng như ông, Emerson hiểu rõ những rủi ro trong nhiệm vụ này, nhưng giờ họ đâu có thể làm gì hơn ngoài lựa chọn một đội xuất sắc nhất và cầu nguyện chứ ?

    Đúng tám giờ sáng, bản danh sách phái đoàn được gởi đến bằng máy Fax. Người thư kí mang nó đến cho Hart cùng với một bản copy. Ông có phần nhẹ nhõm khi chỉ có hai mươi hai cái tên trên giấy, đồng nghĩa với việc ông sẽ có tám chiến binh kì cựu trên thực địa. Hart thích con số mười hai hơn, ít ra ông cũng còn có đủ quân số để chia họ thành làm hai đội: khiên và giáo. Đội Khiên có trách nhiệm bảo vệ và sơ tán đoàn khi bị tấn công còn đội giáo sẽ tiêu diệt kẻ địch hoặc ít nhất là kiềm chân chúng.

    “Đại sứ Dominic Hobson. Anh biết ông ta chứ Emerson ?”

    Hart không phải là loại giao thiệp rộng. Tiệc chiêu đãi, mít tinh cùng những cái bắt tay làm ông thấy không thoải mái. Họ, tầng lớp ưu tú của xã hội Mỹ nói quá nhiều, cười quá nhiều và chẳng có điều gì hay ho ở những con người này trừ thói tọc mạch. Trong đám cưới tại trang viên của gia đình Wilkes vào mùa xuân năm ngoái, ông phải bịa một câu chuyện đầy kịch tính về người cha nát rượu và bà mẹ mà ông chưa từng biết mặt để chiều lòng phu nhân Tinller. Rõ ràng là Hart không có khiếu trong khâu này cho lắm và cái vẻ mặt bán tin bán nghi của người đàn bà xinh đẹp buộc ông phải nhờ Emerson làm chứng nhân cho câu chuyện của mình.

    “Không nhiều lắm, tôi chỉ gặp mặt ông ta vài lần. Từng là đại sứ ở Rome, thành thạo tiếng Latin, Pháp và Đức. Một người mê sưu tập cổ vật La Mã- Hy lạp”

    Ít ra họ cũng giao đúng người đúng việc, Hart đập hai bàn tay vào nhau . Ông cam đoan Dominic đã nhảy cẩn lên khi nghe mình được chọn.

    “Để xem nào, Ruth Chapman thư kí riêng, Diana Sobler chuyên viên ngôn ngữ, và Adu Aman Farris” Emerson phì cười “Chống phân biệt chủng tộc đang là xu hướng”

    Hart không kì thị dân trung đông nhưng với bất cứ ai từng chứng kiến tay phiên dịch người Shite thổi bay văn phòng đại diện của R&R ở Bagdad cũng nói đây là một ý tồi. Sự nhàm chán tiếp tục với Frank Charlerson, kỹ sư nông nghiệp, Eddy Louge, kỹ sư xây dựng và….. Kayle Wilson, thiếu tá quân đội hoa kỳ.

    “Con gái của Ron Wilson” Emerson nói “Tôi nghĩ anh biết ông ta.”

    Tất nhiên là Hart biết. Ron Wilson là một trong những chỉ huy của Bão táp sa mạc, người đề cử ông làm tiểu đoàn trưởng sau khi Hoa Kỳ rút quân về nước. Theo như những gì ông nghe được thì Ron sắp có ghế trong hội đồng cố vấn an ninh, đúng một tay tham vọng. Nhắc đến lão già đó, Hart hơi giật mình trước cái viễn cảnh ông sẽ lãnh đủ hậu quả nếu đứa con gái quí báu của Trung tướng đây chẳng may có mệnh hệ gì.

    "Tôi nghĩ anh phải vui mừng chứ? Kayle Wilson là một người có kinh nghiệm."

    "Kinh nghiệm? Tôi cần gì một sĩ quan quanh năm chỉ biết đánh vật với cái máy pha cà phê nhỉ?"

    Emerson nhúng vai cười trừ và thề có chúa là Hart ghét khi ông ta làm vậy, nó làm ông trông như thằng ngốc.

    "Thiếu tá Kayle Wilson từng ở Iraq bốn năm" Emerson nói "Hai tour đến Afganishtan, chuyên gia tác chiến đô thị và chống du kích."

    Cuối cùng thì cũng có một chuyện thú vị để khởi động một ngày mới. Hart không chần chừ kiểm tra hồ sơ trên máy tính và tự hỏi tại sao Kayle Wilson lại nằm ngoài tầm radar của ông suốt mấy năm qua. Bất cứ ai có hai huân chương sao bạc trên ngực thì rất dễ bị đội 22 để ý.

    Spectre !

    Hart nhăn nhó khi thấy cái tên đó. Đúng là lãng phí tài năng thật. Ông không ngờ là Tướng Ron lại dám đánh liều sự nghiệp của con gái mình với đám côn đồ này. Thành thật mà nói thì Spectre lúc đầu cũng tỏ ra hữu dụng và đâu có ai ngờ mọi chuyện lại thành ra thế này.

    “Họ giải thể đơn vị chưa?" Hart hỏi

    Spectre vốn đã không còn tồn tại trên giấy tờ từ cái ngày CIA tiếp quản nên khó mà biết được. Emerson từng ngờ rằng có thể họ chia nhỏ nó thành các chi đội tác chiến bí mật để tránh phí phạm nguồn lực. Và nếu như suy đoán của Emerson là đúng thì thật mâu thuẫn. CIA hoàn toàn có khả năng đảm đương nhiệm vụ này mà không cần nhờ đến ông.

    Có thể tổng thống đã chán đám cổ trắng ấy và đặt niềm tin vào những người lính thật thụ chăng? Hart hy vọng như thế. Sau những phi vụ thảm họa như Vũ khí hủy diệt hàng loạt thì có lẽ Nhà Trắng cũng đã sáng mắt ra.

    Ông luôn có ấn tượng xấu về CIA cũng như cách hoạt động mờ ám của nó ngay từ những ngày đầu tiên ở Iraq. Không biết bao nhiêu lần, lính của Hart phải cực nhọc đánh chiếm những kho đạn trống rỗng, những khu phức hợp kỹ thuật đầy bụi mà mấy tay điệp viên vênh váo nói đó là nơi Sadam cất giấu đầu đạn nhiệt hạch

    “Tôi không muốn là kẻ phá bĩnh đâu Hart” Emerson nói “Chỉ là…. Vụ này có cái gì đó rất đáng ngờ"

    "Chúng ta sẽ bàn chuyện này sau. Giờ thì anh hãy tập hợp mọi người lại, tôi muốn có một buổi họp chiến thuật trong hai mươi phút nữa. Chúng ta còn rất nhiều thứ để làm lắm ".

    Emerson đứng dậy và rời khỏi phòng, nhưng trước khi đặt tay lên nấm đấm cửa, ông quay lại hỏi Hart:

    "Tôi có nên triệu tập Kayle Wilson không?"

    "Nếu như anh thấy cần thiết”

    Emerson gật đầu, dập gót chào và nhanh chóng tan biến như làn khói.



    "Một ngày nào đó mình sẽ vặn hỏi lão về chuyện này. Nhất định là vậy"
     
  4. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 3

    KAYLE

    Sân bay Shibafu a.k.a L.P ( Launching Point), cách Tokyo 20 km

    Bữa sáng ở đây chỉ có món khoai tây nghiền, thịt rán và pho mát. Một hàng dài thực khách mặt mày bực bội đứng nối đuôi nhau đợi tới lượt mình. Tay đầu bếp dùng cái môi lớn xúc thức ăn vào khay rồi hô lên :

    "Người kế tiếp"

    Và cứ mỗi lần như thế, hàng người lại lặng lẽ nhích về phía trước, hệt như dây chuyền trong công xưởng. Đâu đó. Cô nghe thấy tiếng thở dài thất vọng từ phía cuối hàng chờ lẫn trong tiếng lộp cộp của giầy bốt nện trên nền gạch men bóng loáng và âm thanh hỗn độn của hai trăm cái miệng đang cố nuôi trôi bữa sáng dở tệ.

    Kayle đứng giữa Chris và Cooper. Cơ trưởng là người béo tốt với cái đầu cạo nhẵn nhụi trong bộ đồ bay rộng thùng thình. Cooper cũng rất cao to nhưng ở cái tuổi hai mươi tám thì lòng ngực nở nang của anh luôn làm hai má cô ửng hồng khi nhìn vào chúng. Chiều cao tiêu chuẩn của Không quân ắt hẳn phải khác biệt nếu so với các lực lượng trên bộ vì cô trông cứ như người lùn giữa đám đàn ông này.

    Bốn người nhanh chóng nhận suất ăn của mình rồi chiếm lấy cái bàn ngay góc tường, cạnh cửa sổ, phía dưới lá cờ hoa vĩ đại.

    "Các anh nên phàn nàn về đồ ăn ở đây!"

    Kayle mở lời sau khi đưa thìa khoai tây nghiền vào miệng, vị lạnh tanh và cô còn nếm được cả mùi chất bảo quản.

    "Đó là việc cuối cùng mà bọn tôi muốn làm đó." Viên trung úy béo tốt nói.

    Trước cái nhìn đầy ngạc nhiên của viên thiếu tá trẻ tuổi, Chris từ tốn giải thích rằng nơi họ đang ngồi không thuộc sở hữu của quân đội Mỹ. Hai mươi năm trước, có một tay đầu tư người Nhật đã đổ cả núi tiền để xây nên cái sân bay với hy vọng bán nó cho một gã đầu tư khác và kiếm thêm vài núi tiền nữa.

    "A lê hấp. Bong bóng nhà đất vỡ. Thiếu tá biết chuyện đó chứ?"

    "Không" Kayle lắc đầu "Lúc đó tôi chỉ mới lên bốn."

    "Rất nhiều người sạt nghiệp vì nó. Tay đầu tư cuối cùng cũng lủng lẳng trên một cái cây, để lại món nợ khổng lồ cho bà vợ tội nghiệp."

    "Và vì ngân hàng không thể tìm được người mua nên sân bay bị bỏ hoang, đúng không?"

    "Không hẳn" Chris chĩa chiếc nĩa về phía cô "Nó chưa bao giờ bị bỏ hoang."

    Lại như vậy nữa rồi. Kayle sẽ không ngạc nhiên nếu có bàn tay của Uncle Sam nhúng vào đây.

    "Vâng , đúng là thế" Chris gật gù "không có nhiều người biết về chuyện này đâu. Tôi chỉ vô tình đoán ra thôi. Vài tháng trước, Cooper phát hiện ra một vệt sơn lạ trong nhà kho chứa máy bay. Nhưng không phải là loại sơn bình thường đâu nhé, sơn tán xạ đấy. Chúng được dùng cho các máy bay tàng hình, không lẫn vào đâu được. Họ phải sơn lại lớp vỏ bên ngoài sau vài lần xuất kích"

    Như vậy có nghĩa là các phi đội trinh sát đã xâm nhập Nga hoặc Trung Quốc từ đây suốt ngần ấy năm qua mà không ai hay biết gì. Đúng là khối người sẽ tức điên lên khi họ biết được sự thật và đấy cũng là ngọn nguồn của món khoai tây chết dẫm.

    Theo như Cooper thì người Nhật rất sợ phải hứng chịu búa rùi dự luận nếu chẳng may chuyện bị lộ nhưng khổ nỗi họ lại không có cách nào để tống cổ người Đồng minh lắm trò đi được cho nên mới có cái gọi là giới hạn bay ra đời. Mỗi ngày, căn cứ chỉ được phép tiếp nhận tối đa sáu chuyến bay, bất kể là phản lực hay lên thẳng. Với cái giới hạn kì cục như vầy thì việc duy trì hoạt động thường ngày cũng là quá khó khăn chứ đừng nói đến chuyện ăn uống.

    "Suýt chút nữa là họ đã thành công rồi. Hoa kỳ chán nản rút dần thiết bị về nước nhưng đùng một cái, cánh cổng điên rồ ấy tự dưng xuất hiện ngay trung tâm Tokyo."

    "Cậu nghĩ cánh nhà báo sẽ chi bao nhiêu tiền để có được cái tin này nhỉ?" Chris hí hửng nói với Cooper "Một cái tựa đề hay đấy chứ?" .

    "Tôi nghĩ anh nên bỏ ý tưởng đó đi thì hơn!" Kayle lắc đầu "Họ sẽ quẳng anh lẫn tờ báo báo đó vào một cái hố rồi quẳng cái hố đi luôn ."

    Thử nghĩ với một thực thể có khả năng kéo đổ cả một quốc gia thì việc đưa vài cá nhân vào cõi hư vô có là gì với nó chứ? Cô thành thực hy vọng ông ta chỉ đang nói đùa. Một ý tưởng vô thưởng vô phạt.

    "Đừng lo lắng quá thưa thiếu tá. Tôi ở trong quân ngũ cũng gần mười năm rồi" Chris phủi tay "Nguyên tắc đầu tiên là đừng có dại so găng với chú Sam."

    Họ tiếp tục ăn và trò chuyện. Cơn mưa chưa hề có dấu hiệu dừng lại, và các phi công đành giữ đôi chân mình trên mặt đất cho đến khi trời quang. Chiếc Black Hawk không bị hư hại gì nhiều sau lần chết hụt, Chris tin chắc như vậy vì nếu như có thì họ chẳng thể nào ngồi đây tán dóc được.

    "Sau những thứ như thế, tôi chỉ muốn bỏ việc cho xong" ông rầu rĩ khoanh hai tay lại "Về nhà, sửa lại hàng rào, kiếm một việc gì đó để làm, thức ăn ngon và bồn tắm nóng."

    "Chuyện dễ mà" Cooper nói "Anh còn có bốn tháng nữa là thoát nạn trong khi kẻ thù của ta hiện giờ chỉ toàn mấy con chim mòng biển. Cậu còn mấy tháng nữa hả Havey?"

    "Một năm bốn tháng. Còn dài chán chê ấy chứ!"

    Họ không đả động gì đến dự định tương lai của Kayle vì sẽ không có gì bất thường nếu một người leo đến cấp tá chọn cách gắn chặt cuộc đời mình với quân đội. Nhiều lúc cô cũng nhớ nhung cuộc sống dân sự thuở trước nhưng các ký ức của cô về nó lại rời rạc và lộn xộn và mỗi khi cố tìm lại chúng, cô lại thấy mình đang chơi trò xếp hình. Gần đây, cô không nhớ nổi tên đệm của Anne dù cả hai là bạn thân suốt mười ba năm.

    Kayle sợ mình bị mắc chứng PTSD nhưng lần khám định kì nào, các bác sĩ cũng kết luận tâm sinh lí cô hoàn toàn bình thường, thậm chí họ còn dặn Kayle để mắt đến binh lính dưới quyền trong trường hợp ai đó có hành động bất thường nữa mới lạ.

    "Bao giờ chúng ta mới hành động vậy, Thiếu tá?" Havey chợt lên tiếng "Tôi chán phải chờ đợi rồi."

    "Hành động?" Kayle ngớ người ra.

    "Ý của chàng trai đây là chừng nào ta mới xông qua cánh cổng ấy" Cooper nói với cái giọng chán chường "Thật là khổ quá đi mà, cậu ta nhai đi nhai lại chuyện này gần cả tháng rồi có hơn."

    "Thật tình thì tôi không biết." Kayle nhúng vai lắc đầu. "Tôi chỉ vừa đến Okinawa vài tuần trước thì họ gọi điện bảo tôi phải trình diện tại đây. Chỉ có thế thôi."

    "Thế thì chán quá. Tôi cứ tưởng thiếu tá phải biết chứ" Havey trông thất vọng ra mặt "Chúng ta phải nhanh lên mới được, nếu không thì chẳng còn trò vui nào nữa. Tôi nghe họ đồn là JSDF ( lực lượng phòng vệ Nhật Bản) làm thịt được gần một trăm nghìn tên. Cứ cái đà này thì chúng ta chẳng còn việc gì để làm nữa."

    Không hiểu cái gì đang thôi thúc Havey cũng như từng thôi thúc cô ra ngoài đó để làm súc thịt cho người ta tha hồ bắn giết. Những ngày đầu tiên ở mặt trận cứ như trẩy hội, những thanh niên trong độ tuổi đẹp nhất cuộc đời bước đi với hoa trên đầu súng, bỏ lại đằng sau những người tình với đôi mắt đẫm lệ, sẽ khóc thương nếu chẳng may họ ngã xuống. Cái hình ảnh đẹp đẽ đó đã bị đạn cối đập nát và bị cơn gió nóng sa mạc cuốn đi, chỉ còn lại những tâm hồn mệt mỏi rã rời

    Chiến tranh thiêu rụi mọi thứ trên đường đi của nó, và tệ hơn hết, nó đầu độc con người. Những kẻ đã từng sống chết ngoài mặt trận thì không bao giờ được như xưa nữa. Họ vẫn có thể lành lặn đứng đấy nhưng có cái gì đó trong họ mãi mãi ra đi. Sau khi chứng kiến những thứ tồi tệ xảy ra với quá nhiều người, Kayle không biết nên trả lời Havey như thế nào cho đúng. Cô nên nói sự thật hay nên khuyến khích sự hăng hái của cậu ta vì trách nhiệm của một sĩ quan đòi hỏi cô phải làm thế?

    "Đủ rồi đó, Havey. Đừng làm phiền thiếu tá" Viên trung úy to béo bực bội gắt lên "Chúng ta là lính, họ bảo chúng ta chiến đấu thì chúng ta chiến đấu, bảo chết thì chúng ta chết. Cậu thắc mắc làm gì?"

    "Nhưng tôi chỉ...."

    "Đây là lần cuối tôi cảnh báo cậu đấy nhé"

    Chris đập một tay xuống mặt bàn, mặt ông ta đỏ gay như quả cà chua, còn bọng thịt dưới mí mắt thì rung lên. Đây có lẽ là lần đầu tiên cô thấy Chris ra dáng cấp trên của Havey một chút bởi vì từ lúc trên máy bay đến giờ, ông nom chẳng khác gì một lão già say xỉn tốt tính, hay đóng vai ông già Noel để quyên tiền cho bọn trẻ ở cô nhi viện hơn là một Trung úy Không lực.

    "Đi lấy cà phê đi."

    Người đàn ông to béo quất vào mông cậu trai trẻ bằng một mệnh lệnh. Hoảng sợ và bối rối, Havey ngay lập tức đứng dậy và chạy một hơi đến cái máy pha cà phê ở góc nhà ăn. Kayle không biết Chris có cố ý làm vậy không nhưng ông ta vừa cứu cô khỏi cảnh khó xử trong thấy.

    "Thứ lỗi cho Havey thưa thiếu tá. Cậu ta là một chàng trai tốt nhưng không biết lúc nào nên ngậm mồm lại."

    Cô cảm thấy có chút cảm thông trong giọng nói của ông.

    "Tôi không để bụng đâu" Kayle cười trừ "Hồi trước tôi cũng ngốc đâu kém gì."

    "Ai mà chẳng có thời ngây dại nào? Tôi đã điền tên mình vào Không lực sau khi xem Top Gun. Thật khó mà cưỡng nổi cái viễn cảnh bay lượn trên bầu trời và mặc áo khoác da được? Còn cô thì sao?"

    "Gia đình."

    "À. Nó là lí do đúng đắng nhất và đôi khi cũng ngớ ngẩn nhất."

    Không phải ! Chính cô đã phá hỏng mọi thứ và đẩy mình vào tình cảnh hiện giờ. Nếu như ngày hôm đó như cô không dở chứng ngang bướng thì chuyện đã khác.

    "Tôi có thể hỏi thiếu tá một câu không? Cô có thể không trả lời cũng được."

    "Vâng, anh cứ hỏi."

    Kayle không định dấu diếm người đàn ông này. Những lời nói dối nhân danh tổ quốc và đơn vị khiến cô quá mệt mỏi. Mỗi khi ai đó trong đội hy sinh, Kayle lại phải vắt óc nghĩ ra một câu chuyện hào hùng cho người thân của họ ở hậu phương. Làm sao mà cô có thể nói với một thằng nhóc mười tuổi rằng cha nó chẳng khác gì đám tay chân của Al Capone trong mắt nhiều người và ông ta đã chết bởi một trái bom dưới thảm trải sàn. Vụ nổ mạnh đến nỗi họ phải xới tung đống đổ nát lên chỉ để tìm thấy vài mảnh thi thể cháy xém?

    "Cô có biết chuyện gì đang diễn ra không, thiếu tá? Havey có thể hỏi vì tò mò, hoặc vì dòng máu nóng trong huyết quản thôi thúc cậu ta nhưng tôi thì khác."

    Đột nhiên giọng ông ta nghẹn lại.

    "Tôi có vợ và hai con. Đối với tôi, nó rất quan trọng."

    Lúc còn ở Iraq, Kayle từng tự hỏi những người ở nhà sẽ phản ứng như thế nào nếu cô gặp chuyện không hay. Mẹ và Louie chắc sẽ khóc nhiều lắm, hai người đó mau nước mắt y hệt nhau trong khi cha cô thì sẽ không nhỏ lấy một giọt, ít nhất là trước mặt người khác. Cô không nhớ vì lí do gì nhưng khi cô chia sẻ chuyện này với Chỉ huy trưởng thì liền bị anh ta mắng cho một trận ra trò.

    "Thú thật là tôi cũng chẳng biết gì hơn anh đâu nhưng hãy thực tế với nhau, anh biết tôi là ai, từ đâu đến và chắc chắn họ không mời tôi đến đây để giao lưu với người Nhật."

    Gần hai phần ba sự thật thì có được coi là sự thật không? Do vẫn chưa chắc liệu Cánh Cổng đó có liên quan gì đến cuộc triệu tập bất thường này nên cô không cho là mình nói đang nói dối ông ta.

    "Tôi cũng nghĩ vậy" Chris thở dài "Hy vọng là không có chuyện điên khùng xảy ra trong mấy tháng sắp tới."

    Hai người tạm gác chủ đề này sang một bên khi Havey quay lại với bốn cốc cà phê. Mùi vị cũng không tệ lắm nếu so với bữa sáng. Trước khi vào quân đội, Kayle nhớ là mình không có thói quen uống cà phê. Những phụ nữ trưởng giả thường dùng trà hoặc nước ép, còn cà phê vốn dĩ dành cho đàn ông. Chiến tranh làm đảo lộn hết mọi lề thói cũ , mẹ cô chắc sẽ rất sốc nếu thấy con gái bà giờ ăn gà tây mà chẳng cần dùng dao hay nĩa nữa.

    Một chiếc F-16 đang hạ cánh xuống đường băng. Âm thanh từ động cơ tựa hàng nghìn mảnh kim loại lao thẳng về phía trước với tốc độ siêu tưởng. Trong một ngày mưa gió tháng mười một, nó trông chẳng khác gì một chiếc xuồng cao tốc với vệt nước dài bắn tung phía sau lưng.

    "Nhìn nó kìa" Cooper tặt lưỡi tiếc rẽ " Các anh biết không? Tôi sẽ đánh đổi tất cả để cưỡi nó một lần. Tự do, không ràng buộc."

    F-16 Falcon, biểu tượng quyền uy của nước Mỹ suốt ba thập kỷ, được thiết kế để đối chọi lại những chiếc Mig của khối soviet trong chiến tranh lạnh. Dù rằng những loại chiến đấu cơ tinh vi hơn, bay nhanh và xa hơn lần lượt ra đời nhưng người ta vẫn chưa có ý định cho nó nghĩ hưu, nhất là khi ngân sách quốc phòng bị cắt giảm thê thảm. Kayle khá quen thuộc với con ngựa thồ này vì chúng thường yểm hộ các nhiệm vụ của cô ở Iraq dù hiếm khi cô được mục kích chúng ở khoảng cách gần.

    Tuy nhiên, Kayle cũng phải tròn xoe mắt kinh ngạc khi thấy thân máy bay phủ một màu xanh biển với vòng tròn đỏ rực như máu dưới buồng lái. Vốn kiến thức hàng không hạn hẹp không làm cô quên một điều là màu trắng bạc mới là màu tiêu chuẩn của Không quân Hoa Kỳ.

    "Người Nhật?"

    "Đúng vậy ! Là họ" Chris đáp "Và trông kìa ! Vẫn chưa hết đâu."

    Ba chiếc chiến đấu cơ khác lần lượt đáp xuống đường băng số hai. Ngay lập tức, bốn chiếc áo mưa màu vàng liền chạy ra với đèn hiệu trên tay, hướng dẫn chúng vào garage.

    "Tôi cứ tưởng các anh có giới hạn bay."

    "Luật chỉ áp dụng với chúng ta chứ không phải họ. Chú Sam chiếu cố người Nhật ghê lắm."

    Không ít lần nước Mỹ đã phải xuống nước để đạt được mục đích nhưng chuyện này thì chưa có tiền lệ. Ngay cả nước Anh, người đồng minh thân cận nhất cũng chưa chắc nhận được đặc ân như Nhật Bản. Cánh cổng ấy hẳn phải có sức hút ghê gớm lắm với xứ sở cờ hoa.

    "Tôi không thích đám mắt lươn này chút nào" Havey khịt mũi "Mấy sếp đấy không tưởng tượng nổi họ tởm đến mức nào đâu. Thằng Phil thề sống thề chết là nó tận mắt thấy mấy gã ngư phủ ăn ngay con cá họ bắt được. Không nấu nướng gì hết, ăn sống đấy. Khái niệm cho thức ăn vào nồi dường như không tồn tại ở cái xứ này."

    "Đó gọi là Sushi, ngốc ạ" Cooper chán nản úp lòng bàn tay lên mặt mình "Đừng nói với tôi là cậu không đọc sổ tay hướng dẫn đấy nhé"

    "Cuốn sách duy nhất mà Havey đụng đến là Playboy" Chris cười lớn vỗ mạnh vào vai cậu ta "Đám trẻ ngày nay chẳng biết đọc gì sất. Hết Iphone rồi lại Ipad, tôi cược là hai mươi năm nữa thằng cháu hoặc chắt sẽ hỏi 'ông ơi sách là gì thế' cho mà xem. Mà thôi, dẹp cái đó sang một bên đi, Havey có lí, đất nước này quả thực có rất nhiều thứ quái đảng."

    Hiểu biết của Kayle về nước Nhật chắc cũng chả hơn ba người này là bao và nó không làm cô bận tâm. Những ngày này, chẳng có mấy thứ làm cô bận tâm được trừ khi là nó có ý định giết cô. Kayle còn nhớ năm mình mười ba hay mười bốn gì đó, có một người đàn ông đến từ xứ sở mặt trời mọc đến thăm gia đình cô ở Vigirnia. Trời hôm ấy nóng kinh khủng nhưng suốt cả buổi ông ta không hề cởi áo khoác ngoài hay nới lỏng cà vạt trên cổ. Tướng Ron quyết định dẫn người đàn ông ngoại quốc thăm thú điền trang của mình, một việc cha cô vẫn thường làm mỗi khi có ai đến viếng, như thể việc cho người ta biết chuyện cụ tổ Tom Wilson đã xoay trở ra làm sao để dựng nên cơ ngơi đồ sộ như vầy là cực kì quan trọng.

    Đối với một người chỉ cao chừng một mét sáu lăm thì để bắt kịp tốc độ của Trung tướng đúng là cực hình. Người Nhật tội nghiệp gần như không thở nổi trong khi cha cô thì lại đang say sưa với bài thuyết giảng nên chẳng mảy may để tâm đến người thính giả đang mồ hôi mẹ mồ hôi con.

    "Chú cởi áo khoác ra đi" cô nhớ Louie đã nói thế, năm đó anh mười bảy tuổi, trẻ trung và gầy như một cái cây "Trời nóng lắm đấy."

    Người đàn ông mỉm cười, cúi đầu cảm ơn và bảo rằng ông ta vẫn ổn. Louie thấy hơi ngượng và cả hai anh em đều tự hỏi tại sao ông ta lại đối xử Louie ngang hàng với cha anh.

    "Anh nên làm theo lời thằng bé" Trung tướng Ron giờ mới trở về thực tại "Trông như người sắp chết ấy."

    Và cái qui trình mỉm cười, gập người và cảm ơn được lập lại. Thấy vậy, cha cô hắng hơi :

    "Với những kẻ tự biến mình thành tên lửa sống thì anh có phần hơi lịch sự. Tôi tự hỏi liệu các Kamikaze có cúi chào không khi họ đánh chìm chiếc St.Lo ?"

    "Nếu như buồng lái đủ rộng thì có thể lắm chứ." Người Nhật trả lời.

    Và cả hai người bật cười nắc nẻ, trong khi Kayle đứng đó và không hiểu có gì đáng cười ở đây.

    "Thiếu Tá Kayle Wilson, vui lòng đến cổng số 3, thiếu tá Kayle Wilson vui lòng đến cổng số 3"

    Cái loa phát lại thông điệp thêm hai lần nữa rồi mới chịu im lặng. Cả bốn người nhìn nhau một hồi lâu và không nói gì. Cuối cùng thì Kayle đành phải mở lời.

    "Tôi nghĩ giờ là lúc nói lời tạm biệt rồi" cô uể oải đứng dậy "Cảm ơn các anh. Chúc may mắn các chàng trai của tôi"

    "Chúc may mắn, Thiếu tá" Chris bắt tay cô, bàn tay ông khô ráp như người miền quê "Cô cần nó nhiều hơn tôi."

    Cô cần nó nhiều hơn tôi ?

    Hình như anh ta cũng từng nói với cô như vậy nhưng cô đã cố tình quên chúng đi. Những người đã khuất tựa như những cái bóng vật vờ trong màn sương vô định của chiến tranh và chẳng có gì tốt đẹp khi dây dưa với chúng cả, bởi vì chính người ấy cũng nhắc nhở cô rằng :

    Cô không muốn nhập bọn với những kẻ đó đâu, Wilson thân mến.

    Kayle đột nhiên cảm thấy rùng mình. Cái cảm giác này y hệt lúc cô giết kẻ địch đầu tiên trong đời, mọi thứ xung quanh cứ như một thước phim quay chậm và cô có thể nghe thấy nhịp thở của mình. Dù chỉ là thoáng qua trước khi tiếng đạn súng máy kéo cô về thực tại nhưng Kayle biết nó có thật, thật hơn cả những người đang ngồi đây.

    Có cái gì đó chạm vào cô, ấm và mềm mại. Kayle giật mình nhìn sang thì thấy bàn tay của Cooper đang đặt lên vai cô.

    "Thiếu Tá không sao chứ? Này cô có nghe tôi nói gì không ?"

    "Không sao" Kayle lắc đầu "Say máy bay thôi."

    Cooper tỏ ra không tin tưởng lắm nhưng không hỏi gì thêm.

    "Cổng số 3 ở đâu vậy?"

    "Đi hướng này" Chris chỉ tay về phía cửa phòng ăn "Đi thẳng rồi rẽ phải sang ban chỉ huy căn cứ và cô sẽ thấy một ngã ba, rẽ phải thêm lần nữa đến nhà ga trung tâm là được."

    "Tạm biệt nhé, Thiếu tá" Havey nói "Chúng ta sẽ gặp lại nhau thôi"

    "Vâng...." Kayle ngập ngừng "Tạm biệt."

    Thật tức cười khi hai từ tưởng như đơn giản lại khó nói đến như vậy.

    Thú vị ở chỗ là đây đâu phải là lần đầu tiên cô nói lời chia tay. Fisher, Carrick và nhiều người khác, Kayle đã nói lời từ biệt trước mộ họ. Cô biết họ nhiều năm trong khi chỉ mới gặp Chris, Cooper và Havey có vài giờ đồng hồ. Nhưng Kayle chợt nhận ra rằng cô không biết gì về Fisher hay Carrick ngoài cái tên. Chiến tranh đã biến họ thành những cỗ máy lạnh lùng và tàn nhẫn, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ thứ gì ngán đường. Tình cảm lại luôn ảnh hưởng đến nhiệm vụ nên chả trách những cuộc trò chuyện giữa các thành viên Spectre ngày càng thưa dần đi. Ba người này thì khác hẳn. Họ ăn, họ uống và họ thở.

    Cuối dãy phòng ban chỉ huy có dựng một tấm biển " Cổng số 3, lối này" nên Kayle có phần yên tâm là mình không đi lạc. Chỉ mất ít phút là cô đã thấy mình đứng giữa không gian rộng mênh mông của nhà ga chính. Quân đội chỉ sử dụng được ga phụ vì cái ga trung tâm là một công trình khổng lồ với hai mái vòm tựa như một con chim soải cánh đón ánh nắng tự nhiên qua các ô cửa sổ thiết kế khéo léo.

    "Tiếc thật" Kayle tặc lưỡi tiếc rẻ khi nhìn những mảnh tường nhếch nhác, cỏ mọc len lỏi từ các khe nứt trên sàn "nó hẳn phải đẹp lắm nếu được mở cửa trở lại."

    Do bị bỏ hoang khá lâu, khu vực mang trong mình cái không khí rờn rợn đặc trưng. Những thanh xà hen rỉ kêu cót két khi gió lùa qua, thủy tinh vỡ và rác ở khắp nơi, và còn cả mấy bức tranh graffiti hình thù quái đảng xuất hiện nhan nhảng dọc hành lang nữa chứ, cảnh vật y hệt như một cuốn phim kinh dị với cô là nhân vật- nạn nhân chính. Dù không phải là người nhát gan nhưng đầu óc Kayle vẫn không thôi nghĩ đến chuyện Jason Voorhees đang nấp đằng sau góc khuất nào đó, chỉ chờ chực cô bước ngang và vung chiếc rựa dài của hắn lên. Không như người anh quí hóa Louie, cô đã ngất ngay trên ghế khi Jason tắm máu nạn nhân đầu tiên của hắn.

    Kayle sờ tay lên chỗ đặt bao súng và nhận ra hai điều. Thứ nhất, cô không mang súng. Thứ hai, cô gần như không mang bất cứ vũ khí nào kể cả dao găm từ ngày Spectre giải thể.

    "Nếu như mình có trong tay một khẩu Glock thì cả mười tên Jason cũng chả ăn nhằm gì" Kayle lầm bầm "Nếu như thôi...."

    Không còn cách nào khác, Kayle đành phải chạy khỏi chỗ này nhanh nhất có thể. Và trong khi cố chạy thật nhanh, vũng nước mưa hạ gục cô. Nước bắn lên cổ và ngực áo, lạnh cóng.

    "Thánh thần ơi" Kayle kêu lên nhưng cô nhất quyết không dừng lại cho đến khi đến được trạm gác.

    Tay quân cảnh dập gót chào cô và không nhịn được cười. Cả đời gã hẳn chưa từng chứng kiến sĩ quan nào lại xuất hiện với bộ dạng nhếch nhác, thở không ra hơi như thế. Kayle lờ gã đi rồi dúi cho hắn giấy thuyên chuyển và chứng minh thư quân đội.

    "Xe của thiếu tá đang đợi ở đằng kia" Gã nói với cái giọng bỡn cợt "Chúc một ngày tốt lành."

    Sẽ là một ngày tốt lành nếu Kayle tặng cho gã một cú đấm vào mặt nhưng giờ không phải lúc. Cấp trên đang đợi cô, đó có thể là đại tá Hart, người có biệt danh "Poker" vì những nhiệm vụ ông nhận có rủi ro chẳng thua gì một ván bài Poker, hoặc là chi đội viễn đông của CIA, nơi thu nhận các cựu thành viên Spectre. Họ sẽ giao cho Kayle một đội gồm những tay cứng cựa nhất và làm công việc mà chính phủ từ chối chúng tồn tại.

    Tuy nhiên, Kayle đã không lường trước được chuyện họ cử một gã vận đồ vest, thắt cà vạt đến đón cô trên chiếc Nissan cũng đen như màu áo của gã. Khác với trên phim ảnh, nhân viên tình báo đời nào mặc vest và chắc chắn đó cũng không phải quân phục tiêu chuẩn của quân đội.

    "Thiếu tá Wilson, tôi là Patrick Hammer ,nhân viên đại sứ quán Hoa Kỳ tại Nhật Bản." Hắn niềm nở tự giới thiệu "Cô có thể gọi tôi là Patt cũng được."

    Tất cả những gì Kayle nhớ sau đó là cô đã leo lên xe và mùi nước hoa nồng nặc của cái gã tên Patrick Hammer hay còn gọi là Patt nọ sộc vào mũi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/11/18
  5. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHAPTER 4.1

    PINA

    Thủ Đô Sadera

    Đồi Vinusa

    Điện thần đông nghịt người. Một nhóm tu sĩ áo trắng từ đồi Avanul đến từ sáng sớm, hội thánh tổ thần uy thì đã đến từ hôm qua và chẳng mấy chóc thì tất cả thầy tư tế, trợ tế, tiểu đồng từ những đền đài lớn nhỏ khắp lãnh thổ đế chế sẽ tề tụ về đây. Họ đến để tỏ lòng trung thành với hoàng gia và cầu nguyện. Cầu nguyện đều gì thì Pina không chắc nhưng nàng biết khá nhiều người sẽ mừng thầm nếu ngày mai thánh thần dẫn lối cha nàng về với tổ tiên.

    Hoàng đế Molt Son Augustus không được yêu quí cho lắm

    "Chúng ta sẽ ở đây và cầu nguyện cho đến khi hoàng đế hồi tỉnh" một tu sĩ béo mập nói với các tông đồ "Giờ là lúc người cần chúng ta nhất".

    "Phải! Phải!" đám tông đồ đồng thanh.

    "Giờ thì huynh đệ hãy thắp hương trầm lên" gã chỉ tay vào một người trong nhóm "Jose, cậu có đem theo loại trầm hương mà ta bảo không?"

    "Có thưa huynh trưởng. Ở trong xe thồ ấy ạ" người tên Jose đáp

    "Trong xe thồ? cậu có bị làm sao không, Jose? nghi lễ nào mà không bắt đầu bằng trầm hương. ? Hiến tế, cầu mưa, trừ tà và chúc phúc đều cần trầm hương và bây giờ cậu bảo mình để quên chúng ở trên một cái xe thồ ngu ngốc trong lễ cầu an cho hoàng đế đáng kính."

    Gã tu sĩ giận dữ lấy vạc áo lao đi những giọt mồ hôi chảy trên gương mặt đầy bọng thịt đỏ gay. Trời hôm nay nóng kinh khủng. Trên đường đến thần điện, Pina trông thấy cư dân thành phố vây kín những bể nước công cộng, khi bể đã quá đông và ngột ngạt thì họ liền tiến ra bờ sông. Đám đàn ông và cánh phụ nữ dường như chẳng còn giữ thể diện làm gì nữa, họ cởi hết quần áo và đắm mình trong dòng nước xanh mát của mẹ Tiri. Với vị trí của một công chúa, người đứng thứ ba trong danh sách thừa kế, Pina đáng lẽ phải ngăn chặn hành động đồi bại này lại nhưng thôi, thà để họ lõa thể chạy rong còn hơn tụ tập tại quảng trường và ném đá vào đội cận vệ hoàng gia.

    "Thưa huynh trưởng, tôi không hề quên đâu ạ. Lúc ở cổng thành, do huynh bảo mọi người chấp tay thực hiện đi bộ sám hối nên chẳng ai mang theo cái thùng được."

    "Vậy cậu không biết nhờ đến gã đánh xe, hoặc ai khác sao? Có kẻ nào mà lại dám từ chối những người đang thực hiện sứ mệnh của thánh thần?"

    "Tôi... không nghĩ đến việc đó nên..." Người huynh đệ ấp úng đến mức thảm thương. Cái mũ trùm làm Pina không thấy khuôn hết gương mặt gã nhưng rõ ràng là gã có một cái mũi dài

    "Còn đứng đấy làm gì nữa" Lão tu sĩ thở phù phù "Đi lấy cái thùng lại đây, nhanh lên!"

    Sau khi cái gã Jose rời đi thì lại có thêm một vụ lộn xộn khác. Hội thánh tổ thần uy không muốn phải ngồi gần đám tu sĩ Hardy, những kẻ mà trong con mắt của hội toàn là những tên cuồng tín cổ súy cho sự tự diệt. Nhóm một đạo Avanul gào lên rằng họ đang bị đối xử bất công vì phải ngồi xếp dưới trong khi họ đến sớm nhất. Rất may là nguyên lão Cirius lập tức xuất hiện và giải quyết êm thấm mọi chuyện.

    Cũng như Hoàng đế Molt hay Zorzal, nàng không phải là người mộ đạo. Những thầy dòng nói quá nhiều về sự màu nhiệm của đức tin, và chỉ có thế thôi. Thú thật thì nàng thấy pháp sư và thuật sĩ hữu dụng gấp vạn lần họ. Diabo thì khác hẳn, luôn luôn tỏ ra là một con chiên ngoan đạo nhưng Pina thừa biết người anh em của nàng chỉ đang diễn kịch.

    Diabo sẵn sàng hôn lên chân bất cứ vị thầy tế nào miễn là họ sẽ đứng về phía nó trong cuộc chiến tuyệt vọng giành ngai vàng

    Tham vọng của Diabo làm dấy lên mối nghi ngờ tại viện nguyên lão. Em trai nàng là kẻ chủ mưu đằng sau thảm kịch này. Hoàng đế đã bị đầu độc, họ rỉ tai nhau như vậy nhưng các học sĩ lại lấy cái đầu ra đảm bảo đó chỉ là một chứng bệnh thường thấy ở những người ngoài sáu mươi. Chính bản thân Pina cũng không nghĩ cha mình bị hành thích. Nàng cho người kiểm tra số rượu dùng trong bữa tiệc, ngay cả từng đĩa thức ăn và người nấu chúng cũng bị đưa vào tầm ngắm. Ngay lập tức, đội cận vệ đã tra tấn ba mươi tám người, xới tung nhà bếp và lập thêm danh sách gồm một trăm nghi can nhưng vẫn chưa phát hiện được gì. Giờ lại có giả thuyết cho rằng, hung thủ là người ngoài và hắn sử dụng lối đi bí mật sau các bức tường của lâu đài để đào thoát, cho nên suốt ba ngày nay, tiếng cuốc xẻng và búa tạ không ngừng vang lên khắp hoàng cung. Đến ngày thứ năm, Pina quyết định dừng mọi cuộc tìm kiếm trước khi bọn ngốc đó phá tan tành nhà của nàng.

    Diabo không thể là thủ phạm được. Pina tin nó không có gan giết cha mình và hơn hết, nó không có lí do để làm vậy. Người mà Diabo muốn trừ khử nhất là Zorzal và hiện nay Zorzal đang ngồi chễm chệ trên ngai báu với tư cách nhiếp chính sau khi hoàng đế đột ngột lâm bệnh.

    Diabo đâu phải là kẻ ngốc đâu mà làm chuyện vô ích đến vậy. Nếu nàng là nó thì Zorzal mới là kẻ phải ra đi đầu tiên.

    Nàng phải mất khá nhiều công sức để dẹp tan tin đồn. Việc đầu tiên là cố gắng thuyết phục Zorzal đưa ra lời thông cáo chính thức cho mọi người biết rằng hoàng đế Molt Son Augustus vĩ đại không may lâm bệnh nặng và hoàng gia sẽ tổ chức một lễ cầu an lớn để người sớm hồi tỉnh. Ban đầu, anh trai nàng không đồng ý nhưng sau khi nghe nàng nói bóng gió về việc nếu không đánh tan mối nghi ngờ vô căn cứ này sớm thì chỉ là vấn đề thời gian trước khi họ chĩa mũi dùi vào hoàng thái tử đương triều, Zorzal liền đổi ý. Về phần người em trai út, Pina không lo lắng lắm. Diabo thừa thông minh để biết mình cần làm gì và như thế nào.

    "Công chúa, thái tử và hoàng tử vẫn chưa đến." Grey, vị hiệp sĩ và cận vệ già trung thành khẽ nói với nàng

    Pina đảo mắt nhìn quanh thì quả thật không thấy bóng dáng anh em của nàng đâu. Nàng không mong chờ Zorzal xuất hiện, việc tống cổ những tay chân thân tín của cha mình và mở tiệc thâu đêm ngốn kha khá thời gian. Nhưng còn Diabo thì sao ? Nó phải có mặt chứ.

    "Bao giờ thì nghi lễ mới bắt đầu?"

    "Không lâu nữa đâu, thưa công chúa" Grey đáp "Các Đại tư tế đang trên đường đến đây. Đại diện của viện nguyên lão đã có mặt đông đủ. Họ sẽ cử hành nó trước buổi trưa, nóng thế này thì ai mà chịu nổi."

    Đại diện của viện nguyên lão toàn là những người cách đây một tháng vẫn còn đứng trên đỉnh cao danh vọng nhưng bây giờ họ chẳng còn chút quyền hành nào. Pina biết hầu hết tên của họ. Ngài Done Collina, pháp quân tối cao, Fergus Hayde, tổng quan ngân khố và Mathias El Deconte, thư kí bộ chiến tranh và hơn vài chục vị chức sắc khác; Danh sách sẽ còn dài hơn trong mấy tháng sắp tới. Nạn nhân mới nhất là Boros, tướng chỉ huy đội cận vệ. Ông ta đã từ chối điều động binh sĩ trừ khi có mệnh lệnh trực tiếp từ hoàng đế Molt Son Augustus. Zorzal đích thân đến gặp vị tướng già cứng đầu và chỉ sau vài câu, Boros bị điều thẳng ra phòng tuyến giáp biên giới Niflheim .

    "Ngài Grey, ngài vui lòng gọi Bozes hoặc Panache đến đây"

    Vị hiệp sĩ già gật đầu kính cẩn rồi rời đi.

    Pina tự rót cho mình một ly rượu mạnh, rồi uống cạn nó. Vị hậu ngọt làm nàng thấy thoải mái, còn đầu thì nhẹ tênh. Nàng ước gì mình có thể về cung điện ngay bây giờ, ngâm mình trong nước nóng, để rượu nho cuốn nàng vào giấc ngủ và tránh xa đám người mê tính và ồn ào. Khi ông ngã bệnh, Pina đã khóc thương suốt đêm. Nàng khóc vì người nằm đó là cha mình và vì tương lai đế chế, thứ mà nàng nguyện thề phục vụ.

    Ngay cả kẻ khờ nhất ở Falmart cũng biết rõ anh trai nàng không hề giống thân sinh chút nào. Hoàng đế Molt là người tham vọng và tàn nhẫn nhưng không phí phạm mạng sống trong khi Zorzal nóng nảy, thiếu suy nghĩ và bạo lực. Cuộc chinh phạt vùng đồng bằng đông bắc ba năm trước là ví dụ điển hình cho việc đó. Hai mươi ngàn binh sĩ đã bỏ mạng, hàng trăm nghìn thalet vàng bị quẳng xuống sông chỉ để chiếm lấy một vùng đất khô cằn cùng một nữ nô lệ danh giá tên Tyuule, vật cưng của Zorzal.

    Zorzal sẽ phát động chiến tranh, nàng biết điều đó. Nhưng với ai đây ?

    Người Nhật là đáp án mà Pina không muốn nghĩ đến. Họ sẽ nghiền nát đế chế như một con bọ. Từ những điều tai nghe mắt thấy ở Alnus và Italica, nàng biết cuộc chiến này sẽ kết thúc trước khi nó bắt đầu. Đế chế đã chạm vào đuôi của Chimera và chỉ nhờ sự may mắn hoặc lòng nhân đạo khó hiểu của con quái vật mà lá cờ đại bàng vàng vẫn còn tung bay.

    Niflheim cũng không giúp Pina thấy khá hơn. Kẻ thù không đội trời chung có hơn một trăm năm mươi nghìn quân thường trực, cùng đội ngũ magi đông đảo. Zorzal sẽ phải trả một cái giá khá đắt nếu tuyên chiến với họ.

    Quá nhiều rắc rối. Phần lớn trong số chúng nàng không tài nào giải quyết nỗi.

    "Mình phải nói chuyện với Itami hoặc ngài Sugawara. Chỉ họ mới có khả năng giúp mình được."

    Nhưng giờ Itami đang ở đâu không biết, trong khi ngài Sugawara thì biệt tăm sau bữa tiệc định mệnh. Pina giờ chỉ có một mình giữa cơn bão và nàng đang lạc lối, chẳng còn gì có thể làm lòng nàng ấm lên trừ ly rượu nặng mùi táo lên men này. Sau khi uống thêm vài ly, nàng bắt đầu cảm thấy hơi choáng, miệng thì đắng ngắt

    "Công chúa Pina, tôi không ngờ người lại thích thứ đồ uống này đấy"

    Một giọng nói vang lên từ phía sau nàng. Pina quay lại thì thấy một người đàn ông đứng tuổi với mái tóc húi cua trong bộ Toga màu sáng.

    "Nguyên lão Ducan, thật ngạc nhiên khi ông lại đến đây. Đừng nói với ta rằng Zorzal đã sa thải ông đấy"

    "Không, không đâu, thưa công chúa" Ducan lắc đầu rồi nở một nụ cười chua chát "Hai mươi năm chiến trận, mười lăm năm cố đứng trung lập trong viện nguyên lão đã giúp tôi rất nhiều. Chuyện đời thật khó đoán phải không ? Chẳng ai ngờ nổi kẻ hay thắc mắc các quyết định của cha người lại thoát nạn trong khi ngài Mathias El Deconte đây lại sắp phải về vườn."

    "Ông nhận được đặc ân này vì đã không trung thành với hoàng đế sao?" Pina nói như buộc tội. Rượu làm nàng hơi bạo miệng hơn "ta cũng không ngờ rằng ông lại tham quyền cố vị đến như vậy, Ducan."

    "Tôi rất trung thành đấy chứ" ông ta nở một nụ cười khó hiểu khi ngồi xuống cạnh nàng "Nhưng vấn đề là lòng trung thành của tôi lại không nằm ở hoàng đế hay thái tử. Tôi nghĩ người biết nó nằm ở chỗ nào ?"

    "Ta không có thời gian để chơi giải đố đâu, Ducan" Nàng bực bội ra mặt "Ông đến đây làm gì ?"

    "Chúng ta thể dùng một cốc rượu chát trước khi bắt đầu chứ?" Ducan nói "Trò chuyện là một công việc khát nước."

    Pina ra hiệu cho người hầu gái mang bình rượu và cốc đến. Vị nguyên lão uống cạn nó như nước lã, vài giọt vẫn còn bám lên râu ông ta.

    "Phải bắt đầu từ đâu đây ? À, đế chế đang lâm nguy."

    Đế chế đang lâm nguy sao ? Không thể nào. Hàng nghìn năm nay, kể từ thời Hoàng đế Ariz lập quốc, Đế chế đã trải qua vô vàng khó khăn nhưng vẫn đứng vững. Nó đã biến các bộ tộc man rợ cùng vị thần khát máu thành dòng chú thích trong sách sử, khuất phục các tiểu quốc ngoan cố và đẩy lùi dân Niflheim về miền đông nam. Một thế lực khổng lồ như vậy không thể sụp đổ được, nó quá to để có thể ngã.

    "Người đang nghĩ rằng tôi đang nói xằng bậy đúng không ? rằng đế quốc này vĩ đại đến mức không thể bị đánh bại"

    Chết tiệt, lão đọc được suy nghĩ của mình. Pina từ lâu đã nghe đồn rằng Ducan không hề tầm thường chút nào dù ông ta không tham gia chính trường nhiều lắm.

    "Công chúa là người thông minh. Tôi cho rằng người đã nhận ra điều này nhưng lại quá cố chấp để thừa nhận nó."

    Bị nói trúng tim đen, Pina không biết nên làm thế nào. Với một con cáo già như Ducan, nói dối là vô hiệu.

    "Ta không mù đâu, Ducan" Nàng ném cho lão ta một cái nhìn sắc như dao cạo "Nhưng việc đó liên quan gì đến ông ?"

    "Nhìn đám người kia mà xem" Nụ cười đắc ý trên gương mặt Ducan biến mất, thay vào đó là nét nghiêm nghị, khắc khổ của một người từng trải - "Một đám già hết thời bị quây quanh bởi những tên mê tín, và ngoài kia, thành phố như một cái chảo lửa cả nghĩa đen lân nghĩa bóng. Và ai là người chịu trách nhiệm?"

    Zorzal là cái tên đầu tiên mà Pina nghĩ đến. Anh trai nàng là người gây náo loạn trong nghị viện, là kẻ phong tỏa kinh đô, khiến giá bánh mì và muối tăng gấp năm lần, và có trời mới biết chuyện gì sẽ diễn ra tiếp theo. Cha cô cũng gánh một phần trách nhiệm, các tiểu vương quốc bắt đầu âm mưu chống lại đế chế sau thảm bại Alnus

    "Ông đang nói những lời nguy hiểm đấy, nguyên lão Ducan" Pina giả vờ thờ ơ "Zorzal chưa bao giờ thích bị người khác kết tội."

    “Công chúa hiểu nhầm rồi. Tôi chỉ muốn nói rằng trách nhiệm thuộc về tất cả chúng ta dù người có là công chúa, hoàng tử, dân thường, tộc Elves hay người lùn. Miễn là thần dân đế chế thì phải có trách nhiệm đảm bảo sự tồn tại của nó. Đế chế người thấy hàng ngày không phải của riêng hoàng đế Molt hay Zozral mà là của tất cả mọi người. Vì sao ư ? Chính nguyên lão Tranvian cùng những thợ phu đã xây nên thánh điện vĩ đại này, còn Solon là người đầu tiên chấp bút cho bộ luật dân sự, và mười năm trước khi tôi được sinh ra, thống chế Marius và nhân dân vùng Sachen đã hy sinh mạng sống để giữ lấy đèo Danto trước quân xâm lược từ phương Đông. Vinh quang của đế chế được dựng nên từ máu và mồ hôi của những con người đó.”

    Pina cười khẩy "Nếu ông cần máu và mồ hôi đến như vậy thì Zorzal là vị hoàng đế tuyệt vời. Mồ hôi thì có thể hơi ít nhưng máu thì không thiếu đâu."

    "Và đó sẽ là máu của những người mà tôi trung thành phục vụ. Những người lính, nông dân, thợ xây, thợ rèn, thợ điêu khắc, những bà mẹ và những đứa trẻ."

    "Và ông muốn ta làm gì hả, Ducan? lẻn vào hoàng cung, đâm người anh ruột thịt của ta một nhát hay ông muốn nhờ đội kị sĩ của ta làm thay ?" Pina gắt lên. Nàng đã chán chơi trò ú tim "Đừng bao giờ nhắc đến chuyện này nữa, ta cảnh cáo ông đó."

    Zorzal có thể là người tồi tệ nhưng vẫn là anh trai nàng. Cái ý nghĩ phản bội anh làm nàng thấy tởm lợm. Pina tự hỏi không biết có bao nhiêu âm mưu như thế này từ ngày cha nàng lên ngôi. Viện nguyên lão từng hạ bệ ba vị hoàng đế và giết một. Jeneasy Điên Loạn đã gục ngay tại bàn ăn sáng với một vết rách dài trên cổ họng, kết thúc mười lăm năm hỗn loạn nhất trong lịch sử. Thà chết chứ nàng không để Zorzal thành người thứ hai.

    "Bạo loạn không phải là thứ chúng tôi muốn" Ducan chậm rãi đứng dậy "Một chế độ thành hình từ gươm đao sớm muộn gì cũng kết thúc bằng gươm đao."

    "Chúng tôi?"

    Vậy là ông ta đã tập hợp được một lực lượng ủng hộ. Pina thấy hơi ớn lạnh. Ducan vốn không hề nói nói suông

    "Những người trung thành với đế chế và người dân của nó, công chúa quí mến ạ" Vị nguyên lão mỉm cười "Những kẻ lo lắng cho tương lai."

    Trước khi Ducan định rời khỏi thánh điện, Pina hỏi ông ta một câu :

    "Ông không sợ tôi nói chuyện này với anh trai mình sao, Ducan? Chỉ một lời thôi thì đầu của ông và của cả bạn bè ông nữa sẽ rời khỏi cổ"

    "Tôi sẽ không đến đây nếu thiếu sự đảm bảo" Ducan đáp "Công chúa sẽ không hé răng nửa lời vì tôi biết người và tôi đều đứng cùng một trận tuyến."

    Thế là ông ta hòa mình vào đám đông và biến mất vào thời điểm các Đại tư tế bước vào thánh điện.
     
  6. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 4.2
    PINA

    Nghi lễ cầu an diễn ra giống như mọi lần. Các vị đại tư tế phải mất một lúc để quyết định xem ai sẽ là người cắt cổ con dê tội nghiệp. Cuối cùng, ông già lọm khọm Adrianus được giao trọng trách này. Pina phải bật cười khi không hiểu tại sao Adrianus lại đặt lưỡi dao vào mỗm thay vì động mạch chủ của con vật, con dê đực kêu ré lên, vuột khỏi tay ông ta và húc đầu vào một trợ tế gần đó. Nó còn làm đổ thêm hai cây đèn dầu và vài bình gốm trước khi chạy mất. Và đó là điều thú vị duy nhất của buổi lễ này, phần còn lại thì chỉ toàn những thứ buồn chán, tẻ nhạt và máy móc

    Sau màn trình diễn đáng thất vọng, họ thay Adrianus bằng một người trẻ trung hơn và một con dê nhỏ hơn. Các trợ tế dùng một cái bình to để hứng dòng máu nóng hổi từ huyết quản của con vật và pha nó với rượu. Bộ lòng được moi ra trước sự chứng kiến của mọi người, ba vị đại tư tế bước đến gần, lấy tay chạm vào chúng và bắt đầu.... tiên đoán.

    Trước bức tượng thánh mẫu đầy phúc hạnh, Thần Hardy mặc giáp đen trông dữ tợn và Vissko Công Bằng với hai con mắt màu ngọc lục bảo, tương lai của cha cô, hoàng đế Molt Son Augustus sẽ được tiết lộ qua những vết chấm mờ, vết thâm trên gan, tim và ruột của một con dê.

    Pina không hiểu họ căn cứ vào đâu mà dự đoán. Họa chăng đó chỉ là trò lừa bịp không hơn và các Đại tư tế thật sự rất chịu khó giữ bí mật. Theo thông lệ, trong mười hai ông già kia chỉ có ba người nắm giữ cách thức bói toán kiểu cổ truyền và mỗi người chỉ nhận một đồ đệ. Khi họ qua đời, người đồ đệ hiển nhiên cũng trở thành đại tư tế và bánh xe cứ thế tiếp tục xoay. Lí do tại sao thì chẳng ai rõ tường tận, khi mà mọi thứ đã không rõ ràng thì nó trở nên huyền bí và người ta cũng dần tin sự màu nhiệm là có thật.

    Một vị đại tư tế, có thể là người đứng đầu trong nhóm ba người, quay lại nói cái gì đó với đám đông phía dưới bằng tiếng Elvish. Giọng ông ta ồm ồm nên Pina chỉ loáng thoáng nghe được vài từ :

    Chưa được, các dấu hiệu không rõ ràng .

    Một tiếng Ồ thất vọng vang khắp thánh điện . Mọi người đồng loạt quì xuống sàn , chấp tay cầu nguyện, và với cái đà này thì sẽ có đến chục con dê nữa mất mạng trước khi các vị thần đưa ra lời chỉ dẫn mới.

    Quá chán nản với trò nhảm nhí trước mắt, Pina quyết định ra về, không thành viên trong viện nguyên lão buồn ngăn nàng, thậm chí một số còn chúc nàng thượng lộ bình an. Cũng như vị công chúa của mình, hầu hết bọn họ chẳng thiết tha gì việc nán lại đây hàng giờ đồng hồ nếu không vì nhiệm vụ. Tuy nhiên chỉ hầu hết mà thôi.

    "Công chúa, Buổi lễ chỉ mới bắt đầu mà."

    Cirius nhìn Pina với vẻ sửng sốt khi thấy nàng cùng đoàn tùy tùng đứng dưới cánh cổng đá khổng lồ chạm trỗ cầu kì.

    "Ta xin lỗi, ngài Cirius. Ta thành thật muốn ở lại nhưng vì công việc gấp rút nên...."

    "Việc gấp rút" Lão ngắt lời nàng "Có gì gấp rút hơn sức khỏe của cha người ? Các tu sĩ bỏ công đến đây để đảm bảo hoàng đế anh minh sẽ ngự trên ngai báu lần nữa"

    Cirius không hẳn một người sùng đạo. Pina nhớ hồi trước ông ta trông khác lắm. Sôi nổi, hay tranh luận và thực tế. Việc mất đi đứa con trai trưởng trong chiến dịch Hạ Ember và hai đứa khác bởi chứng đậu mùa làm ông suy sụp tinh thần. Tình hình thê thảm đến nổi, Cirius giam lỏng người con út ngay trong chính ngôi nhà của mình, không cho thằng bé làm bất cứ việc gì mà ông cho là nguy hiểm, ngay cả cưỡi ngựa cũng bị cấm. Thằng bé càng ngày càng ốm yếu và chỉ sau một cơn đau họng, nó lìa đời. Thế là Cirius lại càng chìm sâu vào khủng hoảng nhưng không ai biết lí do tại sao ông ta lại chọn mấy tay đại bịp này làm chỗ dựa tinh thần.

    "Ta ghi nhận lòng thành của họ, Cirius nhưng ông thấy đấy, những lời tiên đoán như vết dao cắt vào tim ta. Ta sẽ chết mất nếu đó là một lời báo tử. Phụ nữ dễ xúc động hơn đàn ông và có đứa con gái nào không lo sợ trước cái chết được báo trước của cha mình ? Sinh mạng của hoàng đế nay đã hoàn toàn nằm trong tay các vị thần rồi và nếu họ quả quyết số ông ấy đã tận thì ta không còn cách nào khác ngoài chấp nhận. Xin ngài lượng thứ, ta chỉ muốn tìm một nơi tên tĩnh để gậm nhấm nỗi đau này."

    Nàng hy vọng gương mặt mệt mỏi do nắng nóng và hai mắt lờ đờ vì rượu sẽ thuyết phục được gã đàn ông mộ đạo. Cirius nào nỡ làm phiền một thiếu nữ yếu đuối, đang tàn tạ trong nỗi lo mất người thân cơ chứ?

    "Công chúa chớ quá lo, tôi tin thánh thần vẫn luôn đứng về phía bệ hạ" Lão an ủi nàng "Đại tư tế Adrianus nói cơ hội thành công vẫn rất cao, khoảng bảy phần mười."

    Ừ cơ hội thành công cũng vô cùng cao với ba đứa em cùng cha khác mẹ của Pina.

    "Thế thì tuyệt quá" Nàng nở một nụ cười giả tạo "Thánh thần phù hộ hoàng đế và cả ngài nữa, Cirius tốt bụng."

    Lão Cirius cúi rạp người xuống và để nàng rời khỏi thánh điện.

    Không khí bên ngoài dễ chịu hơn nhiều, không có mùi máu tanh, mùa gia súc quyện với mùi trầm hương nồng nặc., Pina ghét nhìn thấy máu kể từ lần nàng chứng kiến đầu Norma nằm lăn lóc cạnh thân thể chằn chịt vết chém của anh tại Italica. Một trải nghiệm có phần khủng khiếp cho nàng và cho cả hội Kỵ Sĩ Hoa Hồng trong lần ra quân đầu tiên của họ .

    "Người cần kiệu không ạ?" Cô hầu gái Hiri nhìn xuống dãy bậc thang của đồi Vinus và hỏi.

    Có đến sáu trăm bậc là ít, Đồi Vinus vốn cao nhất thành phố. Ở Sadera, họ không dùng xe ngựa vì đường xá vừa hẹp lại đông, trong khi kiệu lại gọn nhẹ và thời trang hơn, chúng trông như một cái giường với mái che lộng lẫy với bốn người khiên. Tuy vậy, đi xuống đồi bằng kiệu là một ý tồi. Pina chợt nhớ lại cái cảnh mình phải chật vật bám lấy thành giường và không khỏi rùng mình

    "Không cần. Ta đi bộ cũng được."

    Dưới chân đồi, Bozes và Grey đang đứng cạnh hai con ngựa chiến đen tuyền. Bozes đã cắt ngắn mái tóc dài của mình, thứ mà người Kị sĩ xinh đẹp từng hùng hồn tuyên bố sẽ không bao giờ đụng đến mặc cho nó gây cho cô rất nhiều rắc rối khi chiến đấu. Có vẻ như hai tuần chịu trách nhiệm giữ trật tự kinh đô đã khiến Bozes đổi ý.

    "Bozes, tình hình sao rồi ? Pina hỏi."

    "Tối qua có ba vụ đua ngựa trên phố, hai vụ hiếp dâm, sáu vụ đánh nhau tại quán rượu. Trộm và cướp đường thì nhiều không đếm xuể, thưa công chúa" Bozes quì xuống hành lễ, chiếc áo choàng của cô lắm lem bùng đất, áo giáp có vài vết xước còn rất mới "Với quân số hiện nay thì không thể làm gì được hơn."

    Đội Kỵ Sĩ của Pina vốn không phù hợp làm người gác thành. Họ được huấn luyện để phi ngựa phá tan hàng ngũ quân địch với lòng kêu hãnh tột đỉnh chứ không phải đấu dao với bọn trộm cướp trong những con hẻm tối tăm. Đó là một sự phí hoài nhưng nàng đâu còn lựa chọn nào khác, hai phần ba cận vệ thành phố đã bị Zorzal đều động đi phong tỏa mọi con đường dẫn vào kinh đô, còn đội Cận vệ Hoàng gia thì cứ ở lì trong hoàng cung. Nàng phải làm cái gì đó trước khi cả thành phố bắt đầu chém giết lẫn nhau.

    "Chúng ta cần thêm người" Bozes nhấn mạnh "Thần đã hỏi bộ tư lệnh hành quân nhưng họ lại bảo các binh đoàn không được phép vào kinh đô, đội cận vệ hoàng gia thì không dám làm gì nếu chưa được Thái tử Zorzal cho phép."

    Người phải nói Thái tử hủy bỏ lệnh phong tỏa ngay- Grey lo lắng - Người dân đang giận dữ. Mỗi đêm đi tuần thì thần lại nghe thấy tiếng họ xì xầm ở dưới tầng hầm, phía sau ô cửa đóng kín mít và cả tiếng mài dao nữa. Không khéo thì sẽ có bạo loạn mất.

    Ducan nói đúng, cả thành phố không khác gì một cái chảo lửa. Zorzal hy vọng việc phong tỏa sẽ làm người Nhật chết đói và đó là một kế hoạch cực kì xuẩn ngốc. Những người mặc đồ xanh ( ý chỉ lính nhật) chỉ cần một tuần lễ để tiêu diệt mười binh đoàn của đế chế cùng quân đồng minh, thậm chí còn giết được con rồng lửa huyền thoại, một kỳ tích xưa nay chưa từng có. Đầu Zorzal hẳn chưa đủ nấu nửa suất trứng rán nếu anh ta nghĩ mình có thể ăn thua đủ với họ.

    "Grey, ông hãy đến chỗ ngài Lucius và hỏi xin thêm năm mươi tay kiếm " Pina ra lệnh "Nếu còn thiếu thì hãy dán thông báo tuyển người. Bất cứ ai biết sử dụng vũ khí đều có thể gia nhập Cận vệ Thành phố, nâng mức lương cao hơn bình thường một chút."

    "Thần không tán thành thưa công chúa" Bozes cắn chặt môi "Tuyển người như vậy thì chúng ta sẽ có một đạo quân toàn đám trộm cướp và du đãng mất."

    "Thế thì số cướp cạn sẽ ít đi và số binh sĩ sẽ tăng lên." Pina nói "Một công đôi việc."

    Cái nhíu mài của Bozes không hiểu tại sao lại làm Pina cảm thấy nàng vừa đưa ra một ý kiến rất dở. Nhưng như đã nói từ trước, nàng có rất ít sự lựa chọn. Thà có một đội quân ô hợp còn hơn không có mống lính nào.

    Pina hạ lệnh hai người hộ tống nàng về cung điện. Tuy nhiên, trước khi họ kịp lên ngựa thì một tiếng kêu thất thanh chợt vang lên cách đó vài dãy nhà. Không đợi nàng phản ứng, Bozes và Grey liền phóng ngựa như bay đến chỗ phát ra tiếng kêu. Pina vội đuổi theo nhưng "Coquetterie" lại làm nàng thất vọng. Con bạch mã với chiếc bồm màu ánh kim có tính tình y hệt như cái tên của nó, kiêu kì và đỏm dáng. Coquetterie chỉ thích đi nước kiệu và nàng phải vã mồ hôi nếu muốn nó đi nhanh hơn. Người ta không hề sai khi bảo Coquetterie là vật cưỡi xứng đáng cho các nàng công chúa.

    Bozes và Grey đã biến mất trong những con hẻm chật chội của quận Petroian, một khu vực nổi tiếng là nơi tụ tập của gái điếm và bon nghiện rượu. Chẳng mấy khó khăn để bắt gặp vài cái bóng nằm vật vờ trước bậc tam cấp của những khu nhà xập xệ hoặc dưới gầm cầu. Dù chỉ mới quá trưa, gần một nửa dân cư ở đây đã trong tình trạng say mèm. Thành phố có thể thiếu đường, thiếu bột mì và muối nhưng rượu vẫn luôn đầy ắp một cách khó hiểu. Giờ Pina mới để ý là chưa có quán rượu nào đóng cửa kể từ ngày Zorzal ra lệnh phong tỏa .

    Đám gái điếm ở khắp nơi. Chúng khoác lên mình đủ loại trang sức rẻ tiền và những bộ cánh hở hang nhất rồi đứng tụ tập thành từng nhóm nhỏ đóng đô ở các ngã ba. Pina luôn thấy có thứ gì đó rất lạ ở những kẻ buôn hương bán phấn kia, đặc biệt là mùi nước hoa của họ. Một mùi hương man dại và mạnh mẽ, khác hẳn loại nàng và các quí tộc thường dùng. Vài gái điếm cúi đầu chào khi Pina đi ngang vì họ biết nàng là ai, trong khi số còn lại thậm chí còn chẳng thèm dấu ánh mắt thách thức cũng vì biết nàng là ai.

    Trước khi quyết định mình sẽ chết trên chiến trường, nàng đã mơ ước trở thành một thầy thuốc. Hình ảnh thánh Amery trong bộ váy dài trắng làm con tim Pina không khỏi rạo rực khi nghĩ đến một ngày nào đó nàng cũng đứng dưới bóng đền Mivara kì vĩ, xung quanh là đám người bệnh tật đói rách, đang giang tay trong tuyệt vọng chờ đợi sự cứu giúp từ nàng. Sau đó, chỉ trong vòng mấy tháng, trước sự kinh ngạc của cư dân Sadera, tám trại tế bần lần lượt mọc lên nhờ sự vận động của Pina và vài thành viên viện nguyên lão. Zorzal đã cười vào mặt nàng, Dialo lờ nàng đi còn Hoàng Đế thì lạnh lùng nói :

    "Người ta sẽ cảm ơn con, coi con như thánh sống nhưng không sợ hãi con. Một khi họ đã không sợ hãi thì không bao giờ họ đối xử với con như một quân vương thật sự"

    "Hoàng đế vạn tuế, hoàng tử vạn tế" một ả gái điếm mặc áo hoa diêm dúa nói với giọng bỡn cợt "À quên mất, chúc công chúa một ngài tốt lành."

    Thấy Pina không phản ứng, ả cười lớn, những ả khác cũng khúc khích cười theo. Cha nàng nói cũng có phần đúng. Mấy ả này chẳng dám ngẩng mặt lên nhìn Zorzal chứ đừng nói đến chuyện mở miệng. Và lúc nào nàng cũng ghét khi ông nói đúng.

    Âm thanh nhốn nháo đằng trước cắt ngang dòng suy nghĩ của nàng. Trong một con phố có vẻ rộng hơn so với phần chật hẹp còn lại của quận Petroian, một đám đông đứng thành vòng tròn trước sân quán rượu kiêm nhà thổ có cái tên rất kêu " Nàng tiên nâu". Pina bang khoăn không biết chủ quán định ám chỉ thứ rượu mạnh có màu như nước đường thắng đường hay gái phục vụ ở đây đều có làn da bánh mật ?

    Những kẻ hiếu kì kéo đến càng lúc càng đông hơn, Pina vội thúc ngựa về phía trước. Con Coquetterie khó chịu ra mặt khi xung quanh toàn mùi mồ hôi, mùi men và mùi hành hăng nhưng cây roi da mà nàng cầm trên tay khiến nó cứ lầm lũi tiến bước.

    Ở giữa vòng tròn là tám bóng người đứng dưới cái ánh mặt trời gay gắt. Bozes và Grey hiên ngang trong bộ giáp màu bạc và áo choàng đỏ, một Harpy ( nhân điểu ) tóc vàng quì bẹp cạnh họ, đang chửi bới cái gì đó bằng tiếng Felarie. Phía đối diện là năm tên cốt đột mặc giáp lưới đen, mặt mũi dữ tợn, đặc biệt là cái gã đầu trọc với vết sẹo dài trên má. Không cần nghĩ ngợi nhiều, Pina cũng đoán được chuyện gì đang xảy ra. Năm gã đàn ông kia vừa hành hung một cô gái điếm, thiết nghĩ Harpy vốn nổi tiếng với nghề này nên nàng không sợ mình nói oan cho người ta.

    "Tôi nghĩ chúng ta nên dừng tại đây được rồi!"

    Pina nghe tiếng của Bozes , giọng cô ta đầy sự tức giận. Gã đầu trọc nhìn nàng hiệp sĩ tóc vàng từ đầu đến chân nhưng thay vì nói chuyện với Bozes, hắn lại quay sang Grey :

    "Tao thì lại nghĩ mày nên lên lết cái thân già sang một bên đi là vừa" Hắn gầm gừ "Đừng có nhúng mũi vào chuyện người khác."

    "Ăn hiếp một cô gái như vậy thì đâu có đáng mặt đàn ông" Grey bình thản đáp lại hắn bằng cái nhìn đe nẹt "Anh và các bạn của mình nên bỏ qua chuyện này trước khi có ai bị thương thì hơn."

    "Bỏ qua hả ? xem con điếm vừa làm gì tao này" Một gã nhỏ thó râu ria chỉ tay lên vết cào còn rất mới trên mặt "Có chết tao cũng phải trả lễ nó mới được."

    "Và anh đã làm được" Grey liếc nhìn vệt máu chảy từ khóe môi và mũi của cô gái Harpy "Mũi cô ta gãy rồi."

    "Nhưng cái cổ nó thì chưa và nếu không khéo thì bọn bây cũng chung số phận."

    "Tại sao hắn ta đánh cô?" Ông lờ gã đi

    "Hắn không chịu trả tiền" cô ta rít lên "Khi tôi đòi thì hắn đánh tôi."

    "Nói láo ! Tao trả mày những năm Denarii, đồ con điếm dối trá."

    "Đó là tiền công phục vụ một người" Cô ta đốp chát lại "Các anh có ba người thì giá phải là mười lăm denarii."

    "Mày đâu có nhắc đến chuyện đó trước khi lên giường với bọn tao" Hắn cười ngạo nghễ "Là lỗi của mày."

    "Phải ! Là lỗi của tôi" cô nàng cười khẩy "Tôi không ngờ các người lại ngu còn hơn lợn. Phép tính đơn giản đến mức đó mà còn làm không xong!"

    "Con điếm khốn nạn!" Gã tuốt kiếm ra, xông về phía trước . Grey nhanh như một con sóc đứng chắn ngang đường gã với gươm tuốt trần "Tránh đường cho tao."

    "Bình tĩnh chứ anh bạn."

    Hắn vung gươm chém xuống, Grey nhẹ nhàng khóa đòn tấn công và đẩy ngược hắn về phía sau. Đám đông reo hò thích thú, Pina cũng kinh ngạc chẳng kém gì họ. Grey là một tay kiếm xuất sắc nhưng nàng hiếm khi được tận mắt chứng kiến ông trong một trận đánh thật sự. Sau những năm tháng vinh quang, vị kỵ sĩ già chỉ toàn ngày đêm quanh quẩn trong cung điện, tận tình chỉ dạy đám con nít quí tộc trong đó có nàng cách cầm chắc chuôi gươm, cách chiến đấu và chết như một chiến binh thật thụ. Ở cái tuổi ngoài năm mươi, Grey dư sức thắng đám đồ đệ trong mọi trận đấu tay đôi. Thậm chí ngay cả khi Pina, Bozes và Panache cùng hợp sức lại thì kết quả cũng không khá hơn là bao.

    "Lão già cũng khá quá nhỉ" Tên đầu trọc cười nham nhở "Rats, Karls, Rouge chúng mày còn chờ gì nữa?"

    Ba gã còn lại liền rút vũ khí ra. Rats cầm một thanh gladius ( kiếm ngắn kiểu La Mã), Karls cần chùy còn Rouge thì lăm lăm trong tay một cây giáo ngắn. Tên thủ lĩnh cùng Rats và Rouge vây quanh Grey trong khi Bozes, một mục tiêu mà chúng xem là dễ ăn hơn phải đối phó với hai kẻ còn lại.

    Và trận đấu bắt đầu.

    Bozes gạt cú đánh hiểm hóc của tên nhỏ thó sang một bên và vung gươm tới tấp vào Karl. Với một cây chùy, Karl không làm được gì nhiều ngoài hai lần chắn đòn trước khi lưỡi thép sắc lạnh rạch một đường từ vai đến hông gã. Karl kêu lên đau đớn rồi đổ gục xuống như một cái cây. Gã nhỏ thó hoảng hốt tung một đòn đâm thẳng và phạm phải một sai lầm khủng khiếp. Hắn đâm trượt nên lưỡi gươm chỉ sượt qua cầu vai, chẳng gây chút tổn hại nào ngoài một vết xước lên tấm thép mỏng. Không hề chần chừ, Bozes đấm một cú trời giáng vào mặt gã bằng găng tay sắt của mình, khiến gã nhỏ thó ngay lập tức ngã lăn quay .

    Tên đầu trọc cũng sớm nhận ra gã đã đụng nhầm người. Ngọn giáo của Rouge đã bị chặt phăng trước khi nó kịp chạm vào giáp hộ tâm của vị hiêp sĩ đầu bạc và chỉ sau một đường gươm, đầu của Rouge đã lìa khỏi cổ rồi lăn long lóc trên đất. Rats thì chẳng khá khẩm hơn, cuộc đời gã kết thúc bởi một cú đâm xuyên lòng ngực. Trước sự kinh ngạc của mọi người , vị kỵ sĩ già gần như chưa hề duy chuyển nhưng đã có hai cái xác nằm xổng soài trên đất

    "Mày... Mày!!"

    Gã đang cố nói gì đó nhưng Pina chỉ nghe câu được câu mất. Sự hoảng sợ lẫn kinh ngạc có lẽ đã khiến cổ họng gã cứng lại.

    "Tôi đã bảo anh nên bỏ qua chuyện này trước khi có người bị thương rồi mà."

    Tên thủ lĩnh đưa gươm ngang đầu, chém vào cổ Grey. Grey không đỡ đòn, cũng chẳng buồn lùi lại, ông nhẹ nhàng cúi người xuống và cắt hắn như cắt một lát bánh từ dưới lên trên.

    Đám đông tỏ ra thất vọng vì cuộc thư hùng diễn ra theo cái cách họ không mong đợi. Quá ngắn ngủi và áp đảo. Cái âm thanh lạnh lẽo của tấm giáp lưới bị xé toạt báo hiệu cho cánh phụ nữ rằng giờ là lúc đóng cửa sổ lại, còn cánh đàn ông thì nên trở vào trong và nốc rượu cho đến khi hai chân mềm nhũng ra.

    "Chỉ có thế thôi sao ?"

    Pina nghe ai đó nói trong đám người rục rịch ra về. Khó mà trông đợi một kết cục bất ngờ khi hai kỵ sĩ vũ trang chỉ phải đối phó với một đám du thủ du thực.

    "Tôi xin hàng!" Gã nhỏ thó giờ mới lồm cồm bò dậy. Mọi người đã bỏ đi gần hết nên chẳng ai để ý gã vẫn còn sống "Đây ! tiền của cô đây, cô gái."

    Hắn ném về phía cô nàng Harpy một cái túi con con rồi ôm gương mặt đầy máu chạy thục mạng. Grey và Bozes nhặt vũ khí của bọn chúng chất thành đống trong khi ả gái điếm thì bận lẩm bẩm đếm số tiền kiếm được.

    "Gọi Cận vệ Thành phố đi, Bozes" Grey vừa nói vừa kéo cái xác nặng nề của gã thủ lĩnh vào bóng râm. Hắn là một tên to con "Và coi chừng bọn kền kền."

    Đám kền kền cũng không hẳn là bọn chim ăn xác thối. Chúng là những tên cơ hội lấp ló xung quanh những trận cãi vã vặt, những buổi thanh toán lẫn nhau giữa các phường hội thù địch và chờ đợi tàn cuộc. Một chiếc nhẫn, khuyên tai, áo giáp, hoặc ủng đều có giá miễn là bạn đủ nhanh và tìm được người mua. Theo như Pina quan sát thì có ba ứng cử viên tiềm năng ở đây. Hai gã đàn ông cục mịch và một thằng nhóc bẩn thỉu. Hình như tuổi đời của những con kền kền dạo này thấp hơn bình thường.

    "Cái này sẽ tìm được chủ của nó nếu đám áo choàng vàng xuất hiện" Bozes vẩy vẩy thanh Gladius bóng bẩy của Rats trước mặt thằng nhóc "Hiểu ý ta chứ?"

    Thằng bé gật đầu lia lịa rồi chạy về phía cổng Máu, hai gã đàn ông quay sang nhìn nhau sửng sốt. Thanh gươm đó đủ cho chúng no nê suốt tuần. Bozes cắm thanh Gladius xuống đất, quát :

    "Hai ngươi mà chạm tay vào bất cứ thứ gì thì đó sẽ là lần cuối cùng ngươi có tay đấy."

    Hai con kền kền giật thót rồi lặng lẽ bỏ đi. Chúng biết không nên dây dưa với hai người kỵ sĩ, đặc biệt là Bozes. Ngay cả khi chỉ mới lên mười, sự dữ tợn của Bozes cũng đã khiến mọi người sợ chết khiếp. Cô giật đứt tóc bọn con gái nói xấu mình, đấm gãy răng bất cứ thằng con trai nào dám buôn lời chọc ghẹo. Như con sư tử kiêu hãnh trên gia huy của gia tộc Co Palesti, cô thích sự phục tùng từ những sinh vật bé hơn và sẵn sàng dùng bạo lực nếu chúng không vâng lời. Grey đã từ chối chức phó chỉ huy đội Kỵ sĩ hoa hồng và nhường nó cho Bozes dù hơn hẳn cô học trò về kiếm thuật cũng như kinh nghiệm.

    "Cha tôi là thợ đóng giày ở Gin Alley, còn mẹ tôi thì bán đồ thêu ở dưới chân cầu. Người ta sẽ không bao giờ đi theo đứa con trai của tên đóng giày và ả bán đồ thêu ở dưới chân cầu. Nhưng lời nói của người thừa kế gia sản Co Palesti sẽ khiến máu đóng băng."

    "Mười ba đồng. Đồ con hoang!" Cô ả Harpy bước đến cạnh xác gã thủ lĩnh và bắt đầu lục lọi "Một thằng con hoang và bốn thằng rỗng túi."

    "Có lẽ tiền đã bị nướng sạch vào xúc xắc và rượu rồi" Grey bình phẩm "Không ngạc nhiên khi chúng định quịt tiền cô."

    "Thế còn mấy thứ này thì sao? Tôi có thể bán chúng."

    "Không được !" Bozes gắt "Chúng giờ thuộc sở hữu của đội cận vệ thành phố, thưa quý cô."

    "Đội cận vệ thành phố giờ kiêm luôn mảng ăn xác à ? Hai người đây quá cao quý để làm bọn kền kền cũng như lính gác thành."

    "Chúng tôi không phải cận vệ thành phố!" Bozes nghiến răng "Chúng tôi là hội kỵ sĩ hoa hồng."

    "Một cái tên hoa mỹ cho bọn đồ tể" Ả nguýt dài. Pina cảm thấy hình như cô ả đang cười thì phải "Nói cho tôi nghe xem nào. Khi một hiệp sĩ moi ruột ai đó thì liệu nó có vinh quang hơn bọn mạt hạng này không?"

    "Vung gươm với lí do chính đáng thì không phải là sát nhân. Đó là công lý, thưa quí cô. "

    "Ai mà chẳng cố hợp lý hóa hành động của mình. Và đừng có gọi tôi là quí cô nữa. Tôi là một Harpy, một gái điếm và dưới cái bóng của những luật lệ do mấy người đặt ra tôi không bao giờ là một quí cô, chưa bao giờ muốn."

    Khỏi phải nói Pina cố lắm mới nhịn cười được. Chứng kiến Bozes Co Palesti bị một gái điếm làm á khẩu là một dịp hiếm có. Lần cuối cùng cô bạn của nàng giận tái mặt là khi nào nhỉ ? Pina không nhớ nổi. Có lẽ là chưa bao giờ.

    Nếu nhìn kĩ thì cô nàng Harpy cũng khá đẹp và có đôi nét giống Bozes. Tóc vàng với xương gò má cao. Cô ả trang điểm hơi đậm, cộng với gương mặt ngang tàng sương gió của những người sống lăn lộn trên phố nên trông có phần già hơn tuổi thật.

    "Cái mũi đó sẽ không tự lành đâu" Grey nói "Cô cần thầy thuốc đàng hoàng."

    "Kurokawa sửa được tất. Hồi trước một gã đấm tôi gãy....."

    "Cái gì!?" Pina cắt ngang. Nàng vội vã xuống ngựa, nắm lấy hai vai ả Harpy "Cô biết Kurokawa ?"

    "Tất nhiên!" Ả tròn xoe mắt sửng sốt "Này ! buông tôi ra ngay."

    "Cô mà nói chuyện với công chúa bằng thái độ đó thêm lần nữa thì coi chừng cái lưỡi" Bozes rút con dao trên thắt lưng ra khỏi vỏ "Phải gọi người là công chúa hoặc điện hạ."

    "Chuyện đó để sau đi Bozes" Pina ra lệnh. Nàng bỏ tay khỏi người cô ta "Cô tên gì?"

    "Mizari..." Ả ngập ngừng khi bắt gặp ánh nhìn như muốn giết người của Bozes "Mizari, thưa công chúa."

    "Tốt lắm, ta có việc cho cô. Tất nhiên tiền công sẽ rất hậu hĩnh, đồng ý chứ?"

    Cô ả xem ra hơi chần chừ. Khi một quí tộc đề nghị công việc với thù lao hào phóng thì có thể cái thằng ngốc bị lóa mắt vì tiền sẽ không có cơ hội tiêu chúng. Đôi khi, sự hào phóng luôn đi kèm với nguy hiểm và người ta cũng dần hiểu rằng người giàu không trở nên giàu hơn bằng cách cho đi.

    "Chỉ là gửi thư thôi" Pina trấn an Mizari "Sau khi mặt trời lặn, hãy đến quảng trường Athenian và đợi. Người của ta sẽ mang thư đến cho cô."

    "Gửi cho ai, thưa công chúa?"

    "Mang nó đến văn phòng đại diện Nhật ở Akusho và trao cho ngài Sugawara."
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/12/18
  7. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 5.1

    KAYLE

    Việc ngồi băng sau làm cho Kayle vừa khó chịu vừa thích thú. Sự tiện nghi của chiếc Nissan vượt quá những gì cô mong đợi. Ghế bọc bằng da thuộc hảo hạng, thảm lót cũng là loại đặt làm riêng và nếu như cô khát thì đã có chiếc tủ lạnh mini dưới ghế ngồi sẵn sàng phục vụ.

    Kayle không phải người xa lạ với những thứ hàng đắt đỏ. Hơn phân nửa cuộc đờ cô gắn liền với những bộ cánh thời thượng nhất từ những nhà thiết kế có cái tên cũng trúc trắc, lố bịch tương đương danh tiếng của họ. Cô tự lái chiếc Porsche đến trường và dành phần lớn kỳ nghỉ đông trong căn biệt thự ở tận miền Charleson. So với chúng, chiếc Nissan này chẳng đáng là bao. Nhưng như người ta hay nói “Khổ quá hóa ra cái gì cũng sướng”, Kayle vừa có một chuyến bay kém êm ái và bữa sáng tồi tệ nên cô chẳng ngần ngại tận hưởng sự xa hoa này một cách nhiệt tình. Thứ duy nhất làm cô khó chịu ở đây lại chính là gã bạn động hành bất đắc dĩ.

    Pattrick Hammer, hay còn gọi là Patt tự lái xe. Gã là một kẻ kiệm lời, chỉ chịu mở miệng khi cô đặt câu hỏi. Hắn có phải nhân viên bộ ngoại giao không nhỉ, cô tự nhủ, Và tại sao hắn lại phải ngồi phía sau vô lăng? Không phải Bộ lúc nào cũng sử dụng tài xế riêng để mấy tay lắm mồm như Patt tiện múa lưỡi hàng giờ đồng hồ sao ?

    Có thể hắn là thực tập sinh…. Không thể nào, cô gạt ý nghĩ đó đi, gã quá già để làm thực tập sinh cũng như quá dễ sợ. Gương mặt hắn trắng bệch, có phần xanh xao, còn hai mắt lại dễ làm người ta liên tưởng đến loài chồn hoặc chó sói. Dưới mọi góc độ, Patt không phải là người thiện cảm.

    “Bao lâu nữa ?”

    Cô hỏi hắn. Thật sự thì cô không cần biết chừng nào mới đến nơi nhưng cô cứ hỏi. Sự im lặng của gã bắt đầu làm cô thấy bức bối.

    “Bốn mươi phút” Gã liếc nhìn kính chiếu hậu “ Một tiếng có thể hơn.”

    Không “ thưa thiếu tá “ sao ?

    Hắn lại nhìn kính chiếu hậu lần nữa rồi rẽ sang làn giảm tốc. Họ đang ở trên xa lộ nối liền trung tâm Tokyo với ngoại ô, nơi các nhà máy, các khu công nghiệp mọc san sát nhau và cầu vượt này chồng lên cầu vượt kia. Cảnh vật bên ngoài thật là chán chường .Trước mặt Kayle chỉ có con đường dài hun hút xe nối xe cùng với những tòa nhà màu xám ảm đạm

    Cuộn mình trong tấm chăn mỏng tìm thấy sau ghế tài xế, Kayle cố không ngủ gật. Vài tháng nay, cứ mỗi lần nhắm mắt, cô lại chìm sâu vào cơn mộng mị. Trước đây, cô từng thành thục một thứ gọi là “Giấc ngủ ngắn”, một kĩ thuật giúp người lính biệt kích kiểm soát giấc ngủ như ý muốn .Một khi cơ thể đã đạt đến giới hạn chịu đựng, cơ bắp bắt đầu có dấu hiệu tê cứng và não hoạt động chậm lại, bất cứ ai cũng cần ngủ nhưng việc chợp mắt lâu hơn hai tiếng đồng hồ trên thực địa đồng nghĩa với việc nhắm nó mãi mãi. Hai mươi phút là quá đủ để phục hồi các chức năng cần thiết cho cơ thể. Đáng buồn thay, Kayle đánh mất khả năng này từ hồi rời Iraq. Cô giờ hay ngủ say như chết, và trong mơ, cô thấy đàn bò chạy rầm rập trên cánh đồng, thấy sóng biển xô bờ đá, cuốn những viên sỏi nhỏ về đại dương.

    Mình phải giữ đầu óc tỉnh táo, cô nghĩ bụng. Việc bị đưa đến một nơi vốn chẳng liên quan gì mấy với chuyên môn của mình càng khiến tâm trạng cô tệ hơn. Kayle không thể không thắc mắc những tay công chức thơm tho bóng mướt đó cần gì ở một quân nhân như cô và tại sao lại hối hả đến vậy ?

    Tình hình đang diễn ra theo cái kiểu cô đã quá quen như hồi còn ở Spectre và nó làm cô nổi da gà. Kayle là một phần của một kế hoạch vội vã và bí mật được tiến hành bởi bàn tay của cơ quan tình báo trung ương và chỉ có chúa mới biết mục tiêu của nó là gì. Buồn cười thay khi CIA lại giỏi lừa người của mình hơn lừa địch thủ. Trong trường hợp đó, Pattrick Hammer không phải là nhân viên bộ ngoại giao, thậm chí cô không chắc tên của gã có phải là Pattrick hay Patt gì đó không nữa.

    Sau gần mười phút cố gắng và hai mắt chỉ chờ chực nhíu lại, Kayle quyết định cạy mồm Pattrick dù không mong đợi hắn phun ra thứ gì đó hữu ích.

    “Lần đầu tiên anh ở nước ngoài, đúng không?”

    Gã chần chừ một lúc “Không. Tôi từng thực tập một năm tại Paris, một năm ở London. Đây là lần đầu tiên tôi đến Á Châu.”

    “Paris?” Kayle nhắm nghiền mắt lại “Thành phố của ánh sáng.”

    Hầu như người đàn bà nào cũng thấy lâng lâng khi nhắc đến Paris hoặc nước Pháp ,Kayle cũng không phải là ngoại lệ.

    Paris, chỉ cần thì thầm cái tên thôi là ngửi thấy ngay mùi bánh mì nướng, mùi pho mát trắng, những quán cà phê con con cạnh bờ sông và bảo tàng Louvre vĩ đại. Một ngày nào đó, Kayle tự nhủ mình nhất định sẽ đặt chân đến nước Pháp. Nghĩ đến đấy, moi thứ có vẻ như đang đi đúng hướng. Kayle đang ngồi trên xe thuộc sở hữu của bộ ngoại giao, được cầm lái bởi người của bộ ngoại giao và ngay cả chai nước khoáng trên tay cũng được dán nhãn “ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ”.

    “Của bọn móc túi và du đảng” Patt nói với giọng bỡn cợt “Dân nhập cư ồ ạt kéo đến Châu Âu, lấp đầy các khu ở chuột, và các nhà nguyện thi nhau mọc lên như nấm sau mưa. Mỗi lần xuống phố, tôi lại thấy lùng bùng lổ tai. Tiếng Rumani, tiếng Arab, cả tiếng Ấn nữa chứ. Cả thành phố giờ như món thịt nhồi vậy.”

    Hắn nói như tạt nguyên xô nước lạnh vào mặt Kayle. Tên này thực sự chẳng những nhàm chán mà còn khó ưa nữa, hiếm có gã đàn ông nào lại đi dèm pha thành phố tình yêu trước mặt phụ nữ. Kayle toan cãi hắn với hắn một trận nhưng cố kiềm chế mình lại. Cái bốc đồng của sĩ quan không danh cho những việc cỏn con như thế này. Vã lại, có thể Patt nói đúng. Cô có bao giờ tận mắt thấy kinh đô ánh sáng lần nào đâu mà dại phản đối hắn ? Paris có thể không như trong trí tưởng tượng của cô cũng như Bagdad hóa ra không phải là ốc đảo thiên đường giữa lòng sa mạc trong nghìn lẻ một đêm.

    “Thế thì đáng buồn thật! Tôi từng đến Paris vài lần.” Kayle bình phẩm “ Mười năm trước nó vẫn còn là hòn ngọc trên vương miện nhà vua.”

    “Ít ra Madeleines vẫn như ngày nào.” Gã nói “Tôi hạnh phúc vì điều đó.”

    “Cô ấy hẳn là một phụ nữ tuyệt vời” Kayle không ngờ trên quả đất vẫn còn người thương lấy thương để gương mặt kém thân thiện của gã “Anh vẫn còn giữ liên lạc với Madeleines chứ ?”

    Qua kính chiếu hậu, cô thấy Patt nở một nụ cười bí hiểm. Kayle không hiểu hắn có ý gì nhưng cô thấy không thoải mái lắm.

    “Vâng, tôi gặp cô ấy hằng ngày” Hắn nói “Ngay trước tiệm Elégant Parisien.”

    ( Giải thích một chút. Pattrick Hammer đang gài bẫy Kayle. Madeleines không phải là tên người, đó là một loại bánh mà ta gọi là bánh con sò, món ăn phổ biến ở Paris. Kayle đâu có đến Paris lần nào nên hoàn toàn mù tịch về chuyện này.)

    Sau đó, chuyến hành trình lại trở về tình trạng ban đầu. Buồn tẻ và im ắng. Chiếc Nissan rẽ khỏi đường cao tốc và hướng về trung tâm thành phố. Từ đằng xa, các cao ốc tựa những thỏi gạch màu tro đứng san sát nhau trong màn sương mờ. Và ở giữa chúng, Tháp truyền hình Tokyo như một nét chấm phá lạ lẫm nhô lên trên cái nền xám xịt. Kayle ghét những ngày ủ dột. Chúng gợi cho cô nhớ đến đám tang. Trùng hợp ở chỗ cái đám ma nào cô dự đều có chung một kịch bản; những bà quả phụ ngất lên ngất xuống, đám trẻ đứng sụt sùi cạnh quan tài, đội nghi thức thì mặt lạnh như tiền, và bảy phát súng tiễn biệt vang lên dưới nền trời ảm đạm. Hình như người ta luôn có khiếu chọn những ngày tồi tệ để làm những chuyện tồi tệ hay sao ấy.

    Nếu có chết, mình sẽ ra đi vào một ngày giữa hè với bầu trời xanh và nắng nhẹ. Nhiều lúc, đó gần như là một mong ước hơn và Kayle thừa biết con người luôn nghĩ về những thứ mà họ không bao giờ chạm tới được.

    “Có vẻ như chúng ta sẽ đến trễ.” Patt tặc lưỡi nói

    Kayle ngước lên nhìn và nhận thấy xe cộ dồn ứ lại xung quanh. Cô hạ cửa kính xuống, thò đầu ra ngoài, mưa bắn lên mái tóc vàng và cổ áo.

    “Có chuyện gì đó gần chân cầu.” Cô nói với Patt “Một vụ tai nạn? Kẹt xe?.”

    “Có thể là cả hai” Hắn dùng tay vỗ nhẹ lên vô lăng “ Như mọi khi thôi.”

    “Anh nói như thể Người Nhật là những kẻ cẩu thả lộn xộn vậy.”

    Cô còn nhớ cái cách mà người đàn ông Nhật cẩn thận gấp cái áo khoác của mình rồi đặt nó dưới gốc cây. Các nếp gấp rất đẹp và gọn ghẽ, cô nghĩ mình đã khẽ chạm vào chúng với niềm thán phục.

    “Điều đó có thể không đúng trước đây. Cuộc chiến này khiến đầu óc họ bấm loạn, và đây là hậu quả. Có hai cây cầu nối quận này với trung tâm thành phố, một cái đã bị đánh sập vào ngày cuộc tấn công diễn ra, cái còn lại nhỏ hơn đang ở trước mắt ta đấy.”

    Patt bắt đầu kể về cái ngày định mệnh đó. Một tiếng nổ chói tai, to hơn bất cứ tiếng nổ nào mà người của đại sứ quán nghe thấy trong ngày. Họ liền chạy ra ngoài và thấy một cột khói khổng lồ xuất hiện đằng đông.

    “Phải mất một lúc, chúng tôi mới biết Không quân đánh sập cầu Toyomi qua kênh thời sự. Ai cũng sợ kẻ địch tràn vào khu vực nội ô trong khi JSDF không có đủ quân để bảo vệ. Một quả Tomahawk từ tàu chiến ngoài vịnh, tôi cho là thế vì tôi không nghĩ họ dám dùng bom.”

    Về việc này thì Kayle không lấy gì làm lạ. Các loại bom xuyên phá có độ tin cậy kém và chúng không phải lúc nào cũng nằm trong danh sách vũ khí tiêu chuẩn của F-16 Nhật Bản. Với Tomahawk thì độ chính xác gần như tuyệt đối và do đó cũng an toàn hơn nhiều. Điều Kayle thắc mắc là tại sao Pattrick Hammer, một tay bàn giấy lại biết thứ đánh sập cây cầu là một quả tên lửa. Chẳng nhẽ họ dạy mấy thứ này ở học viện ngoại giao ? Có khi nào …. Không thể được, cô gạt phăng ý nghĩ đó đi

    “Một hành động sai lầm” Gã hắng hơi và tiếp “Toyomi lại là con đường ngắn nhất đến Ginza , thành thử lực lượng tăng viện đành phải đi đường vòng và suýt chúc nữa đám quái vật ấy đã kịp chiếm luôn cung điện”

    Nếu đó là quân đội Mỹ thì chắc chắn các tiểu đoàn thủy quân lục chiến sẽ đánh một trận sống mái để giành lại cây cầu thay vì phá hủy nó. Nhưng JSDF không phải quân đội Mỹ, nếu như cô nhớ không lầm thì lần cuối cùng họ tham chiến cũng cách đây bảy mươi năm rồi. Lần ra quân đầu tiên của Spectre cũng đâu khá hơn là bao, Hugh người ăn nhiều nhất đội bị mất một chân còn cô thì bị gãy hai cái xương sườn.

    “Mất một thời gian để quốc hội Nhật tìm ra con dê tế thần của họ. Một ông tướng già sắp về hưu đứng lên nhận toàn bộ trách nhiệm. Nhưng chuyện thú vị nhất vẫn là làm sao khôi phục lại cây cầu. Một số người đòi dời cầu mới sang chỗ khác vì chi phí dọn dẹp đống đổ nát dưới lòng sông bị đội lên quá cao trong khi cả nước Nhật đang trong tình trạng chiến tranh, có thể họ không nhìn nhận như vậy nhưng đưa quân đội sang lãnh thổ ngoại bang tức là tuyên chiến rồi.”

    “Thế cây cầu vẫn chưa xây xong sao ?”

    “Nhìn quanh cô đi thiếu tá” Gã nhúng vai “Mọi thứ nhìn có ổn không ? Không hề đâu. Để tôi nói cho cô biết một sự thật. Người Nhật có đủ thứ để lo hơn là một cây cầu. Kể từ ngày cái cổng đó xuất hiện thì Trung Đông cũng rời khỏi trang bìa tờ New York Time luôn. Tất cả các quốc gia thèm đặt chân vào đặc khu đến nổi sẵn sàng sử dụng vũ lực nếu cần. Cô nhớ chuyện gì đã xảy ra khi người ta tìm ra Châu Mỹ không ?

    Họ đã đánh nhau suốt năm tram năm để làm chủ vùng đất mới. Đầu tiên là người Tây Ban Nha đến và hủy diệt toàn bộ nền văn minh bản địa, người Anh và người Pháp giành giật nhau Bờ Đông, và cuối cùng nước Mỹ hất cẳng tất cả để trở thành bá chủ. Viễn cảnh một cuộc chiến kéo dài cả thế kỷ chẳng khiến Kayle thích thú chút nào và ai sẽ là Conquistador tiếp theo đây ?

    “Hy vọng là không đến nước đó”

    Kayle cười cay đắng. Đã bao nhiêu lần cô hy vọng để rồ vỡ mộng nhỉ ? Một hay một trăm ? đôi khi chỉ cần một lần cũng là quá đủ rồi.

    “Lịch sử khoản đãi kẻ bạo gan” Gã thủng thẳng nói “Chiến tranh nuôi dưỡng ý chí , kêu gọi hành động, đưa con người vào trường va đập thoáng vụt nơi con người lượng giá con người.”

    “Anderson là một triết gia giỏi nhưng không phải là một người lính.”

    Đi tìm mặt sáng của chiến tranh chẳng khác gì bắt con mèo trong phòng tối, chỉ có điều không hề có con mèo nào ở đó mà thôi

    “Thiếu tá biết ông ta?”

    “Tôi biết vài người.” Kayle đáp.

    “Một triết gia thì không nhất thiết phải là chiến binh xuất sắc. Machiavelli có ra trận ngày nào đâu nhưng mấy ai hiểu rõ chiến tranh như ông ấy, có người nói với tôi rằng mỗi người điều có phần của mình trong cuộc đời này”

    Hắn đang lải nhãi cái quái gì thế không biết. Kayle giờ lại đâm ra thích phiên bản lầm lì ít nói của gã hơn.

    “Anh có ý gì ?”

    Patt không trả lời, hắn chỉ đơn giản đưa tay vào túi áo trong và lấy cái gì đó. Kayle liền giật mình đặt tay lên bao súng rỗng theo phản xạ, chẳng những gương măt hắn đã kém thân thiện mà ngay cả từng cử động cũng làm cô bất an nốt.

    “Đây” Gã nhoài người về phía sau, chìa cho cô bao thuốc lá Nhật kèm hộp diêm “Xin lỗi, ở đây khó kiếm hàng Mỹ lắm.”

    “Tôi không hút thuốc.” Kayle lắc đầu

    “Cô có hút.” Giọng Patt lạnh lẽo nhưng cặp mắt màu ngọc bích của gã ánh lên những ngọn lửa xanh hoang dại “Rogan nói thiếu tá hút rất nhiều lúc ở Iraq.”

    Rogan chết rồi, Kayle toan nói nhưng cổ họng nghẹn ứ. Không thể nào cái gã mặt chồn này lại biết Rogan được. Các thành viên Spectre toàn dùng tên giả và liên tục đổi tên khi nhận nhiệm vụ mới. Chỉ có vài người biết nhân thân thật của Kayle, con số sẽ còn ít hơn nếu đó là Rogan, người trực tiếp điều hành mọi chiến dịch.

    “À không. Phải là Lamb mới đúng, tôi cho rằng đó là cách họ từng gọi anh ta.”

    Kayle đợi Patt hạ hết cửa sổ xuống rồi mới châm lửa. Không khí lạnh lẽo tràn vào, mơn trớn làn da trần trụi trên cổ cô nhưng khói thuốc làm huyết quản cô sôi lên, còn đầu thì nhẹ tênh nên cô không cảm thấy lạnh.

    “Anh là ai, Pattick?”

    “Nếu muốn bắt đầu. Cô nên hỏi đúng câu hỏi.”

    Vậy đây là trò chơi mới của các người sao. Thật lòng Kayle nửa muốn dấn thân vào để xem mọi chuyện cuối cùng có ra cơm ra cháo gì không, nửa còn lại cô biết mình không còn lựa chọn nào khác

    “Tôi là ai, Pattrick.?”

    “À cái đó thì sẽ do Ngài đại sứ quyết định.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/12/18
  8. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 5.2

    KAYLE

    Đại sứ quán Mỹ trông giống một pháo đài kiên cố với tường bê tông, cửa kính gia cố, chốt kiểm tra an ninh và ụ súng máy hơn là một tòa nhà dân sự thông thường. Các đại sứ quán khác cũng được vũ trang không kém. Kayle trông thấy bốn lính bắn tỉa trên tầng thượng của đại sứ quán Anh, mũ cáp-pi trắng của lính lê dương trước cổng đại sứ quán Pháp cạnh bên quân phục Flecktarn đặc trưng của Bundeswehr vây quanh đại sứ quán Đức. Nhìn từ bên ngoài vào, khu vực ngoại giao này chẳng mang tính hữu nghị chút nào.

    “Cảm giác như về nhà đúng không?” Patt. Hoặc tên của hắn là gì cũng được, bình phẩm “Chẳng có nơi đâu được như nhà mình.”

    Quả thật khung cảnh gợi cô nhớ lại Vùng Xanh ở Iraq, chỉ có điều Kayle không mong ở đây có hẳn một quán rượu miễn thuế do CIA điều hành. Bản thân cô vốn có nhiều kỷ niệm không hay ho với chỗ đó. Hình như hễ cơ quan tình báo trung ương nhúng tay vào cái gì thì luôn kéo theo hàng núi rắc rối.

    “Anh là ai, Pattrick ?”

    Đây là lần thứ ba cô hỏi hắn nhưng vẫn chưa nhận được câu trả lời. Patt tiếp tục né tránh bằng cách lái sang chuyện khác

    “Ngài đại sứ sẽ gặp cô trong một giờ nữa. Tôi hy vọng Thiếu tá có mang theo lễ phục.”

    Kayle cười gượng gạo trước bộ dạng của mình. Bộ đồ dã chiến của cô nhăn nhúm và thấm đầy nước mưa “ Anh nghĩ sao ?”

    “Tôi sẽ sắp xếp” Hắn nói với một cái thở dài “Buổi họp báo phải diễn ra hoàn hảo. Thật đáng xấu hổ khi sĩ quan quân đội Hoa Kỳ xuất hiện trong bộ dạng lôi thôi.”

    Họ đi qua cổng kiểm tra an ninh đầu tiên có tên “ Mặt Trời Mọc”, mặc dù Kayle không nhìn thấy được ánh mặt trời nào.

    “Các anh có cần phải đặt tên nó như vậy không, sao không lấy bảng chữ cái ra mà dùng luôn cho rồi ?”

    “Tôi không phụ trách việc đặt tên cho chúng.” Patt nói khi kéo cửa kính xuống và đưa cho viên hạ sĩ giấy thông hành.

    “Thế à ? Tôi thực sự muốn biết anh đang…”

    “Chào trợ lí Hammer. Chúc ngài một buổi sáng tốt lành.” Người hạ sĩ trạc ba mươi tuổi nở nụ cười thân thiện. Anh ta là một người cao lớn, da đen nhánh với một vết sẹo dài trên má “ Hành khách của ngài là…”

    “Không ai cả. Nhớ đấy Roger, hôm nay tôi vừa chở vợ ngài đại sứ đi thăm một người bạn cũ và bà ấy muốn ngủ lại nhà bạn đêm nay nên tôi trở về một mình ”

    “Vâng.. Vâng, đã rõ thưa ngài.” Nụ cười trên gương mặt Roger biết mất, anh ta gật đầu ra hiệu cho thanh Barrie nâng lên.

    “Càng ít người biết thiếu tá ở đây càng tốt. Cô hiểu rõ cách hoạt động của chúng ta mà.”

    “Không có chúng ta nào ở đây hết” Kayle nổi xung “Tôi chẳng liên quan gì đến anh cũng như cái âm mưu chết tiệt của mấy người hết. Có cần tôi nhắc cho anh nhớ tôi là một sĩ quan quân đội không? Đúng đấy, tôi chỉ có trách nhiệm trả lời và tuân lệnh sĩ quan chỉ huy của mình, Đại tá Moyes ”

    Moyes là con bài tẩy của cô. Ông ta nhất định không để mất Kayle về tay cơ quan tình báo hay bất cứ ai. Nói đúng hơn, ông ta không muốn rời xa con chim nhỏ yêu kiều của mình. Sau hàng tá nỗ lực, cô hy vọng lão già khốn khổ đó sẽ tỏ ra hữu dụng. Một tên cổ trắng như Patt đừng có mơ quay cô dễ dàng như quay dế được. Kayle ngày hôm nay đâu phải viên sĩ quan chân ướt chân ráo đứng giữa Fort Kerak năm nào.

    “Thiếu tá quá lời rồi, đây chỉ là một nhiệm vụ bình thường như hàng trăm nhiệm vụ cô từng làm ở Iraq,” Gã cười cợt “ Không có gì đáng lo cả và Đại tá Moyes sẽ kí bất cứ tờ giấy nào chúng tôi đưa cho ông ta bằng không thì….”

    “Không thì sao?” Kayle hất hàm hỏi “Các anh định đưa ra một đề nghị không thể từ chối chắc?

    “Đâu nhất thiết đến nước đó. Chúng tôi chỉ cần nhắc cho ngài đại tá nhớ bộ gậy đánh gôn giá năm mươi nghìn đô la, chuyến nghỉ mát miễn phí đến Fiji, và những lần ông ta sờ tay vào….”

    “Thôi đủ rồi !” Kayle giận dữ “Sao cái đám mật vụ các anh toàn là lũ khốn rình mò hèn nhát thế.”

    “Thì tôi đã nói mọi người phải diễn tròn vai của mình mà. Chính trị gia phải thủ đoạn, tướng lĩnh cần quyết đoán, binh sĩ thì phải gan góc còn gián điệp lúc nào cũng phải hèn nhát. Một tên gián điệp quả cảm thì chẳng khác gì một người lính hèn nhát cả. Theo như những gì tôi biết, thiếu tá là một người lính giỏi ”

    Rogan là một chiến binh xuất sắc, Fisher và Carrick cũng thế. Nhưng giờ thì họ đang ở đâu nào? Đôi khi cô coi lời khen đó không khác gì điềm gở và rằng có một thực tế là những người lính giỏi không bao giờ chết già.

    Chiếc Nissan rẽ phải và đi thẳng vào tầng hầm. Patt không thích đỗ xe ở bên ngoài vì có quá nhiều cặp mắt dòm ngó và cái áo gã đang mặc ít nhất cũng có giá hai nghìn đô la.

    “Sẽ thật phí phạm nếu làm hỏng nó” Gã tươi cười khi mở cửa xe cho Kayle. Đây là lần thứ ba cô thấy hắn cười và vẫn không thấy có chút thiện cảm nào .

    Hắn dẫn cô đi qua một hành lang sạch sẽ nhưng trống vắng đến kì lạ. Ở cuối đường là một cái thang máy có lính gác hẳn hoi. Kayle biết ngay đoạn hành lang này chỉ dành cho khách VIP hoặc bản thân ngài đại sứ khi có chuyện khẩn cấp.

    “Như tôi đã nói, chúng ta cần giữ bí mật.” Patt nói khi bước vào trong “Giờ thì tôi sẽ để thiếu tá ở phòng chờ. Thiếu tá có ba mươi phút để chuẩn bị cho cuộc gặp.”

    Thang máy đưa hai người lên tầng năm, tầng cao nhất của tòa nhà. Patt dẫn cô vào một phòng có ghế sofa bộc nhung và một cái bàn nhỏ bằng gỗ nằm cạnh bên.

    “Thiếu tá cứ tạm ở đây trong khi tôi đi tìm một bộ lễ phục phù hợp.” Patt nói ròi chỉ tay vào cánh cửa màu đỏ ở góc phòng “ Đó là nhà vệ sinh kiêm phòng chuẩn bị, cô cứ tự nhiên như ở nhà nhé.”

    Nói xong, Patt liền bước ra ngoài, để lại Kayle một mình. Cô lặng lẽ quan sát xung quanh và bắt đầu hành động theo bản năng. Đầu tiên, Kayle kiểm tra bên dưới hai chiếc ghế Sofa để chắc chắn rằng họ không cài máy ghi âm vào. Kế đến, mục tiêu đáng nghi nhất hiện giờ là kệ sách, nơi lí tưởng để lắp camera theo dõi. Con búp bê Nhật mặc Kimono trông đáng ngờ chẳng kém nhưng do Kayle không thể xé toạc nó ra để xem bên trong có gì nên cô đành xoay mặt nó hướng về phía tường. Cái ý nghĩ Patt đang đứng đâu đó ngoài kia và ngắm nghía cô qua màn hình khiến Kayle phát ốm.

    “Có vẻ như mọi thứ vẫn ổn” Kayle lẩm bẩm khi tháo từng cây bút bi trên bàn ra “ Mình đa nghi quá thôi.”

    Phòng tắm rất đẹp và tiện nghi nếu so với diện tích khiêm tốn của nó. Kayle nhìn vào hai chiếc tủ nhỏ trên tường. Trong đó có hai bàn chải còn mới đựng trong túi nylong, một cái cây cạo râu điện kèm kem và xà phòng sau khi cạo râu xong. Phần còn lại là vô số các chai lọ đủ màu sắc được sắp xếp ngăn nắp. Kayle biết chúng là mỹ phẩm hoặc gel tạo kiểu tóc nhưng đa số lại không phù hợp với cô. Nói gì thì nói, căn phòng này vốn được thiết kế cho đàn ông. Hiếm có người đàn bà nào lại ra đường mà không thèm sửa soạn như cô

    Kayle nhìn vào gương và kinh hoàng nhận ra bộ dạng thê thảm của mình. Hai mắt thâm quần do thiếu ngủ còn đầu tóc bết dính vì nước mưa. Cô biết mình cần phải tắm và trang điểm .Rất may là trong tủ có sẵn hộp mascara và cô còn khoảng hai mươi phút nữa.

    Quyết định đi tắm rất sáng suốt. Nước nóng làm Kayle thấy tỉnh táo, gột rửa mọi nỗi phiền muộn và căng thẳng trên người từ hồi lên máy bay ở Okinawa đến giờ. Phần trang điểm hơi khó khăn đôi chút. Kayle băng khoăn không biết chọn kiểu nào. Đậm hay nhẹ, có nên chuốt mascara mắt hay không ? Cuối cùng, cô quyết định chỉ đánh một lớp phấn và dùng kem che đi quầng thâm ở mắt vì chỉ còn đúng mười phút là đến giờ.

    Đúng hai mươi phút sau, Patt trở lại như đã hẹn trước. Kayle nghe thấy tiếng bước chân hắn dần dần tiến lại cửa phòng tắm

    “Tôi mang trang phục đến cho thiếu tá đây.” Hắn nói qua cửa phòng.

    “Anh cứ để nó trên Sofa.” mặc dù cô đang mặc áo choàng tắm nhưng Kayle không hề muốn hắn vào trong này. Linh tính mách bảo rằng dưới cặp mắt xanh màu ngọc đáng sợ đó, cô trông chẳng khác gì đang trần truồng.

    Hắn im lặng và làm theo. Kayle đợi hắn đi khỏi và đóng cửa lại thì mới dám bước ra.

    “Thánh thần ơi! Cái quái gì thế này.” Kayle thốt lên khi nhìn thấy bộ quân phục “Patt ! Như vậy thế nào?”

    “Có vấn đề gì sao?” Patt mở cửa bước vào, gương mặt không cảm xúc như thể đoán trước được mọi chuyện “Theo tôi thấy mọi thứ đều ổn cả” hắn liếc nhìn Kayle rồi nhếch mép cười và điều đó càng khiến cô điên tiết hơn.

    “Đồng phục hải quân?” Cô chỉ ngón tay vào bộ quân phục trắng nằm trên ghế “Anh đùa tôi chắc.”

    “Màu trắng tạo ra cảm giác thân thiện và hơn nữa, đây là bộ đẹp nhất trong tất cả binh chủng.” Hắn thủng thẳng đáp “ Tôi chắc cô sẽ trông rất tuyệt khi mặc nó.”

    “Cảm ơn vì lời khen nhưng trong hồ sơ ghi rõ tôi thuộc lục quân, nếu như anh có đọc. ”

    “Thế thì lại càng hay, như tôi đã nói….”

    “Càng ít người biết tôi là ai càng tốt !” Kayle cắt ngang “Thề có chúa Patt, anh còn dám mở miệng nói câu đó thêm lần nữa thì đừng có hối hận nhé. Tôi sẽ không vận cái bộ đồ này lên người đâu!”

    “Còn lựa chọn khác không nào?” Hắn tựa lung vào tường, nhìn Kayle đứng chết trân trong bộ áo choàng tắm “Hay cô định mặc cái đó?”

    “Không” Kayle bất lực trả lời. Cô quả là không còn lựa chọn nào khác.

    Được lắm, lần sau sẽ đến lượt cô trả đũa.

    “Tốt. Vấn đề đã được giải quyết. Cô còn năm phút nữa.” Patt ngạo nghễ đáp và bước ra ngoài.

    Kayle lầm bầm tức tối khi mặc đồ vào. Quần rộng hơn cô một size trong khi áo thì quá chật. Khi cài xong cái nút cuối cùng trong bốn cái, Kayle gần như muốn nghet thở. Khăn quàng cổ làm cô bối rối hơn cả vì không biết phải thắt sao cho đúng. Sau một hồi lục lọi trí nhớ về những sĩ quan hải quân cô từng gặp trong đời, Kayle mới thực hiện thành công được.

    “Được rồi” Patt nói khi thấy Kayle bước ra “Đi theo tôi.”

    Hắn dẫn cô đi ngang phòng hành chính, nơi các nhân viên đại sứ quán đang hăng say đọc từng văn bản trước khi đóng dấu vào. Có một cái bàn còn trống ở cuối dãy và Kayle không khỏi thèm thuồng ước gì cô đến đây chỉ để lắp vào cái bàn trống đó. Mọi chuyện sẽ đơn giản và nhẹ nhàng làm sao, không bí mật chết người, không máu me và ít nhọc sức biết chừng nào.

    “Đây là phòng cấp thị thực. Bộ phận nhộn nhịp nhất ở đây” Patt giải thích “Và cũng là chỗ nguy hiểm nhất”

    Một số người ngước mắt lên nhìn Kayle khi cô đi ngang qua, nhưng sau đó lại nhanh chóng cúi mặt xuống trước khi cặp mắt ranh ma của Patt kịp lia qua họ. Dù cái tay này giữ chức vụ gì thì hắn cũng phải có quyền lực rất lớn. Nhóm lính gác cổng, người đứng gác cầu thang máy và cả những nhân viên này nữa, tất cả đều sợ hãi hắn.

    “Ngài Hammer” Một người gọi Patt từ đằng sau “Ngài Henrich muốn hẹn Đại sứ ăn trưa.”

    “Tôi đã nói ngài đại sứ không tiếp ai nội trong ngài hôm nay rồi mà” Gã nói bằng giọng nặng chịch như thép “Bảo ông ta khi khác đi.”

    “Nhưng…. Tôi sẽ nói sao với ông ấy đây?” Người nhân viên lúng túng đáp “Hôm qua ngài đại sứ đã chấp thuận lời mời rồi.”

    “Đó là chuyện của ngày hôm qua” Gã gầm gừ “Bảo lão ấy đại sứ bận công việc hoặc bị đau bụng, nhức đầu, cảm cúm gì đó. Chẳng lẽ anh ngốc đến nổi không tìm ra lí do sao?”

    Người nhân viên hoảng hốt gật đầu rồi tức tốc chạy về bàn làm việc.

    “Thế đấy, một lũ vô dụng. Cô có đồng ý không thiếu tá?” Gã hỏi “ Đôi lúc, cô cần phải dùng roi thay vì kẹo ngọt. Cô không tưởng tượng nổi tình hình tồi tệ ra sao khi tôi mới đến đây đâu.”

    Chắc chắn là dễ chịu hơn và sáng sủa hơn rồi, Kayle nghĩ thầm. Cô chợt thấy tội nghiệp cho những người ở đây khi Patt là kẻ nắm cương.

    Hai người tiếp tục bước đi và dừng lại trước cửa một thang máy khác.

    “Vậy mà tôi cứ tưởng tầng năm là cao nhất.” Kayle nói với vẻ dửng dưng, không ngạc nhiên. Các đại sứ quán luôn luôn có chỗ cho những đoạn hành lang ngầm dưới lòng đất, cửa sập, và những bí mật chết chóc khác từ hồi chiến tranh lạnh.

    Patt lờ đi câu bình phẩm của cô rồi quẹt thẻ an ninh trên ngực lên máy quét. Cửa được mở ra và họ bước vào trong.

    “Giờ anh có thể nói cho tôi biết chuyện gì đang diễn ra được chưa ?”

    “Cái đó sẽ do ngài đại sứ quyết định.” Hắn lặp lại một cách máy móc.

    Khu vực dành cho ngài đại sứ rất rộng, đầy đủ tiện nghi với phòng tắm, phòng khách và phòng làm việc riêng biệt. Kayle nhìn xung quanh và đi đến kết luận : Người chủ sở hữu của nó rất yêu thích đồ cổ Hy lạp La mã. Họa tiết trên những cái chậu hoa đặt ở mỗi góc phòng gợi cho cô nhớ lại những buổi học tiếng Latin ngày trước. Thầy Sobel cũng có những cái y hệt như thế tuy chỉ là đồ giả. Cạnh cửa phòng làm việc là bức tượng bán thân của một danh nhân La Mã. Ceasar ? Không trông anh ta trẻ quá. Có thể đó là Cato hoặc Octavius.

    Khi cô định hỏi Patt về danh tính bức tượng thì cánh cửa đột nhiên bật mở, một người phụ nữ xinh đẹp bước ra.

    “Chào cô , Celie.” Giọng Patt có vẻ niềm nở hơn “ Ngài đại sứ vẫn còn ở đó chứ ?”

    “Vâng ông ấy đang ở trong phòng. Vừa ăn sáng xong.” Celie nói.

    Celie có dáng người thanh mảnh và gương mặt hao hao loài chó Spaniel ( một loài có đôi tai dài rủ xuống và bộ mặt rầu rĩ trông khá dễ thương), hơi buồn, còn mắt cứ nheo lại như gặp phải nắng gắt.

    “Chúc may mắn nhé.” Celie nói và Kayle có cảm giác cô ta đang nhắn nhủ với cô hơn là với Patt.

    “ Cái gì cơ…”

    “ Thôi đi nào, thiếu tá “ Patt giục “ Đừng để ngài ta đợi.”

    Ngài đại sứ ngồi sau bàn làm việc, một tay cằm kính lúp, mắt chăm chú nhìn vào một vật nhìn giống đồng xu được đặt trong một cái hộp nhỏ bằng gỗ. Ông ta là một người đàn ông ngoài bốn mươi, không cao lớn nhưng vừa vặn. Với cái đầu hói và cặp kính cận ngộ nghĩnh, ông dễ làm người khác lầm tưởng lầm mình là một tay săn đồ cổ hơn là đại sứ Hoa Kỳ.

    “Thiếu tá Wilson !” Ông bỏ kính lúp xuống bàn và chìa tay ra “ Mời ngồi, mời ngồi.”

    Kayle thận trọng ngồi xuống, còn Patt nhanh nhảu đến đứng cạnh ngài đại sứ.

    “Cô trong xinh đẹp hơn trong ảnh nhiều. Tôi chắc chắn con tàu nào cũng vinh dự lắm mới có được sự phục vụ của Thiếu tá.”

    “Xin lỗi ngài đại sứ, tôi không…” Kayle thừa biết chuyện này sớm muộn gì cũng xảy ra.

    “Oh , vô ý quá. Tôi lại quên mất phép lịch sự rồi. Tôi là Dominic, Dominic Hobson, đại sứ hoa kỳ tại Nhật bản” Ông ta liếc nhìn Patt và mỉm cười “ Còn đây là Pattick Hammer, trợ lí của tôi. Tôi nghĩ anh ta đã giới thiệu về mình rồi, đúng chứ ? Pattrick là con người lịch sự mẫn cán ”

    Kayle nhìn Patt và cười khẩy, hắn đáp trả lại với cái nhìn lạnh như băng.

    “Vâng, anh ấy rất tuyệt “ Cô tươi cười đáp “ Xin lỗi ngài, tôi có một vài câu hỏi cần ngài trả lời. Như vậy có được không ?”

    “Vào vấn đề chính luôn à?” Ông ta đập hay bàn tay vào nhau “ Tốt lắm, tốt lắm! Tôi thích phong cách nhanh gọn của quân đội. Cô cứ tự nhiên”

    Kayle định nhoài người về phía trước nhưng cái áo chật chội làm cô phải tựa lưng vào ghế nếu không muốn bị một phen xấu mặt để đời.

    “Tôi có thể giúp gì được cho ngài ?”

    Dominic đột nhiên nghiêm mặt lại, sự sôi nổi tan nhanh vào không khí. Ông từ tốn đứng dậy rời khỏi bàn, trầm ngâm trước tấm khảm cổ miêu tả một trận đánh thời xa xưa treo trên tường. Kayle biết tấm khảm đó, ở nhà cha cô cũng có một bản sao.

    “Cô biết đây là ai chứ, thiếu tá” Ông ta chỉ tay vào tấm khảm “ Người đàn ông vĩ đại nhất lịch sử. Trong chiến tranh cũng như trên bàn đàm phán.”

    “Alexanderos.” Kayle gật gù “ Trận Gaugamela”

    Con trai thần Zeus, Vua của Maccedonia, Vua của tiểu Á, Pharaoh Ai Cập và Người chinh phục đế chế Ba Tư. Danh hiệu của Alexanderos có lẽ phải dài như sớ tấu lúc ông ta còn sống. Binh lính thần tượng ông, học giả si mê ông, còn cha của Kayle thì cứ ngỡ mình đã sinh ra một Alexanderos thứ hai là Louie. Nghĩ lại chuyện đó, Kayle thấy hơi buồn cười. Không biết cha cô có nhớ chuyện gì đã xảy ra với Philipos không nhỉ (2) ?

    “ Tại Gaugamela, Alexanderos đã ra một quyết định lịch sử. Ông vẫn kiên quyết chiến đấu với Ba Tư dù họ đông hơn và Darius sẵn sàng giảng hòa. Vị hoàng đế mơ về những vùng đất rộng lớn trải dài từ biển Agean đến Ấn Độ, thành Babylon và kho báu nhiệm màu trong khi các tướng tá lại nài nỉ ông dong buồm trở về nhà. Nếu mọi chuyện diễn ra theo hướng khác, Alexanderos chỉ là một dòng cước chú trong sách sử nhưng… cuối cùng chúng ta có Alexanderos Đại Đế.”

    Alexanderos là một tên ngốc, Kayle nghĩ thầm, ít ra ông ta đã có thể sống đến sáu mươi tuổi và nhìn đàn con bò lăn trên đống của cải thay vì bỏ mười mấy năm đi từ hoang mạc này sang hoang mạc khác để ngủ trong những mái lều dựng tạm, và đi ngoài bằng một cái lỗ mới đào. Tuy đúng là thế, Kayle cũng không bất lịch sự đến nổi nói ra điều đó.

    “ Chúng ta cũng đang đứng ở ngã ba đường như Alexanderos năm nào” Ngài đại sứ tiếp tục “ Chỉ có tiến hoặc lùi, trở nên vĩ đại hoặc thành dòng cước chú.”

    “ Đúng là vậy” Kayle chán nản đáp cho có lệ. Cô đã nghe quá nhiều bài thuyết giản như vầy từ cha mình “ Nhưng tôi vẫn chưa hiểu ý của ngài là gì.”

    “ Chính phủ Hoa Kỳ vừa được phép tiếp cập đặc khu.” Patt đột ngột chen ngang “ Chúng ta sẽ cử một phái đoàn ngoại giao đến thủ đô của cái nơi gọi là “ Đế Chế” đó. Thiếu tá là một trong ba mươi người Mỹ đầu tiên đặt chân đến thế giới mới.”

    “ Được rồi. Vậy tôi là ai đây thưa ngài đại sứ ?”

    “ Tùy viên quân sự, đại diện cho quân đội Hoa Kỳ “ Ông ta đáp
     
  9. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 6.1

    NGƯỜI ĐÀN ÔNG

    Lev Abramovich quan sát những người khách cuối cùng rời khỏi quán và không khỏi mừng thầm vì điều này. Ông vốn ghét sự xô bồ, huyên náo của phố thị và dành hơn phân nửa cuộc đời lảng tránh chúng. Lớn lên giữa miền Đông, nơi thảo nguyên trải dài hút tầm mắt thì bị đóng khuôn trong một rừng bê tông đối với Lev là một việc mất tự nhiên. Đà Nẵng chỉ là một thành phố nhỏ nếu so với Moscow hay St.peterburg nhưng như vậy cũng đủ làm ông thấy ngao ngán..

    “Ngài có muốn dùng thêm gì nữa không ?” Người phục vụ đến cạnh bàn và hỏi Lev bằng tiếng Anh.

    “Không, nhưng tôi nếu được thì hãy cho tôi một đĩa lạc rang nữa.” Lev ngẫm nghĩ một lúc rồi trả lời “ Không, hai đi.”

    “Còn gì nữa không ? Một chai Volka chẳng hạn.” Anh ta gợi ý “ Chúng tôi có loại Volka ngon nhất, hàng Nga chính cống.”

    “Tôi không uống rượu” Đã từng uống thì đúng hơn “ Cho tôi dĩa lạc rang.”

    “Thật chứ ?” Người bồi bàn tỏ vẻ không tin và anh ta có lí do nên thế. Bao nhiêu người Nga bạn gặp ăn chay và nói không với Volka ? “ Thế còn quí bà đây dùng gì nào” Anh ta quay sang hỏi người đàn…. Cô gái ngồi cạnh ông.

    “Tôi á ?” Cô gái ngạc nhiên “Oh… coi nào anh yêu, kết thúc bữa tối lãng mạn này bằng chút rượu thì đâu có sao” Cô ta nũng nụi nói “ Cho một chai Black Bear nhé anh bồi. “

    Khi người bồi đi khỏi, Lev tặc lưỡi bảo :

    “Lẽ ra cô đừng nên làm vậy, Miska”

    “Làm gì mới được ? Nếu anh không gọi đồ uống thì rất bất lịch sự lắm đấy. Ai đời đi vào cái quán lớn đến chừng này mà ăn toàn toàn lạc rang bao giờ.”

    “Tôi biết.” Lev thở dài. Hoàng đã dạy cho ông biết kha khá về lề thói ở Việt Nam. Chỉ có điều đa số chúng lại không có mấy tác dụng với một người hiếm khi chịu ló đầu ra đường như Lev “ Đừng gọi tôi là anh yêu nữa. Chúng ta đã đồng ý đóng giả thành hai đồng nghiệp đi ăn khuya rồi mà.”

    “Anh không thích tôi là vợ anh sao ?” Miska nở một nụ cười ranh mãnh, những lọn tóc nâu tràn đầy nhựa sống xõa ngang vai cô ta. Như một đóa cúc dại mọc giữa rừng, luôn luôn là vậy. Lev thừa nhận nhưng Miska lại chỉ bằng nửa tuổi ông và lúc nào nhìn cô ta, Lev cũng nhớ về một người khác

    “Không phải chuyện đó. Nếu họ nghĩ chúng ta là vợ chồng, họ sẽ đặt câu hỏi kiểu như anh chị có con chưa ? Hai người gặp nhau ở đâu ? Nhà trong thành phố hay ngoại ô hoặc cái ghế salon trong phòng khách màu gì chẳng hạn. Tôi dám chắc một trong hai câu trả lời của chúng ta sẽ mâu thuẫn với người còn lại.”

    “Xì.. anh lo xa quá đấy !” Miska nguýt dài, khoanh tay lại dận dỗi “ Chẳng vui tí nào cả.”

    Đến tận lúc này, Lev vẫn không hiểu sao cô nàng có thể vào Specnaz được. Suốt hai mươi năm lê cái mông từ Chechnya sang Bosina và mới đây là Urkanie, Lev đụng mặt đủ loại người. Những tay Tarta mắt hí láu cá, đám Cossack râu ria bồm xồm lúc nào cũng ngập mùi cá trích ngâm rượu, dân anh chị đầu cạo nhẵn nhụi, chằng chịt hình xăm. Những thành phần đê tiện nhất theo như Lev nhận định. Một số ông có thể coi là bạn bè, phần còn lại thì không được dễ chịu như vậy. Nhiều lúc Lev có cảm giác đội Specnaz chỉ là một nơi để người ta tống những tên điên và nát rượu nhất đất nước vào một khi nhà tù không kham nổi chúng.

    Với một thế giới đầy mùi máu và mùi Volka như thế thì Miska trông y hệt một vệt màu tươi sáng lạ lẫm. Bốn năm trước, Lev có một phen tròn xoe mắt kinh ngạc khi thấy cô ta đứng trước cửa phòng trong bộ quân phục rộng thùng thình cùng cái mũ nồi bé tí, tươi cười và bảo “ Xin chào, tôi là Miska, hân hạnh được làm quen.”.

    Lev phải gọi vài cú điện để xác nhận chuyện này và mấy tháng sau đó ông lúc nào cũng đinh ninh có một sự nhầm lẫn tai hại nào đó đang diễn ra ở đây.

    “Tôi chưa quyết định ngày mai mình sẽ đi đâu, thành phố này có nhiều điểm tham quan quá mà chúng ta chỉ còn có hai ngày” Cô ta lấy một tấm bản đồ nhỏ trong túi áo ra và ngẫm nghĩ “Lev, anh muốn thăm thủy cung không ?”

    “Tôi muốn ở lại khách sạn.”

    “Vậy thì đi lên núi .Ở đây có đến năm ngọn núi và tôi nghe nói trên mỗi đỉnh núi lại có một ngôi đền. Họ đồn rằng chúng linh lắm.”

    “Linh thiêng à ?” Lev chợt nghĩ đến những thầy tu cùng cái móng chân thánh tích năm nào rồi không nhịn cười được. Nó cũng được coi là vô cùng linh thiêng, linh thiêng đến nổi tu viện phải cất cái móng sấy khô đó trong một cái rương nhỏ bằng vàng và hiếm khi trưng ra cho người ta xem. Lạ ở chỗ khi ông hỏi cái móng đó là của vị thánh nào thì tuyệt nhiên mọi người lại ú ớ không biết “ Tôi không ngờ cô cũng tin mấy trò đó đấy Miska”

    “Anh không tin có ai đó ở trên kia đang quan sát chúng ta sao ?” cô ta ngước nhìn lên trần nhà “ Tôi đã… gặp ngài ấy một lần.”

    “Chúng ta đã nói chuyện này rồi” Lev chán nản thở dài “ Cô bị sốc và mất nhiều máu. Những gì cô thấy chỉ là ảo ảnh, đơn giản vậy thôi.”

    Miska bị bắn vào buổi trưa ngày hai tháng sáu ở Bosina. Một vụ đột kích thất bại . Họ đã dành cả tuần lễ để rình mò, tính toán từng hướng tấn công, trinh sát từng con đường và ụ hỏa lực nhưng cuối cùng lại bỏ quên tay bắn tỉa nấp trên gác chuông nhà thờ. Belov chết ngay sau loạt đạn đầu, viên thứ hai găm thẳng vào ngực Miska. Lev vội vàng hạ lệnh rút lui và cả đội phải chạy thoát thân qua đầm lầy với người đồng đội thoi thóp trên lưng. Những đến năm lần Lev cứ tưởng cô nàng đã trút hơi thở cuối cùng nhưng không, Miska bằng cách nào đó vẫn còn sống khi họ chở cô ta đến bệnh viện. Một phép màu, ý chúa hoặc do tay nghề của bác sĩ. Lev không chắc lắm nhưng Miska tin cả ba và bắt đầu đi lễ nhà thờ từ đó.

    “Dyor tin tôi. Anh ấy bảo là may mắn lắm mới có cơ hội gặp Chúa được và tôi phải rất đặc biệt.”

    “Cái tay đó sẽ tin kì lân có thật miễn là hắn tìm được đường chui vào….” Lev khựng lại. Dù sao thì ông cũng không nên thô thiển quá mức trước mặt một cô gái “Gã làm vậy để lấy lòng cô thôi.”

    Cũng may là Dyor đã giải ngũ và ông cũng đỡ phải đau đầu. Miska có lắm kẻ theo đuổi, thật khó rời mắt khỏi bộ váy xanh chấm bi và nụ cười lém lỉnh đáng yêu đến nhường ấy. Lev không biết cô ta có cố ý làm vậy hay không nhưng rõ ràng là nhiều năm qua, ông luôn phải đóng vai con chó canh cửa bất đắc dĩ, gầm gừ xua đuổi những tên trồng cây xi quanh cô nàng. Lev làm vậy chẳng qua là vì nhiệm vụ. Có một bóng hồng trong đơn vị là ý tồi, chẳng sớm thì muộn, sự ghen tị sẽ phá hoại tình đoàn kết giữa những thằng đàn ông nên tốt nhất là không ai chiếm được Miska hết để khỏi sinh chuyện. Hơn nữa, Lev thấy lo cho người bạn chỉ bằng nửa tuổi ông. Dù bên ngoài cô nàng có vẻ tự tin, lạc quan, đôi khi có phần hơi liều mạng nhưng xét cho cùng vẫn là một cô gái trẻ. Không hiểu sao nhưng Lev luôn có cảm giác cái vẻ ngoài đó chỉ là những cái khiên bằng giấy mà Miska tự dựng lên để che đậy cho một tâm hồn mong manh dễ vỡ. Dù chỉ là nghi vấn nhưng phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh nhiều.

    “Anh lúc nào cũng có ác cảm với Dyor.”

    “Gã nói nhiều quá và nó làm tôi nhức đầu.”

    “Vậy anh cũng ghét luôn tôi rồi còn gì ? Lúc còn nhỏ, bạn bè bảo tôi là đứa lắm mồm. Mà tôi có lắm mồm đâu nào, tôi chỉ nói những thứ cần nói và kể chuyện tiếu lâm thôi. Tanya mới là đứa lắm mồm. Anh chưa gặp nó lần nào , phải không ? Tất nhiên là không rồi, nó chuyển từ Tula đến cùng gia đình, sau đó lại chuyển nhà thêm vài lần nữa và cuối cùng cưới phải một tay buôn gỗ ở tít tận miền đông. Năm ngoái nó gọi cho tôi than thở đủ kiểu, nào là xứ sở gì mà điều hiu thế không biết, chồng nó đi cả ngày bỏ nó ở nhà một mình và nó phải đi ngựa đến thị trấn để mua thực phẩm mỗi tháng vì đường xá tệ đến mức ô tô không chạy được….. ”

    Lev cứ để mặc cho Miska huyên thuyên như mọi khi. Ở nhà, vợ ông cũng chả thua gì cô nàng cả. Hình như bản năng không cho phép phụ nữ giữ im lặng được quá lâu thì phải.

    “ Thế đấy, vậy mà tôi đâu có..” Miska khựng lại khi nhìn thấy nụ cười trên gương mặt Lev, má cô ta ửng đỏ lên “ Tôi lại nói … quá nhiều rồi.”

    “ Không đâu” Lev phủi tay “ Không hề..”

    Sau khi ăn hết ba đĩa lạc rang và uống cạn chai rượu, hai người mới chịu rời khỏi quán. Gần nữa đêm, những cửa hiệu ven đường rục rịch đóng cửa, khách tản bộ cũng vơi dần đi và chẳng mấy chóc chỉ còn lại họ trên đại lộ rộng thênh thang. Lev nhìn trước nhìn sau thì không thấy chiếc taxi nào ở gần cả.

    “Đành cuốc bộ thôi.” Miska gợi ý.

    "Xa đấy, khách sạn ở phía bên kia bờ sông.”

    “Trở ngại của anh đấy à ? Coi nào.”

    Nếu là ngày bình thường, hai kilomet không là vấn đề với Lev nhưng nếu dành cả ngày thứ bảy rong rủi với Miska thì đến vận động viên điền kinh cũng phải lắc đầu. Hai đầu gối ông mỏi nhừ còn hông thì đau nhức. Cô ta đi mà cứ như chạy vậy, hễ Lev bước một bước thì cô ta đã bước hai hoặc ba. Thật là không hiểu nổi Miska đào đâu ra sức khỏe quái đản đó và ngay cả lúc này, cô nàng chẳng hề tỏ ra chút mệt mỏi.

    “Có lẽ tôi già rồi, trái tim cũng cần thay pít- tông” Lev nói

    “Lại trích dẫn Solokop nữa” Miska nhíu mày “Tôi phải thành thực với anh là tôi chẳng ưa tác phẩm của ông ta chút nào.”

    “Tại sao?”

    “Chúng luôn có cái kết buồn thảm và đó chính là lí do tôi không thích. Một kết thúc viêm mãng chẳng phải tốt hơn sao ?”

    “Ông ta là nhà văn hiện thực chứ đâu phải người viết truyện cổ tích. Cuộc đời của chúng ta phản chiếu qua những gì ông ấy viết.”

    “Không có gì hay ho khi đọc về chuyện buồn của người khác cả. Chẳng nhẽ khi tôi bị đứt tay thì nên đọc câu chuyện của một người cụt chân và thấy mình còn may mắn chán? ”

    “Đôi khi một kết thúc buồn là không thể tránh khỏi đâu, Miska. Cũng như cuộc đời vậy.”

    Trong thoáng chốc, Lev nhìn thấy lửa tóe lên trong đôi mắt màu lục của cô nàng.

    Cô ta đang nổi giận sao?

    Cho đến giờ phút này, ông chưa từng chứng kiến Miska nổi giận, rầu rĩ cũng như than khóc. Ngay cả trong tình huống hiểm nghèo nhất, cô nàng dường như chỉ biết cười thật lớn và nhảy chân sáo mà thôi.

    “Nếu đã biết trước kết cuộc” Cô ta nói bằng một cái giọng lạnh lẽo đủ khiến tim phổi người ta đông cứng “Thì chúng ta chiến đấu vì cái gì đây?”

    Dứt câu, Miska quay mặt và lê bước đi, bỏ lại Lev đứng đó chết trân, tự lầm bầm chửi rủa rằng tại sao ông ngu đến thế.

    Trời đất ơi ! Mình vừa làm cái gì vậy ?

    Lev vội chạy theo sau với sự hối lỗi pha lẫn bối rối. Ông đã chọc giận một người con gái và không biết phải xử trí ra sao. Tất nhiên ông cũng biết vài mánh mung để làm dịu đi cơn bão trong lòng thiếu nữ nhưng đó là chuyện của hai mươi hai năm về trước, khi Lev còn trẻ và đang theo đuổi vợ mình. Bây giờ, ông chỉ là một lão già với những vết nhăn trên vần trán và những vết thương không bao giờ lành.

    “Có thể ngày mai tôi sẽ đi thăm thủy cung cùng cô” Lục lọi lại trí nhớ, Lev cho rằng đây là cách tốt nhất “ Hoặc lên núi cùng được.”

    Miska không trả lời, tay xộc vào túi quần, mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước, nơi những ngọn đèn đường hắt ánh sáng nhàn nhạt của mình lên những mái nhà nửa cũ kĩ nửa mới mẻ. Một số ngôi nhà trong thành phố được xây thời tiền chiến, một số có thể còn lâu hơn và Lev không thể đoán được tuổi của chúng.

    “Hay là ta đi xem múa rối nước. Hoàng bảo tôi nếu không xem thì thật là phí khi đặt chân đến Việt Nam” Ông đã trông thấy tờ giấy dán trên bước tường đối diện khách sạn sáng nay. Một tờ áp-phích màu mè với năm con búp bê trong trang phục truyền thống đứng nắm tay nhau. Lời quảng cáo chỉ gói gọn trong chữ “PUPPET IN WATER” to đùng màu vàng nên thoạt đầu ông không hiểu chương trình văn nghệ này là gì. Chẳng lẽ người ta vừa bơi vừa điều khiển rối ? Nếu đúng là thế thì Lev cũng mong chứng kiến cảnh tượng đó một lần trong đời.

    Miska luôn có hứng với những thứ kì quặc. Lúc còn ở phía bắc, cô ta đòi đi xem hát Opera trên sông và nhất quyết kéo ông đi cùng cho bằng được. Đó là một kỉ niệm tồi tệ, ông không hiểu tiếng Việt đã đủ khổ, lại còn bị nhồi trong một đám đông đứng chen chúc nhau bên bờ hồ. Tiếng người cười nói, tiếng ò e từ dàn nhạc và giọng nữ trưởng cao chót vót khiến ông muốn phát điên lên.

    “Có ai nói cho anh biết là anh an ủi dở tệ chưa, Đội trưởng ?” Miska hỏi, phân nửa sự sôi nổi đã quay về “ Thành thật với nhau đấy, Lev ạ, tôi cảm thấy thương cảm cho người phụ nữ của anh.”

    “Cô ta quen chuyện đó rồi” Lev nở một nụ cười rộng “Mỗi lần tôi khóc, bố tôi lại tặng cho vài bạt tay và thế là tôi nín bặt luôn nếu không muốn chết. Chúa ơi, ông già đánh đau như trời giáng. Quân đội thì càng tệ hơn, cách an ủi của họ có thể khiến tôi chết thật.”

    “Tataya dạo này khỏe chứ?”

    Lev từng đưa Miska về nhà gặp vợ ông vài lần và kể từ đó hai người luôn xem nhau là tri kỉ. Quả thật, bất chấp tuổi tác, vợ ông và Miska trông như chị em. Tóc nâu hạt dẽ, mắt màu hổ phách, miệng nói không ngừng và hay ngâm nga bài Gió Cuốn. Đó là chưa kể cả hai đều từ St.peterburg . Ông cũng mừng vì Tatanya có thêm một người bạn đồng hương, vùng Ryzan quá hẻo lánh với một tiểu thư cố đô.

    “Như mọi khi thôi, cô ấy vừa mới tậu một cây đàn Piano từ hiệu đồ cũ. Lần tới đến chơi cô sẽ được thưởng thức các tác phẩm của Bach hoặc Mozart”

    “Anh thật là may mắn khi có được cô ấy. It ra anh có một ngôi nhà, một chỗ để về”

    Câu nói đó có gì đó dai dứt, cứ như một vết thương cũ bất ngờ rỉ máu. Lev chợt nhớ ra là ông không biết gì về cuộc sống dân sự của người đồng nghiệp. Miska không nhắc nhiều đến thời gian trước khi gia nhập quân đội. Cô ta đến từ St.Peterburg thì chính xác, ông đã xem kĩ hồ sơ quân nhân vào ngày họ gặp mặt, nhưng có vài thứ rất kì lạ. Mẹ của Miska tên Antonia Benzi nhưng họ của cô ta lại là Galkin, và chỗ điền tên cha thì lại để trống. Lev đoán rằng có khả năng Miska là con nuôi, nhưng thường thì con nuôi hay lấy luôn họ của gia đình nhận mình về. Ngoài mấy thứ đó ra, tất cả đều mù mờ. Khi đến kì nghỉ phép, Miska luôn trở về St.peterburg vài ngày rồi quay trở lại nhưng …

    “Thế còn cô thì sao?” Có vẻ đây là lúc thích hợp để Lev làm kẻ tọc mạch.

    Khi Lev vừa dứt lời thì Miska đột nhiên quay người lại và đặt một ngón tay lên môi ông, nhẹ nhàng như một nụ hôn.

    “Suỵt...” Cô ta thì thầm “Phụ nữ luôn có bí mật cho riêng mình.”

    Cô nàng cười cợt rút tay lại rồi rảo bước đi vô tư lự về phía trước, không gian trùng xuống một quãng, tiếng giày của họ nện lộp cộp trên vỉa hè. Lev đứng trầm ngâm, cảm nhận hơi nóng trên môi tan dần vào hơi lạnh. Không hiểu sao, ông lại cảm thấy thoải mái vô cùng.

    “Đó có phải là một nụ hôn không ?” Ông buộc miệng hỏi

    “Gì cơ ?” Miska gọi lại. Cô nàng đã đi cách ông được một khoảng khá xa với cái tốc độ dị hợm như mọi khi “ Anh nói lại cho tôi nghe xem”

    “Không có gì!” ông nói to hơn bình thường để Miska nghe thấy “Nhìn từ đằng sau, trông cô duyên dáng hơn nhiều”

    Miska nở một nụ cười tươi rói :

    “Tôi chính thức rút lại lời nhận xét ban nãy nhé. Thật sự anh cũng không tệ lắm đâu, Lev”

    “Cảm ơn cô” Lev nói



    Luôn luôn là một đóa cúc dại mọc giữa rừng, luôn luôn là vậy
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/12/18
  10. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 6.2

    LEV

    Mới sáng sớm, chuông điện thoại trong phòng Lev rung lên. Ở đầu dây bên kia, cô tiếp tân cố giải thích cho Lev bằng thứ tiếng nga nửa nạc nửa mở rằng có một người đàn ông tên Anton đang muốn gặp ông ở sảnh. Do qui định của khách sạn không cho phép cô tiết lộ số phòng của khách hàng nên Lev phải lê mông xuống tầng trệt. Ông không ngạc nhiên khi gặp Dimitri Dimitrov ở đó, anh ta đứng tựa lưng vào quầy, dưới chân là một cái vali màu đen. Tóc của Dimitri đã mang màu muối tiêu từ hồi hai người biết nhau ở Bosina nên mọi người thường gọi vui cậu ta là "ông già" vì quả đầu kì cục đó .Sau mười lăm năm, tóc cậu ta chẳng thay đổi là bao, chỉ có gương mặt là trông như một ông già thật sự.

    Ông mời người bạn cũ ăn sáng vì Dimitri nói mình chưa có gì bỏ vào bụng từ trưa ngày hôm qua. Họ chén hết sáu cái xúc xích xông khói, bốn quả trứng và hai cái bánh táo ngon lành trước khi vào việc chính. Cuộc trò chuyện bắt đầu với cái xích đu Dimitri tặng ông nhân ngày cưới, chẳng hiểu sao mà mỗi lần họ gặp nhau thì cái xích đu đó luôn xuất hiện. Người bạn cũ tỏ ra rất hài lòng khi nghe món quà của mình vừa được phết thêm một lớp dầu mới để chống mối mọt vào tháng trước. Sau đó Dimitri bắt đầu nói về Tataya và tình bạn khắng khít giữa anh ta và hai vợ chồng ông. Nghe đến đấy, Lev liền chen vào.

    "Tôi vẫn chưa hiểu ý anh, Dimitri."

    Dimitri Dimitrov im lặng một lúc rồi đặt điếu thuốc lên môi, rít một hơi dài.

    "OKP-1 đã có một thời gian dài chịu ảnh hưởng của Tổng cục An Ninh và Tổng Cục An Ninh nhận lệnh trực tiếp từ điện Kremlin. Bất cứ phi vụ nào do OKP-1 thực hiện đều ở mức độ bảo mật cao nhất" Anh ta nói, khói lờ lững quây xung quanh có mùi cà phê rang " Lev này, tôi với anh là chỗ quen biết, vợ anh cũng rất quý tôi, tôi thậm chí còn là cha đỡ đầu của con bé nhà anh nữa nên những gì tôi sắp nói ra anh nên lắng nghe thật kỹ vào."

    "Được rồi. Tôi đang nghe đây" Ông gật gù " Để xem chuyện nó nghiêm trọng đến mức nào mà anh lại phải cất công sang tận đây."

    "Ngày mai, họ sẽ liên lạc với anh."

    "Họ? Tổng Cục á?" Lev ngạc nhiên. Cục chưa một lần tiếp xúc trực tiếp với ông hay với bất kì thành viên nào khác trong lực lượng. Theo thủ tục, trung tướng Boris trực tiếp nhận lệnh, kế đến mệnh lệnh phải đi qua phòng ban tham mưu trước khi đến tay Lev.

    "Chứ anh nghĩ còn ai vào đây nữa ?" Dimitri nói một cách dửng dưng. " Đó chính là lí do tôi ở đây, anh bạn già ạ."

    "Anh là người liên lạc của tôi ư?" Lev hỏi mặc dù ông không cho là vậy.

    "Không. Chúng ta không hề có cuộc trò chuyện này. Nhớ đấy." Gã đầu muối tiêu tặc lưỡi " Để khỏi thắc mắc, tôi cũng giải thích cho anh luôn. Tôi đang trên đường từ Peru về Nga, Đà Nẵng là điểm quá cảnh đầu tiên. Tôi nhân cơ hội chạy đến đây tìm anh trước khi họ đến."

    "Tại sao mà..." Lev khựng lại. Ông cầm ly nước chanh lên và uống. Đường hơi bị nhiều so với khẩu vị của ông. "Anh cứ nói tiếp đi."

    Tốt nhất là không nên tò mò chuyện vì sao Dimitri biết đồng nghiệp của anh ta sẽ có mặt ở đây vào ngày mai cũng như chuyện tại sao anh ta biết ông ngủ tại khách sạn này. Chuyến đi tham quan Đà Nẵng hoàn toàn tự phát. Miska là người đưa ra đề nghị kì cục này với bộ tư lệnh quân đoàn 2 Việt Nam và cái cách họ phản ứng lại cũng kì lạ không kém. Trong vòng bốn ngày, Lev ,Miska cùng người phiên dịch Hoàng có thể tự do thăm thú Đà Nẵng và nghỉ ngơi tại khách sạn sang trọng nhất trong thành phố.

    Nhiệm vụ huấn luyện và giới thiệu vũ khí mới cho lực lượng Đặc Công bỗng dưng biến thành một chuyến đi du ngoạn. Thành thực mà nói thì Lev cảm thấy ngại vô cùng và suýt chút nữa thì ông đã từ chối nếu không vì sự lì lợm của cô bạn đồng nghiệp

    "Như tôi đã nói, họ sẽ đến gặp anh vào ngày mai." Dimitri nói "Mấy cái thằng hề đó sẽ tự xưng là Olga hay Shasha gì đó, lần nào đi công tác tôi cũng dùng tên Shasha. Nhưng không quan trọng lắm, thứ tôi muốn nói ở đây chính là mục đích của họ. Họ đến để giao cho anh một nhiệm vụ và nó cực kì nguy hiểm."

    "Cực kì nguy hiểm?" Lev lặp lại với một nụ cười trên môi, nhưng ánh nhìn nghiêm trọng của Dimitri liền dập tắt nó" Nguy hiểm đến mức nào ?"

    "Nguy hiểm và chết chóc" Dimitri dụi điếu thuốc vào gạt tàn "Đó là bản chất thế giới chúng ta sống, của anh và của tôi. Nhưng lần này thì khác đấy. Từng nghe đến cái tên Hakone chưa ?"

    "Chưa bao giờ" Lev lắc đầu "Nghe cứ như tên của một người Nhật nào đó "

    "Một suối nước nóng nằm ở Tokyo Nhật Bản. Một chỗ bình thường không có gì đáng lưu tâm trước khi FSB quyết định đột kích nó vào khoảng ba tháng trước."

    Đột kích một suối nước nóng ngay giữa thủ đô của quốc gia thuộc khối đồng minh Hoa Kỳ !?

    Lev không biết điện Kremlin nghĩ cái quái gì mà lại hành động như vậy. Và quan trọng hơn, mục tiêu của họ là gì mới được ?

    "Anh có đoán được kết quả không ? Hai mươi đặc vụ của ta đi vào suối nước nóng đáng nguyền rủa đó và không một ai trở ra cả."

    "Đừng có đùa tôi chứ!"

    Các đội Alpha của FSB giỏi hơn bất cứ đơn vị nào trong quân đội Nga. Điều kiện đầu vào ngặt nghèo, huấn luyện lại còn gắt gao hơn do Tổng cục An ninh nội địa chỉ cần những cỗ máy giết chóc có kỉ luật chứ không phải đám côn đồ vớ vẩn. Nếu người kể không phải Dimitri thì Lev đã cho đó là chuyện tầm phào rồi. Hạ được một vài người của một đội Alpha khét tiếng cũng đã khó vô cùng rồi chứ đừng nói đến chuyện tiêu diệt toàn bộ !

    "Ước gì tôi nói đùa. " Dimitri chua chát lắc đầu " Họ chết hết cả rồi."

    "Chết ?"

    "Đúng vậy, Chết hoặc mất tích. Tôi biết điều này nghe có vẻ khó tin nhưng nó là sự thật."

    Mặt Lev tối sầm lại. Ông đã lờ mờ đoán ra được lí do hai tên đặc vụ FSB đến gặp ông vào ngày mai. Trong tất cả những phẩm chất đáng quý của bộ, tinh thần bất chấp hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ luôn nổi trội hơn cả.

    "Giờ thì tôi hiểu tại sao anh lại dùng từ nguy hiểm rồi đấy, Dimitri." Lev nói " Anh muốn tôi bất tuân mệnh lệnh à ?"

    "Họ đâu phải cấp trên của anh. OKP-1 vẫn trực thuộc quân đội, không phải Tổng Cục An Ninh. Vì chúa Lev, làm ơn đừng làm chuyện này. Nó không giống như hồi chúng ta ở Bosina hay Ukraine đâu. Vụ Hakone vừa rồi buộc FSB phải có hành động để gỡ gạc danh dự. Tất nhiên là họ sẽ hành động, một hành động hấp tấp và có trời mới biết liệu anh có biến thành con tốt thí không."

    Lev đan hai bàn tay lại với nhau, mắt ngước nhìn lên trần nhà. Giờ phải làm sao nhỉ ? Dimitri hoàn toàn có lí, không khéo ông chẳng làm được gì ngoài nối dài danh sách tử trận còn Tatanya ở nhà phải đứng xếp hàng nhận trợ cấp mất. Nhưng ông có thể từ chối không ? Từ chối FSB có nghĩa là từ chối mệnh lệnh của điện Kremlin. Chỉ là vấn đề thời gian trước khi ông bị đuổi khỏi quân ngũ, tài khoản ngân hàng của ông bị đóng băng rồi hai vợ chồng phải ra hâu tòa vì một tội vớ vẩn nào đó.

    "Cà phê ở đây khá ngon đấy" Lev đã có quyết định cuối cùng " Anh cũng nên uống thử một cốc trước khi đi."

    "Có vẻ như... Tôi chỉ uổng công đến đây mà thôi" Dimitri chán chường nói. Anh ta rục rịch đứng dậy "Tôi phải đi rồi đây, tạm biệt."

    "Chỉ thế thôi à ?" Lev cười cười " Xác chết còn khuyên nhủ hay hơn anh nữa đấy Dimitri."

    "Tôi thừa biết anh cứng đầu đến mức nào, Lev thân mến. Dù sao thì cũng chúc anh may mắn."

    "Tôi sinh ra là đã may mắn rồi." Ông chỉ tay lên vết sẹo gần thái dương. Một đường rạch dài từ tai đến gáy "Bao nhiêu người bị mảnh pháo cắm vào đầu mà còn sống nào?"

    "Mấy thằng khốn khiếp hay khó chết." Anh ta cười trừ " Gửi lời chào của tôi đến Miska nhé."

    "Tốt cho anh nhưng không tốt cho tôi chút nào. Cô ta sẽ nhảy dựng lên cho mà xem."

    Lev tiễn Dimitri tại cổng khách sạn. Ông nhờ cô tiếp tân gọi xe Taxi để hai người có thời gian trò chuyện thêm một lúc trước khi xe đưa Dimitri ra sân bay. Khi anh ta hỏi ông có định để Miska tham gia nhiệm vụ sắp tới không thì Lev cười đáp rằng nếu không làm thế thì ông có nước chết với cô ta.

    "Hình như cô nàng bé nhỏ của chúng ta càng ngày càng bạo hơn trước."

    "Nhưng không khôn ngoan hơn" Lev nói " Cô ta như một con ngựa hoang chạy đua với cái bóng của mình ấy."

    "Đừng bao giờ so sánh phụ nữ với ngựa Lev, không nên chút nào đâu" Dimitri phá lên cười khi ngồi vào băng ghế sau " Tôi thấy tội cho Tatanya vì cưới phải người như anh."

    "Lần thứ hai tôi nghe câu này rồi." Ông nói và đóng cửa xe lại.

    Suốt ngày hôm đó, ông dẫn Miska thăm thủy cung và năm ngôi đền vớ vẩn như đã hứa. Do Lev quyết định không đả động gì đến chuyện hồi sáng nên chuyến tham quan trôi qua trong yên bình, ngoại trừ một sự cố đáng tiếc; Một tên người địa phương bạo gan giật chiếc túi xách hiệu Dior của cô nàng ở dưới chân núi. Ngay cả khi mặc váy, nấm đấm của Miska cũng mạnh khủng khiếp, đủ làm gã khốn tội nghiệp phải vào bệnh viện trên cán cứu thương. May cho họ là thông dịch viên Hoàng cũng có mặt nên hai người khỏi phải lên đồn giải trình.

    "Cảnh sát đồng ý để ta đi." Hoàng nói, trán cậu ta lấm tấm mồ hôi "Cũng may là không chết người."

    "Cô có cần ra nặng tay như vậy không?" Lev bực bội ra mặt "Hắn chỉ giật cái một cái túi thôi mà."

    "Một cái túi ?" Cô nàng tóc nâu cao giọng. "Mẫu 203 da bê bạc số lượng có hạng của Dior đấy. Anh có biết tôi phải trả bao nhiêu tiền và đứng đợi bao lâu không? Một phụ nữ vừa bị giật đồ thế mà các anh lại quay sang bênh vực tên tội phạm. Hai người có bị gì không thế ?"

    Nói đoạn, cô nàng giận dỗi bỏ đi. Lev cùng Hoàng đứng tòng ngòng nhìn nhau.

    "Phụ nữ." Lev tặc lưỡi lắc đầu "Lúc nào cũng sáng nắng chiều mưa."

    "Cô ta sẽ nguôi ngoai ngay ấy mà." Hoàng cười " Đại úy cứ chịu khó năn nỉ một tí là xong."

    "Trách nhiệm đó thuộc về bạn trai cô ta" Lev gằn giọng. Tin đồn ông với Miska là một đôi tràn lan khắp OKP-1 từ lâu dù Lev tìm đủ cách ngăn chặn. Họ xì xầm với nhau từ doanh trại ra quán rượu, ngay cả cấp trên của Lev cũng biết. Và chuyện càng tồi tệ hơn khi ông nhận được vô số lời tán dương hơn là những cái khịt mũi chê bai. " Anh có muốn lãnh trách nhiệm đó không ?"

    "Tôi ... Không đâu thưa đại úy. Ngài là...." Cậu ta sợ vãi ra quần.

    "Sĩ quan chỉ huy. Đúng thế đấy và chấm hết. Nghe rõ chưa ?"

    "Vâng.. Vâng."

    "Tốt, giờ tôi muốn cậu đi gọi xe Taxi. Đến lúc rời khỏi cái chỗ chết tiệt này rồi."

    Chàng thanh niên hoảng hốt gật đầu, hớt hải chạy xuống những bậc thang dẫn xuống đồi. Mỗi lần nhìn Hoàng, Lev chẳng nhìn thấy gì ngoài một con chuột sợ sệt xó bếp. Cậu ta sợ cái giọng ồ ồ của ông, sợ cái tính quái đản của Miska và hầu như sợ tất cả mọi thứ.

    Học hết cấp ba, Hoàng cũng lên thành phố nuôi giấc mơ đại học như bao thanh niên khác nhưng những tháng ngày hạnh phúc của cậu chỉ kéo dài đúng một năm rưỡi,.Người bố ở quê nhà đốt sạch gia sản vào một cuộc làm ăn may rủi nên con đường học vấn của Hoàng cũng đứt đoạn luôn. Hoàng sang Nga xuất khẩu lao động theo lời của họ hàng. Có rất nhiều cách để làm chuyện đó và ông rất ngạc nhiên khi Hoàng chọn cách đi chui. Cậu trai mười chín tuổi đến vùng Viễn Đông vào tháng sáu trên cái xe tải bé tí ,sống trong căn phòng còn bé hơn và làm việc cho một xưởng may phi pháp nằm dưới tầng hầm. Chẳng có gì đáng nói nếu cậu không ở cạnh hai tên trộm đồng hương và được chúng rũ lòng thương hại.

    Họ chia nhau từng cái đùi lợn, từng hộp thịt, lọ mứt dâu trộm được và suýt chút nữa thì chia luôn bản án tù. Hoàng lãnh ba tháng lao động công ích tại viện điều dưỡng nơi Tatanya làm việc rồi trở thành nhân viên tạp vụ ở đó. Lúc Lev nói với vợ rằng mình sẽ đi Việt Nam công tác vài tuần thì nàng liền giới thiệu Hoàng cho ông. Tuy hơi nhỏ con và gầy gò nhưng Hoàng cũng tỏ ra là người giảo hoạt, lanh lợi .

    Ánh chiều buông xuống khi họ về đến khách sạn với hai đầu gối mỏi nhừ còn mặt thì đỏ gay vì nắng gắt. Sau bữa tối, Lev liền chui ngay vào giường và thiếp đi. Đêm hôm ấy, ông có một giấc mơ kì lạ. Trong mơ, Miska là một con cáo nâu, ông là một con ếch còn Dimitri là một con dê. Lev đáng nhẽ phải cười một trận đã đời nhưng khi ông nhìn kĩ lại thì Miska đã bị biến thành khăn choàng cổ còn ông với Dimitri thì được bày lên bàn ăn, thịt thơm lừng béo ngậy.

    Giấc mơ làm ông xao lãng cả buổi sáng. Thật là lạ khi Lev không tài nào gạt nó khỏi đầu mình được. Vào giữa trưa, hai nhân viên FSB đóng giả khách du lịch cũng xuất hiện như Dimitri đã báo trước. Một trong hai tên to như tòa tháp với cái đầu bóng loáng đi kèm với gương mặt dữ tợn, Lev không chắc ông có thể hạ được gã này nếu đấu tay đôi dù ông đánh đấm cũng không đến nỗi tồi lắm. Người còn lại thì nho nhả hơn nhưng cặp mắt lươn của hắn khiến ông thấy bất an hơn bao giờ hết. Họ ngồi xuống cái bàn mà ông và Dimitri đã ngồi hôm qua.

    "Anh đồng ý ?" Tên mắt lươn tự nhận là Maron ngạc nhiên hỏi.

    "Tất nhiên là đồng ý. Tôi rất vui lòng nhận nhiệm vụ này." Lev thấy mình hơi sơ hở vì gật đầu nhanh quá, Maron chắn chắn sẽ để ý thái độ của ông và đặt câu hỏi. " Ngồi không một chỗ cũng chán lắm."

    "Chúng tôi đánh giá cao tinh thần và kĩ năng của anh." Maron liếc mắt ra hiệu cho tên cốt đột. Hắn thò tay vào túi áo và lấy một cái USB đặt lên bàn "Những thứ anh cần biết đều nằm ở trong này. Thông tin không được mã hóa nên anh phải tiêu hủy nó đi sau khi đọc và nhớ là đừng làm bản copy nào."

    "Tôi hiểu rồi." Lev gật gù " Còn gì nữa không ?"

    Ba người bàn luận thêm hai tiếng nữa, chủ yếu là ông và Maron vì tên kia chỉ ngồi im lặng trên ghế như một pho tượng. Gã mắt lươn nói ông được quyền chọn hai hoặc ba người mà ông cảm thấy có khả năng nhất để tham gia nhiệm vụ nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về Tổng Cục An Ninh. Lev liền đề cử Miska, và Yurin, hai chiến binh kỳ cựu của OKP-1 mà không gặp phải sự phản đối nào . Có lẽ Maron đã đoán được sự chọn lựa của Lev từ trước rồi.

    "Những thành viên còn lại sẽ do Tổng cục tuyển lựa dưới sự cố vấn của ủy ban tác chiến đặc biệt nên anh không cần lo lắng về chất lượng của đội." Maron giải thích " Tuy nhiên, vì đây không phải là một chiến dịch quân sự nên các anh hoàn toàn phải nghe lệnh tuyệt đối Chủ Nhà."

    "Chủ Nhà ?"

    "Điệp viên nằm vùng, người đưa tin, người trung gian, hoặc sĩ quan tham mưu tình báo địa phương. Anh muốn dùng tên nào cũng được nhưng chúng tôi vẫn hay gọi là Chủ Nhà cho tiện. Chủ Nhà là người nhận lệnh từ Tổng Cục và trực tiếp chỉ huy các anh ở Nhật. Như đã nói, chúng ta không đi vào đặc khu để gây chiến mà là tạo dựng mối quan hệ với cư dân của thế giới mới, kết giao với họ, nghiên cứu họ. Người Nhật đã đặt nền móng của họ ở Đặc Khu và sớm muộn gì người Mỹ cũng làm điều tương tự. Nước Nga không thể bị cho ra rìa được. Nhưng để làm được, nhân sự của chúng tôi phải đến được thủ đô Đế Chế một cách an toàn và đó là nhiệm vụ của các anh."

    "Tôi hiểu. Nói thật là tôi thấy mừng trong bụng. Anh biết không, mấy trò điệp báo này vốn không hợp với tôi lắm, tốt nhất là để những tay chơi thực thụ làm việc của mình"

    Cái này thì ông nói thật. Lev có thể tự nhận thấy ông là một điệp viên tồi tệ. Ông ghét sự giả dối, phản bội và ranh giới mong manh giữa bạn và thù trong cuộc đời gián điệp. Chẳng phải Dimitri có lần than thở với ông rằng cậu ta mất hết lòng tin vào những người mình gặp dù họ có dễ chịu hay thân thiện đến cách mấy sao? Không thể nào biết được kẻ đứng trước mặt mình là phe ta hay phe địch hoặc cả hai nên tin tưởng một ai đó thì chẳng khác gì kí vào án tử.

    "Tôi chỉ là một kẻ bắn súng giỏi hơn một số người thôi."

    Maron mỉm cười trước sự thành thật của Lev. "Tốt lắm, Đại úy. Mọi thứ đã gần như xong xuôi rồi."

    Gần như thôi sao ? Hắn ta có ý gì vậy nhỉ? Lev tự hỏi. Thời gian xuất phát, mục tiêu, nhân sự và cơ cấu chỉ huy đã được thống nhất vậy thì còn cái gì cần bàn nữa mới được ?

    Vài phút sau khi Maron và tên cốt đột đi khỏi, Lev mới vào thang máy và lên thẳng phòng của Miska. Giờ là lúc nói cho cô ta mọi chuyện. Trái với dự đoán của Lev, cô nàng chỉ ngồi im lặng trên giường, chăm chú nghe ông kể về Dimitri, Maron, tên to con, Hakone và nhiệm vụ chết người mà họ sắp đâm đầu vào.

    "Bao giờ chúng ta bắt đầu?" Miska đi đến tủ quần áo và kéo chiếc vali to đùng ra " Ngày mai ?"

    Lev xem đó là câu trả lời của cô ta "Tối nay. Họ đã đặt vé cho chúng ta đến Vladivostok rồi nhưng chúng ta có một chuyện cần làm ngay."

    "Chuyện gì vậy?" Miska ném bừa chiếc áo sơ mi trắng vào vali " Hy vọng còn đủ thời gian để nói tạm biệt với Hoàng. Cậu ấy giúp chúng ta nhiều quá."

    "Thật sự thì..." Lev tặc lưỡi "Chuyện liên quan đến anh chàng thông dịch viên của chúng ta đó"
     
  11. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 7.1

    PINA


    Ánh sáng yếu ớt từ đằng chân trời chiếu xuyên qua màn sương mù ôm lấy kinh đô như một người tình.

    "Chúc công chúa một ngày tốt lành" Tiếng của Ere, người hầu gái của Pina, nói vọng vào từ sau tấm màn nhung

    "Chào em." Pina đáp. Nàng đứng ngoài ban công, trên người chỉ mặc chiếc váy ngủ dài màu sữa. Phía bên dưới, thành phố lớn nhất Falmat, niềm kiêu hãnh của vưởng triều Son Augustus bắt đầu tỉnh giấc. Đâu đó, nàng nghe thấy tiếng búa đập lanh canh cùng một cột khói đen nhỏ bốc lên ở phía tây quận Zirck, theo sau đó là hàng chục cột khói nữa và bản hợp âm của sắt thép bắt đầu.

    Ngày trước, vào mỗi buổi sáng, thành phố thường mang một mùi thơm béo ngậy từ phố Junker, nơi những lò bánh, quầy thịt và chợ gia vị nằm san sát nhau , sẵn sàng phục vụ các thực khách đói ngấu, túi rỉnh rủng xu đồng, bạc và vàng. Nhưng nhờ vào lệnh phong tỏa, Pina giờ chỉ còn ngửi được mùi than cháy và mỡ bò. Các xưởng rèn gần như không bị ảnh hưởng chút nào, thậm chí chúng còn nhộn nhịp hơn trước vì vị Thái Tử muốn có thêm bốn nghìn bộ áo giáp, tám nghìn mũi giáo, và hàng chục nghìn đầu tên vào cuối tuần này.

    " Đồ ăn sáng đã sẵn sàng rồi thưa công chúa." Ere nói " Trứng luộc , thịt muối và nho đỏ. Toàn món khoái khẩu của người."

    " Nho đỏ à ?" Nếu Pina nhớ không lầm thì mùa này không có nho đỏ " Em có chắc không ?"

    " Chắc chắn là nho đỏ. Em tận mắt thấy chúng được chở qua cổng hoàng cung trên xe kéo mà. Ban đầu, em cũng hơi ngạc nhiên vì em biết mùa thu hoạch đã qua lâu rồi nhưng hiệp sĩ Colbian nói nho này không được trồng trên đất của ta đâu, chúng đến từ Nhật Bản."

    Vậy là bí ẩn đã được giải. Pina không biết giờ có phải là mùa nho ở Nhật không nhưng sau tất cả những điều kỳ diệu nàng từng chứng kiến thì việc bắt trái cây mọc trái mùa dễ như lấy đồ trong túi đối với họ

    Ngồi vào bàn, bụng Pina sôi lên. Nàng phết bơ lên bánh mỳ, ăn kèm một mẩu thịt. Nhưng khi đập vỡ quả trứng thứ hai thì nàng chẳng còn bụng dạ gì nữa. Một con gà con đỏ hửng trào ra từ quả trứng, rơi thẳng xuống cái khay bằng bạc.

    " Ere dọn cái đống này đi." Pina ra lệnh " Và mang cho ta chút rượu."

    Bình rượu được mang lên. Nó có vi cay và chát nhưng hậu lại ngọt. " Y phục đã sẵn sàng rồi, thưa công chúa." Cô hầu nói " Người muốn bộ giáp tráng men xanh hay giáp xích ?"

    " Hôm nay ta không đi cùng đội kị sĩ. Lấy cho ta cái Togie."

    Một ngày sau lễ cầu an. Zorzal triệu Pina vào triều và thông báo rằng nàng được bổ nhiệm làm Tổng Quan Thủ Đô mới, thay cho Faring người mới bị cắt chức vì dám lên tiếng phản đối việc phong tỏa thành phố. Đứng trước ngai báu từng thuộc về cha nàng, trong căn phòng mà nàng đã ra vào hàng trăm lần nhưng Pina lại cảm thấy lạ lẫm. Bên phải nàng là đám con trai hoang đàng của Giffin's March vừa trở về nhà từ nhà tù Nhật Bản. Bọn chúng nhìn nàng với ánh mắt nữa thèm thuồng nửa khinh bỉ. Đáng lẽ mình phải để bọn nó chết rục xương ở đó cho rồi. Fabio Marak với nụ cười nửa miệng trong bộ đồ sặc sỡ cúi chào nàng, còn những anh em họ của hắn cười khúc khích. Đứng gần bậc thang là Halon, Tổng Quan Ngân Khố, một ông già chừng sáu mươi tuổi mắc bệnh khí quản, ho như sắp chết đến nơi. Zorzal quyết định giữ Halon ở lại. Có lẽ anh trai nàng nghĩ một ông già sắp bước xuống mồ thì gây hại được gì chứ.

    Nàng còn nhìn thấy nhiều gương mặc khác nữa : Soren bạn nối khố của Zorzal cùng tên anh trai bặm trợn của hắn, Anthony tóc đen như gỗ mun khoác áo choàng nửa người, Veserny Khôi Ngô ngồi ngay trên bậc thang, thanh Galdius cán trạm vàng cắm xuống nền gạch và.... Tyuule. Cựu nữ hoàng thỏ đứng cạnh ngay báu, cặp chuông rung lên ngọt ngào trong từng chuyển động. Kể từ ngày Zorzal lên nắm quyền, tần suất xuất hiện của Tyuule dày đặc hơn. Lúc trước, Pina chỉ gặp cô ta vài lần trước cửa phòng của anh trai nhưng giờ đây, cô ta ở khắp nơi. Hầu như Zoral đi đến đâu cũng đem vật cưng của mình theo.

    Ere giúp nàng thay y phục. Áo Palla của phụ nữ quý tộc luôn cầu kì nên không thể tự mặc một mình được. Thắt đai và cài nút thì dễ nhưng tự thân buộc mớ dây nhợ đằng sau lưng mới là cực hình. Đây là bộ đồ mà nàng mặc khi làm công sứ ở Nhật Bản. Để cho tiện, nàng và Bonze đều thay phiên mặc đồ cho nhau.

    " Công chúa nên may bộ khác đi, cái này cũ quá rồi." Nàng có cả núi áo dài dạ hội , Stola ( áo dài kiểu La Mã) và áo giáp đủ màu nhưng chỉ có đúng một bộ Palla. Pina nghi ngờ cái ngày nàng được ban cho một cái chức be bé ở quận chứ đừng nói đến chuyện đặt mông của mình lên cái ghế của Tổng Quan Thủ Đô. Được cha nàng cho phép tập luyện kiếm thuật và có một đội quân riêng đã là quá khoan dung rồi.

    " Không còn thời gian để may bộ mới và ta không định làm chim công trong phòng họp đâu."

    " Tối nay em sẽ gọi thợ may đến." Ere chỉnh lại áo choàng bán thân trên vai nàng. "Và cả thợ bạc nữa chứ, xin người thứ lỗi cho em nói thẳng nhưng cái vòng cổ của người xấu đến tệ hại. Người là công chúa chứ có phải bò đâu."

    Pina bật cười trước câu nói ấy. Ngay cả một đứa con gái của thợ giặt cũng chề môi khi thấy cái thứ quấn quanh cổ nàng. Cái vòng lộng lẫy bằng vàng đính mười hai viên hồng ngọc to quá cỡ bình thường đó luôn làm cổ nàng đau ê ẩm. Nhiều lần nàng cũng toan để nó đóng bụi trong tủ nhưng đành thôi vì dù sao nó cũng là quà tặng sinh nhật của Hoàng Đế. Cha nàng rất thông thái trong nhiều chuyện nhưng khiếu thẩm mỹ của ông thật sự rất tệ.

    " Người có cần cảnh vệ không ạ ?" Ere hỏi

    " Không và em cũng không cần đi theo ta đâu. Công việc của Tổng Quan khá là... nhàm chán."

    Thật sự thì nó đã trở nên căng thẳng hơn rất nhiều khi cư dân bắt đầu chết đói, hoàng đế lâm bệnh, cướp giật đâm chém như cơm bữa còn bọn trộm thì đông như chuột. Đáng lẽ mình phải cự tuyệt chức vụ trời đánh này đến cùng .Suýt chút nữa là nàng đã thành công nếu không vì tên khốn Soren cùng cái miệng thối của hắn.

    "Đội Kị Sĩ Hoa Hồng đã thể hiện xuất sắc" hắn nói " Công chúa Pina là người duy nhất có thể giữ vững nền hòa bình của Thái Tử trong thời điểm hiện tại."

    Phòng hội đồng thủ đô được đặt ở phía nam cung điện, cạnh vườn thượng uyển và đối diện đấu trường. Khu vực này được coi là ngoại cung nên số lượng lính gác cũng thưa hẳn đi và không ai mang áo choàng tím ( chỉ có đội cận vệ hoàng đế mới mang áo choàng tím). Việc này sẽ gây cho Pina khá nhiều phiền toái. Zorzal vẫn chưa kiểm soát được Đội Cận Vệ dù đã sa thải Boros. Họ là những chiến binh trung thành với cha nàng hết mực trong khi từng tên lính gác ở đây có thể là tay chân do Zorzal phái đến theo dõi nhất cử nhất động của nàng. Chính nỗi lo sợ này buộc Pina phải sử dụng Mizari làm chim đưa thư thay vì Bonze hay Panache. Có bao nhiêu người nghi ngờ một cô gái Harpy khi chuyện giỏi nhất cô ta có thể làm là nốc rượu say mèm và dạng chân ra đâu ?

    Khi cánh cửa phòng to và dày được mở ra, Pina nhận thấy ba người đàn ông đã ngồi đợi sẵn quanh chiếc bàn lớn. Hermish cục mịch, chỉ huy lính gác thành, chân trái dài hơn chân phải, đứng một tay chống lên thành bàn trong bộ giáp đen chỗ lồi chỗ lõm. Ông ta thật sự là một tên ăn mày trong buổi tiệc vì hai người còn lại đều áo quần bóng mướt, sực nức mùi nước hoa. Bộ Toga của Loren El Deconte xanh như biển mùa thu, khuya cài hình chim ó bằng đồng . Dimits Noharis thì có phần giản dị hơn nhưng Pina tự hỏi liệu một người chuyên trông coi hệ thống nước thải có cần phải đeo nhiều nhẫn đến vậy không ?

    " Chúng tôi vô cùng vinh dự trước sự hiện diện của công chúa." Loren tiến đến và hôn tay nàng " Suốt ngày hôm qua, tôi cứ nơm nớp lo sợ rằng họ sẽ để một trong những anh em Giffin's March ngồi vào ghế Tổng Quan Thành Phố."

    Zorzal đã cắt chức chú anh ta hay là ông cậu nhỉ? El Deconte là một dòng tộc lâu đời ở Đế Chế với hàng tá chi nhỏ.

    " Một đám thanh niên nhiệt huyết nhưng quá bộp chộp và thiếu kinh nghiệm." Hermish đánh giá "Tôi biết ngài Ranovir vùng Giffin's March. Chúng tôi từng chiến đấu cạnh nhau trong trận Carenhall. Một người tốt nhưng cưới phải một bà vợ tồi tệ."

    Nàng bao nhiêu tuổi khi cuộc chiến Giếng Nước diễn ra nhỉ ? Có lẽ là hai hoặc ba gì đó, Zorzal thì lên bốn rồi, còn Dialo vẫn chưa chào đời. Grey cũng có mặt ở Carenhall như Hermish nhưng với tư cách là một hiệp sĩ hai mươi ba tuổi đầy triển vọng trong khi Hermish đã ngoài bốn mươi. Hy vọng vị chỉ huy gác thành không chết vì vỡ tim trong thời gian nàng tại chức.

    " Chào hỏi như vậy là đủ rồi, thưa các vị." Pina cố nói bằng giọng vương giả " Chúng ta còn có một thành phố để cai quản."

    " Xin tuân theo ý công chúa" Cả ba đồng loạt ngồi xuống. Không hiểu sao nàng có một cảm giác mãnh liệt rằng nàng không thuộc về nơi này, với những người đàn ông này.

    " Tôi xin mạng phép bắt đầu trước với tư cách là người quản lý thương mại của thành phố." Loren nhếch mép cười và mở cuốn sổ dày cộp ra " Rất tiếc phải thông báo rằng tiền thu thuế bị giảm đi hơn một nữa."

    " Tại sao ?" Hermish hỏi" Theo tôi nhớ thì tiền thuế không thay đổi suốt mấy năm nay. Ngay cả khi chúng ta tiến quân sang Cánh Cổng, Hoàng Đế anh minh vẫn không tăng thuế và người dân rất hài lòng. Tại sao họ lại không chịu nộp ?"

    " Vì không có khả năng để nộp chứ còn gì nữa." Pina nói. Lão Hermish này bị mù hay lão chỉ đơn giản là quá ngu ngốc ?

    " Từ khi thành phố bị phong tỏa, hàng hóa trong thành không xuất ra ngoài được cũng như luồn hàng từ bên ngoài cũng không thể đi vào trong. Những thứ như thuốc nhuộm, trang sức, vải, hàng thổ cẩm, dầu ô liu thì chúng ta có đầy nhưng lúa mỳ thì không đâu. Bây giờ một bao tải lúa mỳ có giá trị tương đương một bức khảm đẹp và chẳng mấy chốc, những quý bà giàu có phải bán cả kim cương để có một vóc lúa mỳ trong tay. Đồng Thalet đang mất dần giá trị vì các ngài cũng thừa biết con người không thể ăn vàng hay bạc mà sống được.Tình hình buộc người dân dùng hết tiền có sẵn để tích trữ lương thực nhưng chúng tôi lại không thể quy ra đổi chúng ngược lại được."

    " Thế thì cứ thu thứ họ có." Hermish nhúng vai. " Giờ thì bánh mỳ thay cho tiền thuế."

    " Không nên " Dimits lắc đầu " Cuộc phong tỏa chỉ là tạm thời, ai mà biết mấy tháng sau thì nó còn hiệu lực hay không. Nếu chúng ta hành động dại dột thì bánh mỳ mốc sẽ chất đống trong kho và ngân sách sẽ thủng một lổ khổng lồ."

    " Ahem... khó quá nhỉ" Ông ta quay sang Pina " Công chúa có ý kiến gì không ?"

    " Tạm thời cứ án binh bất động." Pina nói " Chẳng có biện pháp nào hữu hiệu hơn mở cổng thành cả và các người cũng biết chuyện gì xảy ra với Farring rồi đấy." Zorzal sẽ không sa thải nàng nhưng anh ta sẽ lờ nàng đi trong khi những tên như Fabio Marak, Veserny, Anthony được dịp cười khẩy. " Giờ thì bàn sang chuyện khác. Ta đã ra lệnh cho Bozes tuyển thêm lính bổ sung vào đội gác thành. Hermish, ngài thấy thế nào ?"

    " Cũng không tệ lắm, thưa công chúa" Vị chỉ huy cục mịch gãi gãi cái cằm cạo nhẵn nhụi " Đa số kẻ mới tuyển đều thiếu kĩ năng chiến đấu, một số thì thậm chí còn không biết đếm đến hai mươi nhưng nhìn chung họ đều từng cầm vũ khí."

    Như vậy mà ông ta cũng nói là chưa tệ lắm "Dùng một con dao bếp thì có tính là vũ khí không ?" Pina cào nhào " Ngài cần huấn luyện họ làm quen với áo giáp, kiếm và khiên."

    " Tất nhiên rồi ! Ba tuần là đủ."

    " Hai thôi" Nàng chữa lại. Nếu cần thì nàng sẽ ra lệnh cho Grey hoặc Penache hỗ trợ Hermish " Ngài Loren sẽ lo việc trả lương."

    " Ngân quỹ thành phố có kham nổi không ?" Dimits hỏi

    " Hiện tại thì được nhưng không được lâu đâu. Tổng cộng có bao nhiêu người ?"

    " Khoảng ba nghìn." Hermish tặc lưỡi " Tôi đã loại những thằng bé và ông già ra rồi."

    Cuộc họp kéo dài đến tận trưa trong sự chán chường của Pina. Dimits Doharis nói không ngừng về sự cần thiết của việc nạo vét ống cống thành phố cũng như xây thêm vài cái mới thay cho những chỗ bị sụp hoặc hư hại quá nặng. Loren liên tục lắc đầu, nhắc đi nhắc lại rằng họ không có tiền. Hermish thiu thiu ngủ trên ghế, ông già chỉ chịu bừng tỉnh mỗi khi một trong hai người cao giọng nhưng sau đó lại đâm ra ngủ tiếp

    " Ít ra thì cũng phải phải lấp vài cái cống để chặn bọn chuột chũi." Anh chàng quí tộc màu mè nói " những đường hầm tạm bợ đó sẽ gây sụt lún cho nền đất phía trên. Hãy tưởng tượng nguyên một căn nhà hay dãy phố bị vùi xuống đất chỉ sau một trận mưa mà xem."

    " Chuột chũi à ?" Pina ngạc nhiên " Những sinh vật bé tí tẹo."

    " Dân buôn lậu, thưa công chúa. Chúng đào đường hầm dẫn ra sông để tuồng hàng hóa. Tôi đã đề nghị ngài Hermish cử người xuống quét sạch bọn chúng nhưng ngài ta làm như chẳng có chuyện gì hết."

    " Có hàng trăm lối đi bí mật, những đoạn hầm chỉ vừa một người lùn chui lọt, cửa sập và đủ thứ khốn kiếp khác nữa. Ông muốn tôi làm sao mới được đây?" Vị chỉ huy đội gác thành gằn giọng với Dimits "Người của tôi vừa không biết đường lại còn phải lần mò trong bóng tối và bọn buôn lậu đâu có đi tay không đâu. Chúng trang bị tận răng. Tôi mất hai mươi bảy người trong đợt tấn công lần trước. Nếu ông muốn lấp mấy cái hầm đó thì tự đi mà làm nhưng tôi nói trước là sớm muộn gì bọn chúng cũng đào thêm vài cái khác cho mà xem."

    "Khu ổ chuột Akusho là đầu não của bọn buôn lậu, tôi nghĩ giờ là lúc chúng ta cắt đầu rắn rồi." Loren gợi ý " Ý công chúa thế nào ?"

    " Ta nghĩ chúng ta chỉ tốn công vô ích mà thôi."

    Akusho là chỗ nương thân của những tên tội phạm, gái làng chơi, chủ nô và những kẻ bị Đế Chế ghét bỏ. Không một ai biết rõ khu ổ chuột Akusho có từ khi nào, nhưng rõ ràng là hàng chục thế hệ đã sinh ra và chết đi dưới bóng những khu nhà tồi tàn, mái chỉ chờ chực sụp xuống, xung quanh ngập ngụa mùi phân và nước tiểu ấy. Thành Sadera trải qua sáu lần vây hãm, hai trận hỏa hoạn lớn và gồng mình gánh chịu vô số trận lụt. Nhiều đền đài, cung điện vĩ đại chẳng còn lại gì ngoài đống gạch vụn nhưng tuyệt nhiên, Akusho vẫn tồn tại bất chấp tất cả. Các học sĩ có lần từng bảo với Pina rằng cái tên Akusho mang nghĩa vĩnh cửu trong ngôn ngữ cổ.

    " Bọn chúng sẽ lủi mất nếu chúng ta ùn ùn xông vào với quân số đông đảo" Hermish nói " Nếu cử đi quá ít thì...." Một ý nghĩ chợt lóe lên trong mắt ngài chỉ huy . Ông ta quay sang Loren " Hiện giờ ai đứng đầu bọn chúng ?"

    " Gia tộc Gonzori, Medusa, Paramount và Bessara. À tôi quên mất, Bessara bị giết rồi, ba gia tộc còn lại đang chia địa phận của hắn." Loren bốc một trái sung trên bàn và nhai " Ai giết và vì sao thì vẫn chưa rõ lắm. Có người nói Gonzori nhập băng với Medusa để diệt hắn nhưng nghe đâu chuyện có liên quan đến những người mặc đồ xanh."

    " Họ thì dính dáng gì đến mấy vụ đâm chém này ?" Hermish cười khục khặc " Đừng nói với tôi là những người đó lại thấy thích đi buôn gái còn trinh với đồ đồng nhé."

    " Ai biết được." Loren nhúng vai " Có Hardy mới biết bọn chúng làm cái gì ở Akusho."

    Akusho. Người Nhật. Pina chợt giật mình nhớ mình đã quên mất một chuyện cực kì quan trọng. Đã ba ngày rồi mà vẫn chưa có tin gì của Mizari cả !
     
  12. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    CHƯƠNG 7.2

    PINA

    “Thần cầm cây gậy lên và đánh vào hông tên kị binh. Hắn vừa từ nhà thổ nhào ra, trên người chỉ mặc độc cái khố vàng bẩn thỉu nên cây gậy đầu tròn của thần chẳng khác một cây chùy là mấy. Gã thú nhân mà người ta gọi là Sazka Vuốt Đêm ngay lập tức rút gươm ra chém xuống nhưng thần nhanh hơn hắn.” Grey uống thêm một ngụm rượu trước khi tiếp tục “ Ngon thật, thứ bán ngoài chợ như nước tiểu ấy. Trở lại chuyện lúc nãy, thần thoát chết trong gan tất và đâm cây gậy vào mắt hắn. Nếu giờ tên Sazka ấy mà còn sống, người ta phải gọi hắn là Sazka Chột mới đúng.”

    “Hoặc là Sazka Độc Nhãn Long.” Pina cười cười.

    “Không, không được.” Ông già tóc muối tiêu lắc đầu “Gã là một con heo rừng hôi hám. Heo thì làm sao mang tên của rồng được. Lúc còn trẻ, bạn bè khuyên thần nên tìm cho mình một cái biệt danh hay ho nào đó. Thần cũng mày mò nghĩ ra nào là Hiệp Sĩ Kênh Rạch này, Kẻ Diệt Khổng Lồ, Ánh Sáng Ban Mai, Điểm Trai. Hiệp sĩ Kênh Rạch thì nghe tầm thường quá, Kẻ Diệt Khổng Lồ thì thần không dám nhận. Đúng là thần có đánh nhau với những kẻ cao to hơn nhưng chúng chưa bao giờ được coi là người khổng lồ cả. Ban Mai và Điểm Trai ư ? Thật là lố bịch, hiệp sĩ cần gì phải đẹp khi cái làm nên con người anh ta là thanh gươm? Cuối cùng, thần quyết định chỉ hiệp sĩ Grey là được”

    Mười năm trước, ông ta đã đốn tim Bozes với hơn chục đứa con gái khác. Có một chuyện Pina chắn chắn là Grey không hề nhận thức được mình có một gương mặt dễ nhìn, hàm răng trắng và thân hình của một vị thần. Liệu ông thầy của nàng sẽ phản ứng ra sao khi biết một nửa số người tham gia lớp huấn luyện năm đó chỉ để thấy nụ cười và bộ ngực lực lưỡng của ông dưới chiếc áo chẽn đẫm mồ hôi ?

    Họ đang ngồi trong phòng riêng của Tổng Quan Thủ Đô, gian phòng tọa lạc tại tháp Hoàng Hậu, tòa tháp cao nhất ngoại cung. Một bữa trưa dành cho một nàng công chúa kiêm Tổng Quan được dọn ra. Trứng cá muối, thịt nhồi, bánh mật và rượu cay. Sau buổi họp vừa rồi, nàng không có tâm trạng ăn uống lắm nên Grey được dịp thưởng thức chúng thỏa thích. Ban đầu, Pina định mời Bozes nhưng nàng sợ cô bạn tóc vàng sẽ lôi mấy lời than phiền về đám lính mới tuyển lên bàn ăn nên Grey được gọi lên thay. Người hiệp sĩ già luôn có những câu chuyện tếu táu, phiêu lưu lãng tử trong túi.

    “Kể tiếp đi, Grey.” Pina hào hứng “Có phải một hiệp sĩ đi ngang qua, cảm phục lòng quả cảm của ông và nhận ông làm hộ vệ ?”

    “Ôi trời ơi, công chúa. Nếu được như thế thì tốt quá còn gì.” Grey phá lên cười “ Thật ra cũng có một hiệp sĩ xuất hiện, chỉ tiếc là thay vì đặt gươm lên hai vai thần, ông ta lại đánh thần một cú trời giáng sau gáy. Sau đó, thần tỉnh dậy trong nhà giam, đầu óc quay cuồng không hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Thần giật mạnh chấn song và gào lên. Một tên cai tù dữ dằn xuất hiện đánh thần nhừ tử. Khi thần cố hỏi hắn vì sao mình lại ở đây, hắn lại đánh mạnh hơn. Mười ngày ngủ trên sàn lạnh cóng, thức ăn bữa có bữa không, thân thể thì đau nhức, thần nghĩ mình sắp chết đến nơi. Đến ngày thứ mười một, lão hiệp sĩ đó mới xuất hiện trong buồng giam. Lão nhìn thần cười lớn và kể cho thần nghe đầu đuôi mọi chuyện. Cái gã mà thần nổi máu anh hùng xông ra bảo vệ thực chất là một tên tội phạm bị truy nã còn hai người bị thần đánh được thuể để tóm hắn. Lão hiệp sĩ còn nói thần bị kết tội đồng lõa, cản trở công lý và đả thương người vô cớ nữa.”

    Grey nhắm nghiền mắt hồi tưởng, miệng nở một nụ cười hạnh phúc “ Hình phạt dành cho thần là ba mươi năm khổ sai. Ba mươi năm ! Thần chỉ là một chàng trai mười sáu và ba mươi năm nghe như vô tận. Ngay lúc đó lão ta mới hỏi thần một câu mà thần không bao giờ quên ‘Ta có thể giúp chú mày thoát khỏi cái bản án đó với điều kiện chú mày phải làm hầu cận cho ta . Đông ý không?’ ”

    “Và chuyện gì xảy ra tiếp theo ?”

    “Tất nhiên là thần đồng ý rồi, nếu không thì thần có lẽ đã chết mất xác trong cái mỏ nào đó ở phía Bắc thay vì ngồi đây.”

    “Không, ý ta là sau đó nữa kìa.”

    Grey chùi vết mỡ bám trên miệng bằng mu bàn tay “ Một câu chuyện hay cần phải có thời gian.” Đôt mắt màu xám của ông trở nên nghiêm túc hơn “ Thần không nghĩ công chúa mời một hiệp sĩ già như thần lên đây chỉ để kể những chuyện xưa lơ xưa lắc.”

    Vậy mà mọi người thường hay bảo trí tuệ của Grey chỉ nằm ở tay cầm gươm. “ Ông lấy cho ta cuốn sách nằm ở bìa kệ ấy. Cuốn màu đỏ. Hàng thứ tư”

    Grey chậm rãi đứng dậy và tiến đến kệ sách đầy ấp. Người tiền nhiệm của Pina để rất lại nhiều đồ đạc và ra đi trong vội vã. Pina có một cái gương chứa toàn đồ linh tinh từ găng tay, lọ thủy tinh, kẹp tóc, hài mũi nhọn đến vải vụn. Một bộ sưu tập sách địa chí, thời tiết, xây cất và lịch sử các vương quốc cổ đại kèm cái kính thiên văn mờ đến nổi nàng không thể thấy gì ở khoảng cách năm mươi bộ. Nhưng thứ nàng cần là cuốn sổ cái của Tổng Quan lại không thấy đâu.

    Farring là người liêm chính có tiếng vì thế chuyện ông ta che giấu thứ gì đó mờ ám rất khó xảy ra. Nhưng nếu đúng là vậy thì cả ông ta và cuốn sổ cái đang ở chỗ nào? Pina chợt nhớ ra là nàng chưa gặp Farring kể từ khi ông ta bị sa thải.

    “Cái này phải không?” Grey nheo mắt nhìn bìa sách “Luận Điểm Của Triết Học Sơ Khai của Aporus, năm 452. Nếu người định làm đau đầu mình đấy thì thần có cách hay hơn nhiều.”

    “Lật trang cuối đi Grey.” Nàng nói. Vị hiệp sĩ tuân lệnh.

    “Ồ đây là…” Mắt ông sáng lên “ Bản đồ Akusho. Và những đường ngoằn ngòe ở đây là gì ? Thánh thần ơi, chúng là đường hầm ngầm!” Grey đập tay vào tấm bản đồ “Người có thể xây hẳn một thành phố dưới đó được đấy. Mất bao lâu để đào từng ấy đường thông nhau nhỉ ?”

    “Mười năm, một trăm hoặc một nghìn.” Pina nhúng vai “Đây vốn là một thành phố cổ mà, người ta có lắm thời gian.

    Grey đặt cuốn sách mở lên bàn “ Người định làm gì với cái này ?” Ông hỏi, giọng thận trọng. “ Dù là ở dưới lòng đất, Akusho vẫn đầy rủi ro với bất cứ ai, nhất là một người thuộc hoàng tộc.”

    “Ta phải làm chuyện cần làm.” Pina nói “ Lúc gặp Mizari, ông có truyền đạt chính xác lệnh của ta không ?”

    “Từng lời một” Grey trả lời “ Thần bảo cô ta khi nào nhận được câu trả lời từ ngài Sugawara thì quay lại quảng trường Athenian, người của công chúa sẽ đợi cô ta ở đó. Thậm chí, thần còn hứa sẽ tăng gấp đôi tiền công nữa.”

    Nhưng giờ Mizari vẫn biệt vô âm tính. Thật là sai lầm khi đưa tiền công trước. Đáng lẽ nàng chỉ cần trả một nửa, và đưa nốt phần còn lại sau khi cô ả hoàn thành nhiệm vụ

    Lời cào nhào của Bozes văng vẳng bên tai nàng. “Cô ta sẽ ném bức thư xuống cống và tiêu sạch tiền vào rượu” Hoặc đang nằm trong con hẻm nào đó, ruồi nhặng bâu xung quanh và bốc mùi, Pina thoáng nghĩ. Một gái điếm với túi tiền to như thế thì khó mà sống lâu được ở Akusho.

    “Khi nào có tin thì báo cho ta hay. Giờ ông đi được rồi.”

    “Tuân lệnh công chúa.” Vị hiệp sĩ cúi đầu cáo lui

    Pina dành hết buổi chiều nghe những lời than phiền không ngớt từ các phường hội. Họ ca cẩm, van nài, thậm chí còn khó chịu ra mặt khi nàng nói mình không thể làm được gì để giúp họ được. Vài thương nhân còn kể cho nàng nghe câu chuyện thương tâm của một gia đình phải bán con làm nô lệ vì không thể nào nuôi chúng. Loren càng làm tình hình tệ hơn khi xác nhận lời đồn về vụ ăn thịt người ở phía Nam thành phố không phải là lời đồn.

    “Ta sẽ đưa kiến nghị của các người lên nhiếp chính.” Ít ra thì cũng có thứ để báo cáo cho anh nàng nghe. Zorzal sẽ nổi trận lôi đình nếu nàng nói huỵt toẹt ra núi rắc rối mà anh ta đang tự tạo nên nhưng nếu không có gì để nói, anh sẽ cho rằng nàng không làm tốt nhiệm vụ.

    Pina trở về phòng riêng lúc mặt trời khuất bóng. Khi Ere vừa thông báo nước nóng đã sẵn sàng thì Bozes xông vào phòng

    “Cô ta trở về rồi thưa công chúa.” Bozes vừa nói vừa thở hổn hển “Ngài Sugawara đồng ý gặp công chúa.”

    “Chừng nào? Ở đâu?”

    “Nửa đêm nay. Văn Phòng Đại Diện Nhật Bản khu Akusho.”

    Sugawara thừa thông minh để hiểu bên ngoài khu ổ chuột là địa phận của Zorzal. Trong trường hợp này, tấm bản đồ của Farring sẽ giúp nàng rất nhiều. Đường đường chính chính đi vào đó chẳng khác gì lại ông tôi ở bụi này. Zorzal cử hẳn một binh đoàn lê dương lập vành đai phong tỏa Askusho, mọi con đường đều có chốt chặn và lính tuần tra. Một công chúa và trưởng đội kỵ sĩ không thể nào vượt qua bọn chúng êm thắm được.

    “Ta đồng ý. Đi chuẩn bị đi Bozes.”

    “Thần sẽ tập hợp binh sĩ.”

    Bozes định quay đi nhưng nàng ngăn lại.

    “Không, chỉ ta và ngươi thôi. Quá nhiều người sẽ bị để ý.”

    “Nhưng….”

    “Làm theo lời ta” Nàng ra lệnh.

    “Vâng, thưa công chúa.”

    Khi Bozes đã đi khỏi, Pina đến bên cạnh tủ quần áo và lấy ra một chiếc áo choàng nâu cũ kĩ., thứ nàng từng dùng trong lần trốn khỏi cung điện để xem kịch và uống rượu say bét nhè với Panache.

    Nàng khoác cái áo choàng lên người, kéo chiếc mũ trùm qua khỏi đầu, che gần nửa khuôn mặt và mái tóc đỏ “ Giờ trông ta giống ai nào ?”

    “Em không… biết thưa công chúa.” Ere bối rối trả lời

    “Tốt lắm, lại thêm một lãng khách rong rủi ở kinh đô.”

    Ở phòng sinh hoạt chung, Oris ngồi trên ghế mài thanh đại kiếm, ánh nến nhảy múa trong đôi mắt màu mã não. Esona và Satin chơi đỗ xúc xắc trên bàn. Bọn họ đều mang áo giáp, nai nịt gọn gàng. Có vẻ đêm nay là ca trực của cả ba và họ đang giết thời gian trong khi chờ đợi những người khác trở về. Ba hiệp sĩ nhưng lại có bốn thanh kiếm trên giá, Oris dùng trường kiếm cũng giỏi như đại kiếm. Vậy thanh còn lại là của ai ? Không phải của Bozes, chuôi kiếm của cô ta có hình đầu sư tử, cái này chạm khắc hình chim ó.

    “Panache đâu rồi ?” Pina cất tiếng hỏi.

    Đáp lại nàng là gương mặt cà chua của Oris, cậu ta đặt miếng đá mài lên đùi, nháy mắt ra hiệu về phía phòng ngủ. Một tiếng rên khe khẽ vọng ra từ đó, kèm theo là tiếng cười khúc khít, mặt của Oris lại càng đỏ hơn.

    “Ai đang ở trong phòng vậy Oris ?”

    “Pana… Panache thưa công chúa” Oris ấp úng. Chàng trai trẻ cúi mặt xuống và cặm cụi mài gươm tiếp.

    “Và người bạn mới của cô ta.” Satin, người hiệp sĩ vùng Akandale lười biếng đổ xúc sắc lên bàn “Sáu ! Cô cần mười hai điểm để thắng.”

    “Tôi biết.” Esona lầm bầm “Tôi từng chơi trò này rồi.”

    “Nhưng không đủ lâu để thắng tôi đâu, cô gái.”. Tiếng rên lại vang lên, lần này lớn hơn lần trước, giọng của Panache. Giờ thì ngay cả Pina cũng thấy nóng rang người “Trời đánh, sao cô may đến thế nhỉ?”

    “Ai cho phép các người dẫn người lạ vào đây ?” Pina quắt mắt nhìn Oris “ Chỗ này nhìn có giống nhà thổ không ?”

    “Chúng thần nào dám.” Oris liền phân bua “ Chỉ huy Bozes dẫn cô ta vào đây và bảo chúng thần canh chừng. Sau đó, đội trưởng Panache từ ca trực trở về. Đội trưởng nói với cô ta cái gì đó liên quan đến dâu đỏ và nho, thần không hiểu gì cả, rồi hai người cùng đi vào phòng và….”

    “Chơi trò vào hang tìm kho báu.” Satin phá lên cười “Từ chuẩn của hiệp sĩ đấy.”

    Đừng nói với mình đó là…..

    Cánh cửa bật mở, một dáng người mảnh khảnh xuất hiện. Mái tóc vàng rũ rượi chảy đến tận eo, cặp xương gò má cao và đôi cánh khổng lồ trắng như tuyết. Đúng là cô ta rồi, trời đánh thật !

    “Mizari.” Pina cộc lốc nói “ Cô đang làm gì ở đây ?”

    “Thực hiện giao kèo của chúng ta, chứ cô nghĩ tôi đang làm gì nào?” Cô ả Harpy nhúng vai.

    Pina giận run người. Ả đi biệt tăm biệt tích ba ngày dài rồi quay trở lại đây với thái độ không thể xấc láo hơn . Đáng lẽ cô nên để Bozes dạy cho ả một bài học.

    Một khi họ đã không sợ hãi thì không bao giờ họ đối xử với con như một quân vương thật sự

    Mizari trông y hệt như lần Pina gặp ả ở ngoài quán rượu, trừ chiếc mũi. Tay nghề của Kurokawa quả là tuyệt vời như lời đồn, không ai có thể tin chỉ mấy ngày trước cái mũi đó còn sưng vù, máu me bê bết. Cô ả vận bộ Chiton phiên bản gái ăn sương đầy gợi dục với lưng để trần, cổ khoét sâu, để lộ cặp ngực đồ sộ. Tuy cùng là phụ nữ với nhau nhưng chính nàng cũng không thể rời mắt khỏi chúng.

    “Tôi cũng tranh thủ kiếm thêm chút đỉnh” Mizari dùng vạc áo lau những ngón tay ướt át, miệng nở một nụ cười quỷ quyệt. “ Đội trưởng Panache là người hào phóng, một người hào phóng hạnh phúc”

    Ả bước đến gần Pina hơn, rất gần, mùi nước hoa trộn lẫn với mồ hôi xộc vào mũi nàng.

    “Công chúa nghĩ sao nếu tôi biến cô thành một công chúa hạnh phúc nào ?” Ả thì thầm vào tai nàng, giọng ả ngọt ngào. “Vẻ mặt nghiêm nghị này không hợp với cô đâu.”

    Nàng khẽ giật mình khi những ngón tay của Mizari trườn qua từng lọn tóc sau gáy. Vài inch nữa thôi, môi cô ta sẽ chạm vào má nàng và điều tệ nhất là nàng lại cảm thấy thoải mái vô cùng.

    “Không” Pina đẩy tay ả ra.

    Mizari lùi lại “Không ư? Không phải lúc này hay không phải ở đây?” Ả nghiêng đầu hỏi

    “Không bao giờ.”

    “Tiếc thật đấy” Mizari thở dài “Nhưng sông có khúc người có lúc, biết đâu sau này công chúa sẽ đổi ý.”

    Người đàn bà này thật dâm đãng và nguy hiểm. Tốt nhất là nàng nên cẩn thận với cô ả thì hơn. Tại sao mình lại ngu ngốc đến mức chiêu mộ cô ta cơ chứ ? Oris, Esona , Satin bối rối nhìn nhau rồi quay sang nhìn nàng nhưng không ai nói gì cả. Gương mặt của Oris đỏ gay và Pina thầm ước cậu ta đang tức giận thay vì.....

    “Chúng ta khởi hành được chưa ?” Bozes từ đâu đó không biết bước vào phòng và hỏi “ Có chuyện gì vậy ? Oris , Satin, Esona lê cái mông ra ngoài đó nhanh lên, đến phiên trực của mấy người rồi. Satin ! tôi đã bảo bao nhiêu lần về việc đánh bạc hả ?”

    “Vô cùng xin lỗi thưa chỉ huy.” Satin rục rịch đứng dậy, ông ta hấy mắt với Oris “ Thôi mài thanh gươm đó đi. Cậu định dùng nó để cạo râu chắc ?”

    Oris hối hả đeo đại kiếm sau lưng rồi đi cùng Esona. Pina nhìn Satin.

    “Ông nên dạy cho cậu ta cách làm đàn ông, Satin. Chúng ta không cần những cậu bé trong đội. Hiểu ý ta chứ ?”

    “Vâng, thần hiểu. Chuyện này dễ mà.”

    Thế rồi, Satin cười khúc khít trước khi bước ra cửa.

    “Thần vừa bỏ lỡ chuyện gì thế?” Bozes ngớ người hỏi

    “Không có gì.” Pina trả lời. “Bắt đầu thôi.”

    Tấm bản đồ được trải lên bàn, Bozes trầm trồ kinh ngạc trước quy mô của thế giới bên dưới Akusho nhưng Mizari chỉ thoáng nhìn qua rồi cười khẩy. Cô ả sống ở đó cả đời nên chắc chẳng xa lạ gì với những đường hầm ngầm.

    “Chúng ta sẽ vào bằng đường này.” Pina chỉ tay vào một bãi đất trống được đánh dấu “X” trên phố Hoa Cải. “ Nó sẽ dẫn chúng ta đến tuyến đường hầm dọc bờ sông. Phần còn lại thì hơi rối nhưng nếu như bản đồ này chính xác thì chúng ta có thể tiếp cận chỗ của người Nhật ở khoảng cách rất gần. Cô thấy sao hả, Mizari?”

    “Tôi chưa từng dùng lối đi đó lần nào. Lâu lắm rồi không ai dùng nó nhưng nếu nó dẫn chúng ta đến được tuyến đường hầm dọc theo bờ sông thì ổn cả thôi. Tôi từng đi qua chỗ ấy vài lần ”

    “Cô cũng chung băng với bọn Gonzori à?” Bozes khinh khỉnh “Sao tôi không ngạc nhiên nhỉ.”

    “Không phải Gonzori mà là Medusa. Nói cho đúng thì tôi chẳng thuộc phe nào hết nhưng con mụ rắn quỷ quyệt bảo kê hết ba phần tư số gái điếm nên nếu mụ muốn có chân sai vặt thì tôi đành tuân theo thôi. Chẳng đứa nào dám từ chối nếu không muốn bị đám lâu la của mụ tẩy mặt

    “Tẩy mặt ?”

    “Chúng cắt mũi, môi và mí mắt của cô và để cô sống. Hiệp sĩ, lính đánh thuê kiếm ăn bằng hai tay còn chúng tôi chỉ có mỗi khuôn mặt nuôi thân.”

    Mizari giải thích trong sự kinh hãi của Bozes và Pina. Một ả điếm xấu xí kiếm được rất ít nhưng vẫn còn khá hơn một ả điếm dị dạng. Nếu họ không chết vì đói thì những vết thương bị nhiễm trùng sẽ lo nốt việc đó. Một cái chết khủng khiếp, ngay cả với những người ở địa vị bị coi rẻ như Mizari.

    “Lũ đốn mạt.” Bozes rít qua kẽ răng, tay nắm chặt lấy đốc kiếm

    “Chào mừng đến với Akusho, cưng ạ.”

    Nữ hiệp sĩ tóc vàng lờ đi câu châm chọc. “Cô không sợ những gì Medusa sẽ làm với cô nếu mụ ta biết chúng tôi là ai sao ?”

    “Làm ăn thì phải có uy tín, đúng không nào ? Ban đầu tôi cũng hơi sợ nhưng tôi đã lỡ nhận tiền rồi nên phải hoàn thành giao kèo cho bằng được. Tuy nhiên, nếu tôi muốn trốn thì cũng được thôi. Hai người sẽ không bao giờ nhìn thấy tôi lần thứ hai đâu. Người nên lo sợ ở đây phải là cô mới đúng. Có bao giờ cô tự hỏi tôi có phải là tay chân do mụ ta phái đến để đưa các người vào tròng không ? ”

    Bozes nghiến răng sấn tới, tay đặt lên chuôi gươm nhưng Pina ngăn lại.

    “Ta nghĩ quý cô Mizari đã chứng minh được sự tin cậy của mình rồi.” Nếu ả dám giở trò thì chính nàng sẽ là người chém bay nụ cười ngạo nghễ của ả. “ Cô ấy sẽ đi cùng với chúng ta.”

    Trên chặng đường từ hoàng cung đến điện Hardy, thần kinh Pina căng như dây đàn. Nàng đào thoát khỏi nhà mình bằng cửa sổ phòng sinh họat chung, chui xuống một cái lỗ bé tẹo dưới bức tường nội thành và qua mặt ba nghìn lính gác hoàng gia với cái tên Nina, người hầu của hiệp sĩ Bozes Co Palesti. Nỗi sợ bị phát giác không hề thừa. Pina đã sống trong lâu đài Russenfort này suốt hai mươi sáu năm nên không khó để một người lính gác, tì nữ hay quản mã nhận ra nàng chỉ với một cái nhìn.

    Khi họ đi bộ dọc hành lang sáng ánh đuốc, những tia lửa vô tư đùa giỡn trên mái tóc đỏ của Pina, khiến nó trông rực rỡ và ma mị hơn. Ngọn lửa của Hardy, người ta thường nói thế khi nhắc đến những kẻ mang trên mình màu của cái chết và sự tái sinh . Pina là người duy thừa hưởng đặc điểm này từ mẹ, trong khi Zorzal và Diabo đều có tóc vàng sáng và chiếc cầm vuông của Hoàng Đế.

    Có bao nhiêu cô gái tóc đỏ trong cung nhỉ, Pina thoáng nghĩ rồi nhanh chóng kéo mũ trùm xuống thấp hơn một chút nữa.

    Bên ngoài cung điện tương đối dễ thở hơn, các toán tuần tra đều là người của Đội Kỵ Sĩ hoặc là lính của Hermish do một trong những hiệp sĩ giáp trắng chỉ huy. Họ đứng thẳng người, dập gót chào khi thấy Bozes đi ngang. Không một ai đặt câu hỏi về ả Harpy hay vị lữ khách áo choàng nâu đi cùng vị chỉ huy của mình.

    “Chúng ta có thể tin tưởng những người này.” Bozes nói với lòng tự hào “ Trong đội, tất cả đều là máu thịt của nhau”

    “Thật không đấy ? Ngay cả người mù cũng nhìn ra họ không phải là anh chị em”

    “Họ rất trung thành.” Bozes gằn giọng.

    “Rồi sẽ có một ngày tôi khắc câu đó lên mộ của cô.” Ả Harpy cười khẩy

    Càng đến gần khu Akusho, các toán tuần tra thưa dần đi và những con phố cũng bắt đầu trở nên vắng vẻ và tăm tối hơn. Ở quận Jin, bốn cái giá treo cổ được dựng lên, dây thòng lọng đung đưa trong gió, xung quanh không một bóng người. Dưới chân họ vương vải đủ loại rác rưới bẩn thỉu, Pina suýt giẫm phải một xác con chuột chết. Nàng nhảy lò cò tránh sang một bên trong khi Mizari phá lên cười. Bên trên, phía sau những ô cửa cài then, là những cặp mắt dõi theo họ trong bóng tối.

    “Họ sợ cái gì vậy ?” Pina hỏi.

    “Sợ chúng ta” Ả Harpy huýt sáo. “Đây là vùng giáp ranh với Akusho mà.”

    “Tôi không nghĩ mình giống kẻ cướp đến thế.” Bozes khinh khỉnh nói.

    “Một số kẻ cướp trông giống hiệp sĩ, một số hiệp sĩ thì trông như kẻ cướp hoặc có khi là cả hai. Dù là thế nào thì người dân cũng không muốn mạo hiểm đâu.”

    Phố Hoa Cải nằm lọt thỏm giữa quận Jin và Petorian, hai khu vực nổi tiếng là lộn xộn không kém Akusho là mấy. Theo như lời Mizari thì chỗ này là nơi bọn kền kền nung những thanh gươm chất lượng kém, áo giáp cũ mèm trước khi biến chúng thành cuốc xẻng và dao thịt lợn. Cả khu phố nồng nặc mùi tro và lưu huỳnh, tường lẫn mặt đường đều ám khói.

    “Nó kia rồi.” Mizari chỉ tay về phía cuối phố. Bozes và Pina giương mắt nhìn theo thì thấy một bãi đất nhưng nó không hề trống trãi như trên bản đồ . Vô số những tấm bia đủ hình thù nhô lên khỏi mặt đất, cây bụi và cỏ mọc bừa bãi xung quanh và ở giữa là một cái cây đã chết khô từ lâu

    “Cái này là…. Nghĩa trang mà.” Giọng Bozes có phần hơi run “ Cô có nhầm không đấy chứ?”

    “Sợ người chết hả hiệp sĩ?”

    Mizari cười ngạo nghễ bước vào nghĩa địa. Bozes đi ngay phía sau Pina, miệng lầm bầm chửi rủa.

    Ba người băng ngang những ngôi mộ có bia bằng đá, bằng gỗ hoặc thậm chí không có cả bia. Người hiệp sĩ tóc vàng run rẩy đọc kinh cầu nguyện trong sự thích thú của cả Pina và Mizari. Ai mà ngờ được Mãnh Sư Co Palesti lại sợ ma cơ chứ? Khi đi được một đoạn thì cô ả Harpy dừng lại trước một tấm bia bằng đá trang trí đẹp đẽ hơn những cái khác. Họ tìm thấy một cánh cửa sập ẩn dưới lớp cỏ.

    “Chúng ta không có đuốc” Bozes nói.

    “Chuyện nhỏ.”

    Mizari nhổ một chiếc lông vũ trên đôi cánh và giữ chặt nó giữa hai ngón tay.

    “Aderuie” Cô ta thì thầm và chiếc lông chợt tỏa ra ánh sáng màu xanh nhạt.

    Ma thuật. Trong giới Thú Nhân, Harpy có khả năng ma pháp cao nhất, thậm chí họ có thể lĩnh hội được những pháp thuật cơ bản mà không cần qua luyện tập.

    “Trò này tôi học từ một gã pháp sư nửa mùa.” Mizari nói “ Tôi là người đàn bà đầu tiên của gã và có thể là người cuối cùng.”

    “Ta không hiểu.”

    “Gã đi gia nhập đội quân viễn chinh sang phía bên kia Cánh Cổng và không quay trở lại”

    Hai phần ba lực lượng đã chết hoặc đang làm tù binh. Đến ngày hôm nay, Pina vẫn không rõ thực sự đã có chuyện gì xảy ra ở ngoài đó. Itami nói với nàng là cuộc tấn công chỉ diễn ra trong vòng bốn giờ đồng hồ rồi bị dập tắt, trong khi đó Sugawara lại bảo trận đánh kéo dài đến lúc mặt trời lặn mặc dù ông ta thừa nhận mình không có mặt ở Tokyo. Ở phía bên này, Veserny khẳng định quân đội của họ đã anh dũng chiến đấu và gây tổn thất lớn cho kẻ thù nhưng Anthony lại chỉ chứng thực được một phần câu chuyện vì phần lớn thời gian họ vừa đánh vừa chạy nên không thể biết được tổn thất của kẻ địch là bao nhiêu. Dù là gì thì chuyện Đế Chế thua trận là không thể chối cãi và giờ nó có nguy cơ bị hủy diệt bởi sự ngu xuẩn của Zorzal.

    Khi Pina đặt chân vào hầm, nàng liền hiểu tại sao lâu rồi không ai thèm sử dụng nó. Lối đi chật chội được chống đỡ bằng những thanh xà tạm bợ, mặt đất ẩm ướt và nhão nhoẹt, một số đoạn còn bị sập hoặc lún, tạo ra những cái khe nhỏ vừa đủ cho một người lách qua. Bozes và Mizari gặp vô số phiền toái. Nữ hiệp sĩ tóc vàng mặc giáp tấm với giáp xích nặng nề bên dưới áo choàng xanh lá, thanh đoản kiếm dự phòng dắt bên hông - Bozes cho rằng trường kiếm quá bất tiện khi ở dưới đường hầm- và buộc phải chọn bỏ một trong hai thứ lại nếu muốn đi tiếp . Cặp cánh khổng lồ của Mizari luôn bị mắc kẹt mỗi lần lách qua khe hẹp, dù cô ta đã cố gập chúng lại nhưng cũng không mấy hiệu quả. Để giải quyết tình huống bất tiện này, Pina sẽ đi trước rồi kéo cô ả qua trong khi Bozes sẽ từ đằng sau đẩy tới. Đoạn hầm chỉ dài chưa đến nửa dặm nhưng cũng khiến họ mất hơn một giờ đồng hồ.

    Cuối cùng thì họ cũng đến được lối đi ngầm dọc bờ sông trong tình trạng kiệt sức, áo quần bẩn thỉu, mặt mày lem luốt.

    “Thoát rồi.” Bozes quì xuống, hai tay chống xuống đất, thở không ra hơi “ Hai người không sao chứ ?”

    “Tôi phải đòi thêm tiền vì chuyện này”

    Mizari phủi phủi lớp bùn bám trên cánh và tóc.

    “Ba trăm đồng bạc nhé công chúa ?”

    “Đươ… Được. Gì cũng được” Nàng đã quá mệt để mặc cả với cô ả.

    “Tôi cũng muốn một bộ váy mới.”

    “Đủ rồi đó ! Đồ tham lam.” Bozes gạt ngang.

    “Im lặng. Hai cô định cho bọn chúng biết ta đang ở đây à ?” Pina rít qua kẻ răng “ Chúng ta chỉ có ba người với hai thanh gươm. Cô có chắc mình giết hết được bọn chúng không Bozes?”

    “Đừng có lo, bọn buôn lậu không đi qua đây vào giờ này đâu. Bọn chúng phải chờ lính gác đổi ca lúc trời gần sáng.” Mizari nói “Chúng ta an toàn rồi.”

    Và những chuyện xảy ra sau đó chứng minh cô ả sai hoàn toàn. Họ trông thấy ánh sáng lập lòe ở ngã rẽ cùng với tiếng cười nói. Một tên Troll, một tên thú nhân mặt chồn và một tên người lùn xuất hiện, cả ba tên đều mang vũ khí. Quá muộn để tránh đi rồi, chúng đã thấy họ.

    “Để tôi lo việc này” Mizari thì thầm “Hai người cứ im lặng.”

    Ba tên buôn lậu chỉ còn cách họ chừng bốn bước chân. Tên Troll mập mạp, mặt trắng bệt với hai con mắt đen như hắc tín, gầm gừ với cây chùy gỗ trên tay. Gã chồn mặt nhăn mày xỉn khi thấy họ, hắn chĩa cây nỏ về phía Mizari.

    “Các người là ai ?” Gã người lùn hắng hơi nói. Giọng gã nặng chịch.

    “Tôi là người chuyên đem lạc thú đến cho đàn ông và phụ nữ, còn đây là hai người bạn đồng hành của tôi” Mizari chỉ tay về phía họ “ Nina và Jenny.”

    “Nina và Jenny à ?” người lùn gãi cằm “ Ba người ở đây làm gì ?”

    “Tìm đường đến Akusho. Jenny đây mới giết một hiệp sĩ hồi sáng nên bị bọn Hoa Hồng chết tiệt truy đuổi sát gót. Tôi khuyên cô ấy nên đến gặp ngài Gonzori, người đang rất cần những tay kiếm có nghề. Nina cũng muốn đi theo, hai người họ là một cặp bài trùng.”

    “Lính đánh thuê luôn có chỗ ở Akusho miễn là chúng không sợ chết.” Gã quay sang nhìn Bozes và Pina “ Hai người có đúng là lính đánh thuê không ?”

    Nàng và Bozes gật đầu.

    “Tốt lắm, chúng ta không liên can gì đến việc của mấy người và các người cũng chẳng có vấn đề gì với bọn ta nên…”

    “Khoan đã !” Tên chồn chen ngang “Bọn chúng nói dối.”

    Gã lùn ngước lên nhìn tên đồng bọn cao to nhưng không nói lời nào.

    “Mày bị ngu hả, Kodin ? Bọn nó không phải lính đánh thuê. Áo giáp của con nhỏ tóc vàng có giá trị hơn số tiền mày kiếm được cả đời đấy. Một đứa có đủ tiền để tậu một vật như vậy thì đi đánh thuê cái nỗi gì” Hắn chĩa cây nỏ về phía Bozes “ Tao nhớ mặt mày rồi con khốn ạ. Vài ngày trước mày cùng tên hiệp sĩ già giết chết Tonto Con Hoang ở Nàng Tiên Nâu. Họ gọi mày là gì nhỉ ? À… Diều hâu Co Palesti”

    “Tôi cam đoan cô ấy không phải người anh vừa nói đâu.” Mizari giải bày “Jenny Blackmill đến từ vùng Riverside. Anh nhầm người rồi. Giờ chúng tôi đi được chưa ?”

    “Đó không phải tên ta.”

    Bozes lạnh lùng nói và theo sau đó là một tiếng “Vụt” lạnh người.

    Thanh đoản kiếm tuy không đủ lực để chém bay đầu tên chồn nhưng cũng đủ sắc để rạch nát cổ hắn. Gã khụy xuống, cây nỏ rơi khỏi đôi tay lông lá, máu phun ra từ vết thương bắn thành tia làm ướt mặt tường .

    Tên Troll gầm lớn vung cây chùy gỗ qua khỏi đầu và đó là tất cả những gì hắn có thể làm. Pina liền tuốt gươm đâm thẳng vào ngực gã. Không đủ không gian để nàng thực hiện một cú đâm uy lực nhưng do tên Troll chỉ mặc độc một chiếc áo vải màu vàng bẩn thỉu, trong khi thanh trường kiếm của nàng lại được rèn từ thứ thép tốt nhất nên chẳng mấy khó khăn, lưỡi kiếm đã xuyên qua được lớp da dày, thịt và xương lồng ngực.

    “Quân khốn nạn !” Gã lùn kêu lên rồi quay đầu bỏ chạy.

    “BOZES ! ĐUỔI THEO HẮN” Pina thét khi rút thanh gươm khỏi người tên Troll “GIẾT HẮN ĐI. ĐỪNG ĐỂ HẮN CHẠY THOÁT.”

    “PHẬP”

    Một mũi tên không biết bay đến cắm ngay sau gáy gã lùn. Hắn lảo đảo một lúc rồi ngã lăn ra đất và chết tươi. Pina quay đầu lại thì thấy cây nỏ nằm gọn trên đôi tay cô ả Harpy.

    “Đáng lẽ chúng nên để ta đi.” Mizari cười ngạo nghễ quẳng cây nỏ sang một bên.

    Hai cái chết nhanh gọn nhưng cái chết của tên thú nhân sẽ đau đớn và kéo dài.

    “Giải quyết hắn đi” Pina ra lệnh.

    Bozes gật gù tiến đến gần chỗ tên chồn đang ngập ngụa trong máu của mình.

    Grey từng dạy nàng rằng giải thoát người khác khỏi nỗi thống khổ là công việc của một hiệp sĩ chân chính, ngay cả khi điều đó có nghĩa là mang đến cái chết. Một người đàn ông có thể sống một cuộc đời đầy nhọc nhằn nhưng hãy để cái chết của anh ta êm ái và dễ dàng.

    Bozes nhìn thẳng vào mắt tên chồn, một ánh nhìn kì lạ, không căm ghét cũng như không thương hại.

    “Tên ta là Bozes. Họ gọi ta là Mãnh Sư của gia tộc Co Palesti. Ngươi là ai?”

    “Lu..c..Lu..cas.” Hắn nói trong tiếng nấc “ Là..Làm đi.”

    Mũi gươm sắc lẹm cắm xuống, máu trào ra từ vết thương bên ngực trái và đôi mắt tên Thú nhân nhắm lại cho một lần cuối cùng.

    “Nhanh lên ! Có thể còn những tên khác đang lảng vãng quanh đây” Mizari giục “Theo tôi.”

    Ba người chạy thục mạng, bỏ lại ba cái xác đẫm máu. Họ rẽ phải, rẽ trái rồi rẽ phải thêm vài lần nữa dưới sự hướng dẫn của cô ả Harpy. Mizari không hề dùng bản đồ nhưng sự tự tin tuyệt đối trong từng bước chân của ả khiến Pina cũng an tâm phần nào. Harpy vốn thừa hưởng trí nhớ tuyệt vời của loài chim mà, nàng tự nhủ với bản thân như vậy mỗi khi hành lang ngày càng chật chội hơn.

    Họ ra khỏi thế giới lòng đất thông qua một cái nắp cống gần đài phun nước khô cạn. Mizari trèo lên đầu tiên để quan sát xung quanh. Sau đó tới lượt Bozes và Pina .

    “Văn Phòng Đại Diện Nhật Bản nằm ở cuối con đường này. Ngôi nhà có ánh sáng trắng ấy”

    Quả thật là có một tia sáng màu trắng le lói ngay giữa khu phố ổ chuột tối tăm. Pina và Bozes thở phào nhẹ nhỏm vì họ biết mình đã đến chính xác nơi cần đến. Chỉ có một thứ phát ra thứ ánh sáng kì lạ đó- Đèn neon, một phát minh của đất nước nằm ở phía đông Nhật Bản. Tấm bản đồ đã không lừa họ và Mizari đã không bán đứng họ.

    Phần cuối của chuyến hành trình trôi dễ dàng hơn Pina nghĩ. Đường phố không có một ai trừ vài gã say xỉn nằm dưới bậc cửa và một ông già ăn xin mù lòa. Có vẻ danh tiếng của Akusho khiến nàng quên mất những tội phạm cũng là người và cũng cần phải ngủ.

    Mizari ném một đồng xu bạc vào chén của ông già

    “Ông không hề thấy chúng tôi nhé, lão Rùa” Cô ả nói.

    “Ông ta làm sao thấy chúng ta được.” Bozes ngạc nhiên. “Ông ấy bị mù mà.”

    “Chân lão thường hay run rẩy và đuối sức hơi nhanh nhưng tin tôi đi, lão ta không hề bị mù đâu.”

    Một ngày nào đó nàng phải hỏi xem Mizari đã ăn nằm với bao nhiêu đàn ông và đàn bà rồi. Con số đó chắc không hề nhỏ đâu.

    Chỗ ở của người Nhật là một khu nhà bốn gian hai tầng được xây bằng gạch nung phết vôi trắng ,y như mọi căn nhà quanh đây. Hai người lính mặc đồ xanh đứng ở cửa lập tức giương cây gậy khạc lửa lên khi thấy họ đến gần.

    “Ai đấy?” Một người hỏi bằng tiếng Falmat.

    “Mizari và công chúa Pina.” Mizari nói Đây là lần đầy tiên ả gọi cô là công chúa.

    “Thứ lỗi cho chúng tôi.” Người lính hạ cây gậy xuống “Ngài Sugawara đang đợi người.”

    Người đầu tiên họ gặp bên trong là Kurokawa, vị bác sĩ ngồi trên cái ghế đẩu nhỏ với một quyển sách trên tay. Cô ta đứng dậy cúi gập người chào nàng.

    “Xin chào công chúa”

    “Kurokawa. Cũng lâu quá rồi nhỉ.” Lần cuối cùng họ gặp nhau là ở buổi tiệc ngoài trời “Dạo này thế nào?”

    “Bận rộn,dù gì tôi cũng là bác sĩ duy nhất ở đây.” Ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề, đúng kiểu của Kurokawa. Vị bác sĩ kiệm lời lặng lẽ quan sát ba người họ, đôi mắt lãnh đạm thường ngày ánh lên vẻ quan ngại khi thấy vết máu khô trên mặt và giáp hộ tâm của Bozes

    “Chuyện gì xảy ra vậy?” Cô ta quay sang Mizari với cái nhìn kiểu cô-lại-dính-vào-cái gì-thế.

    “Này không phải lỗi của tôi đâu nhé” Ả nhúng vai “Một vài thằng ngốc nghĩ chúng có thể giết được chỉ huy Kị Sĩ Hoa Hồng và kết cục là thế này đây. Đừng lo, chúng tôi vẫn khỏe tuy hơi bẩn một chút.”

    “Phòng tắm ở phía bên này.” Kurokawa chỉ tay về phía cánh cửa bên trái “Nếu ba người có nhu cầu.”

    “Tuyệt vời” Ả nắm lấy cổ tay Bozes và kéo sang một bên “Cô từng tắm vòi sen chưa, hiệp sĩ ?”

    “Cô với tôi… Tắm chung à ?” Hai má Bozes ửng hồng lên “Tôi không nghĩ….”

    “Xấu hổ sao?” Mizari cười thách thức “Mãnh sư Co Palesti, kẻ hạ gục Tonto và đồng bọn lại sợ ma và một gái điếm không mang vũ khí ? Mọi người sẽ thích nghe chuyện này cho mà xem”

    “Tôi không có sợ” Bozes gạt tay ả ra và giận dữ đi thẳng về hướng phòng tắm.

    “Tôi thích cô nàng này đấy.” Ả Harpy nói với nàng “Cô ta rất giỏi với gươm trong tay nhưng những thứ khác thì phải chờ xem đã.”

    Dứt lời, ả đi theo Bozes và biến mất sau cánh cửa.

    Thánh thần phù hộ ngươi, Bozes

    Kurokawa dẫn nàng lên căn phòng của ngài Sugawara ở tầng hai. Cô ta dừng lại trước cửa phòng, để Pina đi vào một mình. Sugawara ngồi phía sau một cái bàn nhỏ, chứng từ và báo cáo chất thành đống xung quanh, che mất một phần khuôn mặt của ông ta. Người đàn ông Nhật nhỏm người dậy và mỉm cười khi thấy Pina.

    “Công chúa, tôi vô cùng xin lỗi vì sự bất tiện này. Người cũng hiểu tình hình hiện giờ không cho phép tôi ra khỏi Akusho được.” Tiếng Falmat của ông nghe êm ái như chim hót “ Xin người đừng để bụng.”

    “Ta hiểu.” Pina kéo ghế ngồi đối diện với Sugawara “Zorzal sẽ không ngại phanh thây ông ra đâu.”

    “Thái tử là người thích hành động mà.” Ngay cả khi châm chích ai đó, ngữ điệu của ông ta cũng không thay đổi “Người chủ động liên lạc với tôi trước, vậy cho tôi mạn phép hỏi công chúa cần gì ở tôi nào ?”

    “ Hòa bình” Đó là thứ nàng muốn nhưng còn người Nhật thì sao ? Họ chính là người đề xuất ý tưởng này. Tuy nhiên đó là một thời điểm khác với một người khác ngồi trên ngay báu “Ta cần biết đất nước ông có dự định tiếp tục giữ vững nền hòa bình với Đế Chế không ?”

    “ Cái này thì tôi không có quyền trả lời thay chính phủ Nhật được. Tôi là tiếng nói của người dân Nhật tại Đế Chế nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về thủ tướng và quốc hội.”

    “Ta không cần ông trả lời với tư cách đặc sứ ngoại giao” Pina nói “Ta vừa chui qua một cái cống bẩn thỉu và giết ba mạng người để đến đây gặp ông đó, thế nên ông nghĩ gì về ý định của Nhật Bản ?”

    Sugawara trầm ngâm một lúc rồi cười trừ “Người có đầu óc của nhà chính trị và trái tim của một quân nhân , thưa công chúa.” Ông ta nhìn vào mắt nàng “ Cứ cho là Nhật Bản muốn duy trì thỏa thuận với người đi thì sao nào ? Một nền hòa bình chỉ có thể được xác lập khi hai bên tuân thủ lệnh ngừng bắn và không có hành động gây hấn. Anh trai người đã vi phạm cả hai điều trên.”

    Vô lí, Từ ngày kí thỏa thuận đình chiến đến giờ, các binh đoàn thiện chiến nhất chưa hề nhận được lệnh tấn công. Trừ các binh đoàn lê dương được anh trai nàng triệu tập đến phong tỏa kinh đô ra thì phần lớn binh sĩ đóng trên lãnh thổ Đế Chế vẫn án binh bất động. Và ngay cả trong trường hợp Zorzal có ra lệnh đi chăng nữa thì nàng ắt phải biết.

    “Ta nghĩ ông lầm rồi, Sugawara. Zorzal chỉ diễu võ giương oai và có mấy bài phát ngôn thù địch thôi chứ chưa làm được gì cả. Ta lấy danh dự ra đảm bảo Đế Chế không hề phá vỡ lệnh đình chiến.”

    “Thật sao?” Ông ta lấy một tờ giấy từ chồng văn kiện ra và đưa nó cho nàng “ Tiếng Nhật của công chúa khá tốt nên tôi nghĩ người sẽ không gặp vấn đề gì.”

    Nàng cầm tờ giấy lên và đọc. Một bản báo cáo từ đồi Alnus, tổng hành dinh của JSDF.

    Quân ta thường xuyên bị tấn công bởi kẻ địch. Chúng không xuất hiện với số lượng lớn nhưng các cuộc tấn công thường diễn ra bất ngờ và ác liệt. Quân thù không mang cờ hiệu cũng như quân phục chuẩn của Đế Chế hay bất cứ tiểu quốc độc lập nào. Các báo cáo cho biết kẻ địch dường như được huấn luyện rất kĩ lưỡng và có chiến lược rõ ràng, chúng chỉ tấn công những nơi quân ta dàn mỏng và thiếu vũ khí hạng nặng sau đó thì rút đi.

    Những người dân có cảm tình với chúng ta hoặc giúp đỡ lính JSDF đều bị tấn công bằng nhiều hình thức từ đe dọa, bắt cóc đến tàn sát tập thể. Các toán trinh sát phát hiện ba ngôi làng bị đốt trụi, không ai sống sót.”

    CẢNH BÁO : có dấu hiệu đây là một cuộc chiến tranh nổi loạn được chuẩn bị từ trước. Bộ chỉ huy đang lập kế hoạch phản kích. Mọi đơn vị cảnh giác cao độ”

    Pina lạnh người khi đọc dòng cuối. Bàn tay nàng như mất hết sức lực, tờ báo cáo tuột khỏi tay , rơi xuống dưới chân ghế.

    “Zorzal….” Nàng cắn chặt môi “Anh đúng là đồ ngu không não! Ngu xuẩn hết sức.”

    “Có vẻ công chúa không hề biết đến chuyện này như tôi đoán từ trước.” Sugawara điềm đạm nói “Nhưng giờ thì người biết rồi đấy. Anh trai người đã vi phạm thỏa thuận.”

    “Ta sẽ sửa chữa việc này. Hãy cho ta thời gian” Pina gần như van nài. Nếu ông ta có bắt mình hôn chân để tỏ lòng thành thì mình cũng chấp nhận “Hãy cho ta thời gian.” Nàng lập lại.

    “Tôi sẽ chuyển lời của người đến chính phủ Nhật” Sugawara gật đầu. Ngay lúc đó, nàng chỉ muốn hôn lên má ông ta. “ Nhưng tôi đồng ý gặp người hôm nay để đưa ra một thỉnh cầu.”

    “Bất cứ điều gì.” Nàng nhận lời ngay. Nếu Sugawara có thể thuyết phục Nhật Bản duy trì nền hòa bình thì đừng nói một thỉnh cầu mà mười thỉnh cầu cũng được.

    “Hoa Kỳ, quốc gia đồng minh của chúng tôi muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Đế Chế. Có lẽ giờ này họ đang trên đường đến đây rồi. Chính phủ chúng tôi hy vọng người có thể thuyết phục thái tử cho phép họ tiếp cận thành phố và đảm bảo an toàn cho đoàn ngoại giao.” Sugawara đan hai bàn tay vào nhau, tiếng chim hót đã tắt ngấm từ bao giờ “Vì nếu có chuyện gì xấu xảy đến với họ thì hiệp ước của chúng ta cũng tan tành mây khói. Hoa Kỳ không khoang dung như chúng tôi đâu, họ mà tuyên chiến thì Nhật Bản cũng phải tuyên chiến theo vì trách nhiệm của đồng minh buộc chúng tôi phải làm vậy.”

    Pina cứng đờ người….
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/1/19
  13. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    Bản đồ Falmart và Đế Chế Sadera

    Hôm nay đọc đỡ phần phụ lục nhé, mình làm mất một file word các chapter mới rồi nên phải viết lại khá nhiều. Cái phần phụ lục này ban đầu mình không có ý định viết nhưng một số bạn khuyên mình nên làm vì nhiều người sẽ không hiểu cái thế giới Falmart này ra làm sao, Đế chế trông như thế nào, có những ai sinh sống.

    Do GATE vẫn là một cái Manga, Light novel chưa hoàn thành và tác giả cũng không hứng thú với việc xây dựng thế giới Falmart chi tiết lắm ( Theme chính của nó là harem pha lẫn một chút Military) nên mình đành phải tham khảo kết hợp những thông tin gốc với những thứ do các author trên fanfiction.net và mình phóng tác nên để tạo ra một thế giới Falmart gần sát với trí tưởng tượng của mình nhất. Do đó đừng ngạc nhiên khi thấy lịch sử, đại lý, con người, địa điểm, thành phố, thị trận tôn giáo, trong fanfic của mình hơi khác so với bộ manga gốc nhé.

    PHỤ LỤC

    Các Quốc Gia Ở Farmat – phần 1

    ĐẾ CHẾ.

    Đế chế hay tên đầy đủ là Đế Quốc Sadera (Saderan Empire) với thủ đô cùng tên (Sadera) là thực thể chính trị quân sự lớn nhất Falmart với ảnh hưởng bao trùm khắp lục địa. Lãnh thổ của Đế Chế trải dài từ Đông sang Tây với các vùng đồng bằng sông trù phú, những bờ biển dài, hải cảng, đô thị, rừng rậm, đồi thấp và những rặng núi dài.

    JSDF đã ước tính từ cực đông đến cực tây của Đế Chế có tổng chiều dài hơn 8000 km, tức là rộng ngang ngửa với Đế Quốc Mông Cổ.

    Về mặt địa lý, dòng sông khổng lồ Rho chia Đế Chế thành hai nửa Đông và Tây với thủ đô Sadera nằm ở giữa. Phía Tây Đế chế bao gồm những đồng bằng được bao bọc bởi những dãy núi lớn, những hải cảng ở biển Ngọc cùng những thành phố ven sông đông đúc. Trong khi đó phía Đông lại là một vùng đất mở với những đồng cỏ và rừng rậm chưa được khai phá. Phía nam phần lãnh thổ phía Tây tọa lạc một dãy núi lửa đã tắt từ lâu có tên Tuba, tương truyền đây là nơi con rồng lửa huyền thoại sinh sống và phía Bắc là một sa mạc rộng lớn không có người ở được che chắn bởi dãy núi Knappnai. Một phần các vùng duyên hải phía nam của Đế Chế là lãnh thổ của 4 vương quốc độc lập nhưng bị Hoàng Đế chi phối: Elbe, Agula, Mudwan, và Công Quốc Lindon. Đế Chế còn có 17 vùng đất nhỏ lẻ nằm rải rác khắp lãnh thổ được gọi là 17 quốc gia chư hầu, những quốc gia này tuy không được tính là lãnh thổ của Đế Chế nhưng lại bị đặt dưới quyền kiểm soát của các thống đốc do Viện Nguyên Lão ở Sadera cử đến.


    1/ Tổ chức chính trị :

    Đế Chế được lãnh đạo bởi Hoàng Đế, người có quyền lực gần như tuyệt đối và có cấp bậc cao nhất về mặt xã hội cũng như quân sự. Dưới hoàng đế là Viện Nguyên Lão Đế Chế cùng các bộ phận khác. Viện nguyên lão là bộ máy hành chính quan trọng nhất ở Sadera với chức đa dạng, từ những nhu cầu dân sự như quản lí dân số, thu thuế, xây dựng, đảm bảo trật tự trị an, quản lí thương mại, nông nghiệp cho đến huy động quân đội cho chiến tranh. Thành phần cấu thành nên Viện Nguyên Lão là thành viên từ các gia đình quí tộc ở trong hoặc ngoại vi Sadera với một số ít ngoại lệ. Đã từng có thời các thành viên trong Viện Nguyên Lão được dân chúng bầu lên thông qua hình thức bỏ phiếu phổ thông nhưng hình thức này đã chấm dứt khoảng 200 năm trước. Hiện nay cách duy nhất để ngồi trong Viện Nguyên Lão là thông qua bỏ phiếu nội bộ. 450 thành viên sẽ bỏ phiếu trực tiếp và có hơn 235 phiếu đồng nghĩa với việc chính thức trở thành Nguyên Lão.

    Về mặt lí thuyết thì Hoàng Đế có quyền lực bao trùm nhưng sự thực thì các quyết định của ông ta bị các Nguyên Lão Nghị Viện chi phối ít nhiều. Ba vị hoàng đế đã bị Viện Nguyên Lão lật đổ và một bị giết khi chỉ mới đăng cơ được hai năm.

    Cấp tiếp theo trong bộ máy hành chính là Thống Đốc. Đế Chế không qui định rõ ràng về việc bổ nhiệm thống đốc. Thông thường một thành phố lớn hoặc một vùng cụ thể sẽ có một thống đốc do Viện Nguyên Lão tiến cử hoặc do chính Hoàng Đế chỉ định nhưng một số khu vực lại không được áp dụng quy định này. Đơn cử thành phố Italica và các vùng phụ cận luôn nằm dưới quyền điều hành của gia đình quí tộc Formal theo thể thức cha truyền con nối hoặc thành phố pháp thuật Rondel được quản lí bởi hội đồng các pháp sư tuy nằm trong lãnh thổ phía Đông.

    2/ Cư dân

    Do lãnh thổ quá rộng lớn và hệ quả của những cuộc chinh phạt liên miên suốt hơn 500 năm, cư dân của Đế Chế rất đa dạng và xáo trộn nhiều theo thời gian.

    Người là thành phần dân cư đông đảo nhất ở Đế Chế với phạm vi sinh sống đa dạng :Thành phố lớn, làng mạc, thị trấn, bến cảng, đồng bằng và vùng núi. Sadera là Đế Chế của loài người và chẳng có gì ngạc nhiên khi thành phần cư dân này nắm trong tay hầu như toàn bộ quyền lực của xã hội và những loài khác đều được xem là thấp kém hơn và phải chấp nhận số phận bị trị.

    Beastman (Thú nhân) là một sinh vật giống người có hình dáng đa dạng nhưng phổ biến nhất vẫn là Tộc Sói, Chân mềm (thú nhân họ Mèo), Tộc Thỏ, Nhân Điểu (Harpy) etc sống lẫn lộn với cư dân loài người và làm đủ nghề từ chiến binh, thợ săn, thợ thủ công, làm nông, người hầu và gái điếm. Tất nhiên vì không phải là người nên Thú Nhân không được phép giữ chức vụ gì trong Đế Chế và thường bị phân biệt đối xử (Các gia đình quí tộc ở Thủ Đô thậm chí còn không thuê Thú nhân làm người hầu). Tộc Thỏ (Trước đây còn gọi là Warrior Bunnies) là thành viên mới nhất trong xã hội Sadera sau khi Đế Quốc tiến quân tiêu diệt Vương Quốc Đồng Cỏ của họ ở Phía Đông hai năm về trước, những người còn sống nếu không bị bắt làm nô lệ thì cũng tự cắt tai mình để hòa nhập cuộc sống mới tốt hơn. Tộc Thỏ khá đặc biệt vì những đứa trẻ được sinh ra toàn là phụ nữ nên mỗi khi muốn sinh sản, họ phải tìm đàn ông loài người hoặc đàn ông của các tộc khác.

    Elve là sinh vật cổ xưa nhất ở Falmart sinh sống trong những làng mạc nhỏ và rừng rậm. Elve có ngoại hình giống người trừ đôi tai dài hơn bình thường. Họ rất xuất sắc trong việc trồng trọt, săn bắn, tạo tác thủ công, phép thuật, âm nhạc hoặc chiến đấu nếu chuyên tâm. Lelei từng nói với Itami rằng cô tin lí do khiến Elve giỏi đến thế là vì họ có một cuộc sống dài gần như bất tử để hoàn thiện các kỹ năng của mình dù chúng khó đến đâu. Mặc dù đa số khu sinh sống của Elve nằm trong lãnh thổ Sadera nhưng họ lại ít khi chịu sự quản lí của Đế Chế. Cuộc sống bất tử khiến Elve sống tối giản với rất ít hiện vật có giá trị nên không trở thành mục tiêu cướp bóc trong khi số lượng ít ỏi cộng thái độ dửng dưng với thời cuộc khiến chính quyền Sadera ngó lơ họ.

    Orc, Troll, Goblin là những sinh vật xấu xí hung tợn và thiện chiến chủ yếu sống trong các hang đá, đồi núi hoang vu. Xã hội của những sinh vật này vô cùng bạo lực và nguyên thủy nên không hề có một làng mạc hay thị trấn nào do chúng xây dựng nên. Đã có thời chúng tà mối họa của những loài khác nhưng kể từ khi đội quân Orc cuối cùng của Morka Trăng Máu bị Đế Quốc Sadera đánh bại thì chúng buộc phải lui về những rừng phía Đông và dãy núi Avalanche quanh năm tuyết phủ. Ở đó, Orc lại tiếp tục công việc cả nghìn năm qua của mình, chém giết lẫn nhau đến khi tận thế ập xuống. Một số Orc và Goblin thông minh hơn đồng loại mình đã đi ra thành thị và trở thành nhà buôn nhưng đại đa số vẫn hành nghề trộm cắp, tham gia các nhóm tội phạm có tổ chức hoặc đi đánh thuê cho quân đội Đế Chế.
     
  14. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    76
    3/ Lịch Sử

    Sự hình thành

    Tính theo lịch của Đế Chế thì thực thể này đã có 587 năm tồn tại. Lịch có mốc thời gian là lễ đăng quang của Aurelius Antoninus, vị Hoàng Đế đầu tiên và nhà chinh phạt vĩ đại. Hơn 1/3 lãnh thổ của Đế Chế có được là nhờ người đàn ông này. Trong khoảng từ năm thứ 4 đến năm thứ 12, Quân đội Sadera đã tiến hành cuộc đại bành trướng đầu tiên của mình khắp lục địa và giành được các thắng lợi quan trọng. Một trong số đó là vượt dãy Romalia ở phía Tây và chiếm Italica để làm bàn đạp cho những cuộc xăm lăng tiếp theo. Ở phía Đông và trung tâm lục địa, đội quân do đích thân Hoàng Đế chỉ huy đã chiếm được các thành phố duyên hải và đẩy lùi các dân tộc du mục xa về phía Đồng Cỏ Lớn (Great Grassland), tạo tiền đề cho những người kế vị ông xây dựng các trung tâm thương mại hùng mạnh, vốn là thứ chủ chốt trong các chiến dịch ở phía Tây sau này.

    Sau khi Aurelius qua đời, con cháu ông ta tiếp tục cuộc chinh phạt. Romulus giao chiến với ba vương quốc kình địch Crix, Arrun và Akandale để tranh giành quyền kiểm soát phần đất dưới rặng núi Knappnai và Romalia nhưng không thành công. Đội quân của Hoàng Đế bại trận và ngay cả bản thân ông cũng mất mạng trên chiến trường. Phải đến năm 68 Akandale mới bị tiêu diệt, Crix cầm cự được thêm mươi hai năm trước khi đội kỵ binh huyền thoại của họ của họ bị Quân Đoàn Invictus (Bất Khuất) nghiền nát trong trận chiến Xe Ngựa Kéo năm 80. Vương quốc phép thuật Arrun nhân cơ hội chiếm lấy những phần đất còn sót lại của đồng minh cũ và đàm phán hòa bình với Đế Chế.

    Thời kỳ suy thoái

    Thế kỷ thứ 2 chứng kiến sự sa sút của Đế Chế. Hoàng Đế Drasus và cháu của ông ta Horas là cặp đôi tai họa cho thần dân suốt hơn 63 năm. Drasus khởi đầu triều đại một cách bình thường nhưng sau một cơn bạo bệnh, ông ta đột nhiên thay đổi tâm tính. Vị Hoàng Đế luôn nghi ngờ có kẻ ám hại nên hiếm khi nào xuất hiện trước đám đông và luôn nấp sau hàng hàng chục cận vệ ngay cả khi ở trong cung điện. Chứng hoang tưởng của Drasus nặng đến mức ông ta không dám cắt tóc vì sợ người thợ có thể là sát thủ được trả tiền để giết mình nên suốt nhiều năm cầm quyền vị Hoàng đế luôn mang một bộ dạng lôi thôi bẩn thỉu. Nhiều người dân ca thán rằng Drasus không giống một Hoàng Đế và rồi các vụ giết người ban đêm bắt đầu xảy ra khắp thủ đô. Trong những năm cuối triều đại của mình, Drasus đã tử hình ít nhất bốn nghìn người nhưng số lượng chết trên đường phố bởi các đội sát thủ của ông ta hẳn phải còn nhiều hơn. Viện Nguyên Lão đã ra tay can thiệp, họ bắt giam Drasus nhưng do tranh cãi về người kế vị nên xét trên danh nghĩa, Vị Hoàng đế điên loạn vẫn trị vị thêm 12 năm nữa trong tình trạng bị giam lỏng.

    Horas kế vị sau khi Drasus chết vào năm 173. Horas không bị điên như bác mình nhưng lại là một kẻ hoang phí vô độ. Suốt hai mươi ba năm cai trị, ông đã làm ngân khố cạn kiệt đến năm lần. Horas thường tiệc tùng xa hoa nhiều tháng và khi chán chê ông sẽ chuyển sự chú ý sang tổ chức giác đấu hoặc xây cung điện. Người ta kể lại rằng Hoàng đế muốn một chiếc thuyền riêng làm bằng vàng để du ngoạn mặc cho các thợ đóng tàu cam đoan rằng một vật như vậy sẽ không bao giờ ra khơi được. Hậu quả của thói chơi ngông này là bốn mươi hai người chết đuối, ngay cả Horas cũng suýt mất mạng nếu không nhờ sự dũng cảm của đội cận vệ.

    Sự điên rồ và hoang phí của hai vị Hoàng Đế chính là nguyên nhân khiến những thập niên đầu của thế kỉ thứ 3 trở thành cơn ác mộng với Đế Chế. Trong khoảng từ năm 202-245, các dân tộc du mục bị Aurelius đánh bại trước đây đã quay trở lại và liên tục đe dọa miền Đông Bắc với các cuộc đột kích chớp nhoáng. Hệ thống đồn bốt yếu kém do thiếu kinh phí từ thời Horas không cản nổi các chiến binh trên lưng ngựa này, trong khi đó một kẻ địch hùng mạnh khác là Niflheim cũng bắt đầu xuất hiện và tranh giành ảnh hưởng với Đế Chế ở duyên hải phía Đông.

    Chiến tranh Sadera – Niflheim lần 1

    Năm 248 Niflheim tổ chức một cuộc xâm lăng lớn vào đồng bằng Sadera bằng đường biển. Tại trận hải chiến ở quần đảo Sương Mù ( gồm ba đảo chắn ở cửa eo biển Ngọc), quân Niflheim chiến thắng oanh liệt. Hai phần ba hải quân Sadera bị tiêu diệt khiến các thành phố hải cảnh quan trọng nhất của Đế Chế hoàn toàn vô phương chống đỡ trước các cuộc tấn công của Niflheim. Aquaticus bị chiếm sau một tuần kháng cự, Romulan thành phố được đặt theo tên của Romulus, cháu của Aurelius bị đốt trụi, phần lớn dân cư bị thảm sát. Lực lượng bộ binh của Niflheim thành lập cứ điểm ở Aquaticus và bắt đầu xâm nhập vào đồng bằng Saderan trong khi hải quân men theo sông Rho tiến về thủ đô.

    12 quân đoàn lê dương được cử đi để đối phó với 150,000 lính bộ binh và 6000 kị binh của Niflheim hừng hực khí thế, trong khi kinh đô buộc phải chuẩn bị cho trận vây hãm đến từ sông Tiris. Hai bên gặp nhau trên cánh đồng Batigon và chiến thắng một lần nữa lại nghiêng về phía đội quân đến từ phía Đông. Hoàng đế Adarian bị bắt tại trận nhưng hai hoàng tử của ông đều chết trên chiến trường. Sự kiện đau lòng này khiến Clementine, trưởng nữ của Adarian phải nhận tước hiệu Hoàng Đế thay cho cậu em út mới năm tuổi rưỡi. Do không còn binh đoàn lành lặn nào trong tay, Clementine đành phải triệu các đội quân ở phía Tây dãy Romaila trở về. 60,000 quân do vị tướng bảy mươi hai tuổi Helius chỉ huy đã vượt dãy Romalia trong bốn ngày, sau này người đời gọi kì tích đó là “Cuộc Hành Quân Thần Thánh”. Helius biết ông không đủ sức để đối đầu trực diện với quân chủ lực của Niflheim ngay cả trong một trận phục kích nên đã cho một cánh quân khoảng 3000 người đánh nghi binh ở thị trấn Tarvik gần Aquaticus nhằm tạo cảm giác rằng ông muốn cắt đường tiếp tế của họ.

    Niflheim đã dính bẫy của vị tướng già, họ tức tốc hành quân ngược trở lại với một đội hình lộn xộn trải dài hơn mười cây số, lính Kỵ Binh Niflheim bỏ xa lính bộ binh và khiến họ trở thành mồi ngon cho kỵ binh của Helius. Cuộc tấn công diễn ra lúc mặt trời đứng bóng, quân trung tâm Niflheim tan rã nhanh chóng sau trận giáp chiến ngắn ngủi và phần còn lại của trận đánh cứ như một cuộc đi săn gà tây, Helius dễ dàng bao vây đánh bại các đội quân rời rạc của đối phương. Tàn quân Niflheim toan rút chạy về Tarvik để tổ chức phòng thủ nhưng sau khi nhận ra rằng đội quân nghi binh của Sadera đã chiếm được thị trấn và cắt đứt con đường về Aquaticus, họ lập tức buông vũ khí đầu hàng. Vào giữa năm 249, lực lượng trên bộ của Niflheim đã hoàn toàn bị đánh bại.

    Hải quân Niflheim tiến hành vây hãm Sadera trong hai tháng. Ở tuần thứ năm, họ phá được tường đối diện sông Tiris và tràn vào thành phố nhưng mọi chuyện chưa chấm dứt ở đó. Quân phòng thủ dựng chuyến lũy trên từng con phố, trên từng cây cầu nội ô và chống trả quyết liệt. Nhiều lúc họ còn suýt đẩy được kẻ xâm lược về phía bức tường. Dù không phải là chiến binh và mang danh phận Hoàng Đế, Clementine vẫn ra chiến tuyến để đốc thúc tinh thần binh sĩ. Trong một trận đánh nhỏ ở quảng trường Athenian, Hoàng đế bị mất một tay lúc hỗn chiến và đó cũng là nguồn gốc của danh xưng Clementine Tay Cụt mà người ta đặt cho bà sau này. Đến tuần cuối cùng, nhận được tin đội quân trên bộ đã đại bại, hạm đội chiến thuyền của Niflheim ngừng cuộc vây hãm và xuôi dòng Rho rút ra biển Ngọc ngay trong đêm.

    Chiến tranh Sadera- Niflheim kết thúc. Clementine tại vị thêm 52 năm nữa, bà qua đời ở tuổi 83 và truyền ngôi cho con của em trai mình là Valerian, lúc đó Đế Chế đã lấy lại được hầu hết sức mạnh của sau hơn một thế kỷ chiến tranh, dịch bệnh và điều hành kém cỏi.

    Các chiến dịch phía Tây

    Valerian không mặn mà với các cuộc tấn công báo thù vào Niflheim do Viện Nguyên Lão đề xuất, việc này gây tổn hại đến mối quan hệ giữa ông và giới quí tộc trong nhiều năm sau đó và cuối cùng dẫn đến cái chết bi thương cho vị Hoàng đế này. Thay vào đó ông đề xuất một nền hòa bình với Niflheim và các quốc gia đồng minh của nó ở bán đảo Vizima để thuận tay giải quyết tàn dư của Arrun, quốc gia ma pháp hùng mạnh giờ chỉ còn là cái bóng năm xưa sau một thử nghiệm phép thuật thất bại gây ra dịch bệnh giết chết phân nửa dân số.

    Sau hai năm chiến đấu, Valerian đã thâu tóm được toàn bộ Arrun, loại bỏ chướng ngại cuối cùng để tiến xa hơn về phía tây. Tuy nhiên tâm nguyện của vị Hoàng đế đầy tham vọng không dễ thành hiện thực nếu các vương quốc phía nam dãy Romalia như Elbe, Agula, Mudwan, và Công Quốc Lindon vẫn còn hiện hữu. Trong bốn vương quốc này thì chỉ có Công Quốc Lindon là thân thiện với Đế Chế, Mudwan hay đứng trung lập còn Elbe và Agula thì chống phá Đế Chế quyết liệt. Năm 314, Đế Chế liên quân với Lindon và bất ngờ xâm lược Agula và Elbe.

    Nhờ vào tài điều quân Mario El Servius, 15 binh đoàn lê dương dễ dàng xâm nhập và đánh úp Agula trong vòng một tháng. Thất bại quá nhanh chóng của đồng minh khiến Elbe chỉ còn cách cố thủ trong tuyệt vọng. Tuy nhiên khi chiến thắng đã nằm chắc trong tay Đế Chế thì một sự cố xảy ra. Việc đám tàn quân Agula vẫn tiếp tục các hoạt động phá hoại hậu phương buộc Mario El Servius phải cắt cử hai binh đoàn lê dương số 3 và 15 trở về bảo vệ con đường tiếp tế chạy ngang lãnh thổ vừa chiếm được. Hai binh đoàn này khi đi qua vùng núi lửa Tuba thì vô tình chạm trán phải con rồng lửa huyền thoại và bị thiệt hại nặng nề. Sáu nghìn người bị chết cháy và hậu quả sau đó còn khủng khiếp hơn. Dân cư Agula xem đây là điềm báo chiến thắng và đồng loạt nổi dậy đánh đuổi quân đồn trú và khiến đường tiếp tế của Mario bị cắt hoàn toàn. Bị kẹt giữa hai đội quân thù địch, Mario phải chọn lựa giữa tấn công Elbe và quay trở lại đập tan quân khởi nghĩa Agula, khai thông đường tiếp tế. Mario chọn cách thứ hai và bắt đầu cho quân vượt qua những con đèo giữa biên giới Agula và Elbe. Tuy nhiên, quân đội của ông gặp phải rất nhiều khó khăn do thời tiết xấu, bệnh tả và những trận phục kích của đối phương. Khi đến được lãnh thổ của Agula, Mario El Servius chỉ còn đúng 5 quân đoàn lê dương rệu rã, không còn đủ lương thực hay tinh thần để tiến hành giành lại Agula được nữa. Ông gửi cho Hoàng đế để xin thêm quân nhưng Valerian thất bại trong việc thuyết phục Viện nguyên lão nên cuối năm 315, Mario được lệnh trở về Italica.

    Chiến dịch phía tây chấm dứt với thất bại của Đế Chế.

    Thất bại này khiến uy tín của Valerian bị lung lay dữ dội. Hoàng đế cố phục hồi danh dự bằng cách tổ chức thêm một cuộc tấn công nữa nhưng không nhận được ủng hộ bởi giới quí tộc lẫn bình dân. Dân chúng cho rằng việc hai binh đoàn số 3 và 15 bị Rồng Lửa tấn công là dấu hiệu chứng tỏ Valerian đã mất đi sự phù hộ của thần thánh và hai trận lụt lớn vào năm 317 và 319 ở Sadera lại càng củng cố thêm quan điểm này của họ.

    Bị giới quí tộc xa lánh và giới bình dân khinh thường trong một thời gian dài, năm 324 Valerian treo cổ tự vẫn ngay trong cung điện.

    Chiến tranh Sadera- Niflheim lần hai (Chiến tranh 60 năm)

    Rút kinh nghiệm từ cha mình, con trai của Valerian là Gaius hoàn toàn ủng hộ một cuộc chiến với kình địch Niflheim theo ý của Viện Nguyên Lão. Năm 328, sau bốn năm lên ngôi, Hoàng đế Gaius tuyên bố quần đảo Sương Mù là lãnh thổ của Đế chế bất chấp phản đối từ Niflheim. Trước đây, Valerian đã hứa sẽ xem quần đảo như lãnh thổ trung lập và không một hạm đội Đế Chế nào được neo đậu ở đó. Đây là cách Valerian thể hiện thiện chí hòa bình với cựu thù vì quần đảo Sương Mù có vị trị rất trọng yếu với lãnh hải của Niflheim. Hành động của Gaius xem như là dấu chấm hết cho hiệp đinh hòa bình hơn 20 năm nhưng Niflheim không làm được gì nhiều với tình hình rối ren trên bán đảo Vizima mà họ đang gặp phải, đặc biệt là khi một số đồng minh quan trọng như Anoch và Lorencia đang có ý định nhảy phe khi thấy thế cục đang nghiêng về Đế chế Sadera. Trong khi đó các bộ tộc du mục bắt đầu chuyển hướng tấn công xuống phía nam sau khi hệ thống phòng thủ của biên giới của Sadera được cải thiện dưới thời Clementine và Valerian.

    Tuy kéo dài đến 60 năm dưới triều của ba vị Hoàng đế nhưng đỉnh điểm cuộc chiến này lại nằm ở thời kì đầu khi Gaius còn đang tại vị với một trong những vị tướng giỏi nhất trong lịch sử Sadera, Anthony El Deconte.

    Mùa hè năm 329, 50.000 quân dưới quyền tướng Anthony El Deconte tấn công tỉnh Myre giáp biên giới Sadera và bán đảo Vizima, thuộc chủ quyền của vương quốc Pricia nhưng lại do Niflheim quản lí. Họ nhanh chóng chiếm được quyền kiểm soát tỉnh này trong vài tuần lễ do quân phòng thủ Niflheim ở đây được trang bị và tổ chức kém cỏi. Niflheim lập tức cùng các đồng minh tổ chức một đội quân lên đến 200.000 người ra ứng chiến nhưng con số đó không duy trì được lâu. Trong một hội nghị ở pháo đài Kinix, các tướng lãnh của các quốc gia nam Vizima chỉ đích danh Anoch và Lorencia là những kẻ phản bộ tráo trở vì chỉ đem đúng 4.000 lính đến trong khi con số đáng lẽ phải là 15.000. Một trận cãi vã nổ ra và kết quả là hai nước này cùng một số ít lãnh chúa chư hầu lập tức dẫn quân ra về. Tuy đây là thảm họa về mặt chính trị nhưng dưới góc nhìn quân sự, quân liên minh Vizima vẫn còn rất mạnh so với 50.000 quân của Anthony và trong trận đánh gần ngôi làng Horn, họ đã nghiền nát kẻ xâm lược và đuổi chúng khỏi Myre.

    Năm 331, Đế Chế lại tấn công Myre nhưng với một chiến thuật khác. Anthony không cố gắng phòng thủ lãnh thổ vừa chiếm được nữa mà tiến hành cướp phá và đốt trụi những gì không mang theo được. Hai tuần lễ sau liên quân Vizima lại được điều động để ứng chiến nhưng khi họ đến được Myre thì quân Sadera đã rút lui về biên giới để nấp sau các pháo đài an toàn của mình.

    Năm 332, Các binh đoàn lê dương quay trở lại Myre nhưng do gặp phải sức kháng cự dữ dội từ quân phòng thủ nên Anthony quyết định lui quân sau hai tuần chiến đấu. Hai năm sau, ông lại dẫn quân sang Vizima nhưng mục tiêu lần này là Floinia, một quốc gia trù phú trên bán đảo chứ không phải Myre. Anthony tiếp tục sử dụng chiến thuật cướp phá như cũ nhưng với một mức độ triệt để hơn. Thủ đô Norstein bị đốt cháy bốn ngày sau khi nó thất thủ, những ngôi làng và thị trấn xung quanh cũng bị tàn phá, hoàng tộc Floinia bị bắt làm tù binh, Anthony thậm chí tuyên bố tình yêu của mình với công chúa Floinia và cưới cô ta làm vợ thứ (Có người nói ông ta cưỡng dâm cô dâu hoặc toàn bộ cuộc hôn nhân là vì lí do chính trị).

    Quá bực bội vì bị xâm lấn liên tục trong năm năm, Niflheim quyết định phản kích trả đũa nhưng cái khó là họ lại không có nhiều mục tiêu có giá trị. Hai vùng đất giáp ranh với Myre nếu không là vùng đồng cỏ thì cũng là rừng rậm hoặc đầm lầy với những tiền đồn và pháo đài vững chắc, không xứng đáng với công sức bỏ ra. Mục tiêu duy nhất mà hội đồng cai trị của Niflheim thấy đáng giá là quần đảo Sương Mù, xuất phát điểm cho nhưng cuộc xâm lăng của Sadera bằng đường biển trong tương lai. Vào thế kỉ thứ 4, hải quân Niflheim vẫn còn là bá chủ trên biển với những hạm đội được huấn luyện kỹ lưỡng và thiện chiến. Trong cuộc chiến tranh trước, họ dễ dàng đánh bại hải quân Sadera nên Niflheim hoàn toàn tự tin vào khả năng chiến thắng của mình trong lần này.

    Trận hải chiến lần thứ hai trên quần đảo sương mù diễn ra kịch liệt và kết thúc bằng một kết quả hòa. Hải quân Niflheim bị thiệt hại quá nặng nên không thể tấn công chiếm đảo trong khi đó hải quân Sadera lại không đủ thuyền lớn để đánh một trận dứt điểm với đối phương. Tuy đạt được một số thành công nhất định nhưng Niflheim vẫn bị sốc trước sự tiến bộ của đối thủ và thấy vị thế số một trên biển của mình bắt đầu bị lung lay. Trong cuộc tấn công tiếp theo vào năm 337, Niflheim huy động số lượng thuyền chiến lớn hơn, trong đó có cả cả hạm đội Avion huyền thoại của họ, và dành chiến thắng thuyết phục ở trận hải chiến Sương mù lần ba.

    Tuy nhiên, những chiến thắng trên biển bị lưu mờ bởi cuộc xâm lấn lần thứ năm của Anthony El Deconte vào Vizima. Khác với bốn lần trước, lần này Anthony mang theo một đội quân khổng lồ với khoảng 150.000 lính bộ binh chủ lực, 40000 lính trợ chiến và 6000 kỵ binh. Myre lại bị đánh chiếm và đốt cháy, nhưng lần này là lần tàn phá nặng nề nhất, gần như toàn bộ dân cư của nó đã bị thảm sát hoặc phải bỏ trốn, thành vách bị phá hủy và giếng nước bị bỏ độc. Người ta gọi đây là Cuộc Hãm Hiếp cuối cùng vì Myre có nghĩa là “Cô gái” trong ngôn ngư cổ. Đội quân của Anthony dễ dàng tái chiếm Floinia, rồi sau đó là Speize và Fireland. Các đội quân liên minh được thành lập vội vã để đối phó với Anthony liên tiếp phải thất bại, đặc biệt là trong trận Rừng Đước Đỏ, nơi năm vị vua của Liên Quân Vizima bị bắt, mất tích hoặc tử trận. Vua của Anoch nằm trong số người bị bắt, khiến nước này phải rời bỏ Liên Minh và ký hiệp định hòa bình với Đế Chế.

    Mặc dù không bị thiệt hại nặng về binh sĩ ở Rừng Đước Đỏ nhưng sự ra đi của Anoch khiến Liên Minh bị chia rẽ khá nhiều. Niflheim với vị thế lãnh đạo bán đảo Vizima quyết tâm tiếp tục chiến đấu nhưng niềm tin vào chiến thắng của những quốc gia đồng minh bắt đầu bị lung lay sau khi Anoch đầu hàng. Lorencia ra mặt công kích đường lối của Niflheim và dọa sẽ rời bỏ Liên minh vì họ thà có một tên Hoàng đế bạc nhược Gaius còn hơn để một gã cuồng tín lãnh đạo. Trước tình hình này, hội đồng cai trị Niflheim không còn cách nào khác ngoài tấn công xâm chiếm Lorencia và sát nhập nước này vào lãnh thổ mình trước khi nó kịp đầu hàng Đế chế. Đòn trừng phạt mạnh tay này đã phát huy hiệu quả, các quốc gia đang lưỡng lự đành chọn cách tiếp tục chiến đấu nếu không muốn chịu chung số phận với Lorencia. Tuy nhiên, cái nhìn của các quốc gia đồng minh về Niflheim đã không còn như xưa nữa, nó dần trở thành một Sadera thứ hai với cách hành xử độc đoán.

    Đội quân viễn chinh của Sadera trú đông ở miền bắc Vizima vào năm 340 và án binh bất động cho đến tháng 3 năm sau khi tuyết đã tan hẳn. Niflheim nhận ra rằng nguyên nhân chính khiến Anthony trì hoãn lâu đến vậy là do việc tiếp tế cho đạo quân hơn 200.000 người rất phức tạp. Việc hải quân Niflheim thống trị mặt biển khiến quân Sadera phải hoàn toàn dựa vào xe kéo và sức ngựa để tải lương thực, lính thay thế trên một đoạn đường dài 400 dặm từ trung tâm Đế Chế và khi con đường này bị gián đoạn do thời tiết, Anthony sẽ không mạo hiểm hành động.

    Những đề xuất cắt đứt đường tiếp tế liền được đưa ra, từ dùng hải quân đổ bộ lên bở biển đến việc tìm cách chiếm lại vùng đất hoang tàn Myre để thọc sâu vào hậu phương của Anthony nhưng chẳng có cái nào được hội đồng Niflheim chấp thuận. Peter Wett, một trong những vị tướng của Niflheim đề nghị kết đồng minh với Sakkos và Norithos, hai bộ tộc du mục từng xâm lấn miền Đông Sadera và Bắc Vizima trước đây và dùng họ để tấn công hai tỉnh biên giới giáp ranh với Myre. Peter Wett cho rằng việc tìm cách chọc thủng phòng tuyến của Anthony là tốn thời gian và quá mạo hiểm khi vị trí của quân đội Sadera hiện giờ rất có lợi trong việc phòng thủ và Anthony chắc chắn đang giăng một cái bẫy đợi sẵn Liên quân tấn công. Peter Wett tin chắc khi hậu phương bị tấn công Anthony sẽ phải từ bỏ vị trí và rút về Myre.

    Tướng Wett đã đoán đúng một phần. Sau khi con đường tiếp tế bị cắt, Anthony đã phải rời bỏ vị trí nhưng không phải để rút lui. Kẻ thù số một của Vizima điều toàn bộ quân mình có vào Frieland, một vùng đồng bằng thấp với những con lạch nhỏ, tỏ rỏ ý định đánh một trận quyết định vận mệnh của bán đảo này. Đây cũng được xem như lời khiêu chiến cá nhân với Peter Wett vì Frieland là đất đai của dòng tộc ông ta.

    Hai đội quân chọn một khu vực trống trải có tên Bradford để làm nơi giao chiến. Anthony mang đến 130.000 lính bộ binh và 5000 ngựa chiến trong khi Peter Wett có trong tay 120.000 lính bộ binh và 13000 kỵ binh (phân nửa số đó là dân du mục Sakkos và Norithos đồng minh).

    Mặc dù số lượng bộ binh của cả hai không chênh lệch nhiều nhưng các binh đoàn lê dương của Sadera nổi tiếng với kỷ luật thép trong chiến đấu và trang bị tốt nhất Falmart nên Peter Wett biết mình phải trông đợi vào lực lượng kỵ binh đông đảo hơn ở hai cánh.

    Khi đợt tấn công thứ nhất của bộ binh được cả hai tung ra, Kỵ binh Niflheim chủ động sử dụng đội hình tam giác và phi nước đại về phía Kỵ binh Sadera. Anthony phản ứng bằng cách rút hết kỵ binh bên cánh trái sang cánh phải và trực tiếp chỉ huy toàn bộ 5000 người ngựa ứng chiến với các chiến binh du mục và giao phó nhiệm vụ phòng thủ cánh trái cho hai binh đoàn lê dương. Quân Sadera dành được chiến thắng bất ngờ trước các đội quân cưỡi ngựa thiện chiến nhưng vô kỉ luật của Sakkos nhưng họ lại mất cánh trái. Kỵ binh Niflheim tỏ ra quá mạnh so với sức chịu đựng của hai binh đoàn lê dương.

    Peter Wett lập tức tung ra đợt tấn công thứ hai sau khi phá được cánh trái của Đế chế. Sau đó, vị tướng Niflheim đích thân dẫn quân dự bị để tăng cường cánh trái trước sự tấn công của Anthony. Theo như những gì được kể lại sau này thì hai chủ tướng đã có màn song đấu dữ dội. Anthony chém trúng đầu đối thủ hai lần nhưng mũ giáp đã cứu mạng Peter Wett. Chủ tướng Niflheim đáp trả bằng cách đánh gãy xương vai Anthony với một cây chùy tuy bản thân ông bị thương đủ chỗ, nặng nhất là vết thương dưới cánh tay.

    Trận đấu bị gián đoạn khi cận vệ của hai bên xông vào ứng cứu và cả hai vị chỉ huy phải trở về để chỉ đoạn đợt tấn công thứ ba.

    Nhưng đợt tấn công thứ ba không bao giờ được triển khai. Quân Sadera mất hết lực lượng kỵ binh của mình và chỉ còn khoảng 100.000 lính lê dương (30.000 chết hoặc bị thương) nên Anthony quyết định giữ trận địa phòng thủ. Trong khi đó Niflheim mất khoảng từ 55.000 đến 60000 lính trong hai đợt tấn công và còn khoảng 6000 ngựa chiến, không đủ để đánh bật đối phương.

    Hai vị tướng dàn quân và đôi khi thay đổi đội hình để xem thứ phản ứng của địch thủ cho đến khi mặt trời lặng. Không có cuộc tấn công nào diễn ra vào ban đêm mặc dù Wett đã có một phút sơ hở khi cho di dời nơi đóng quân thêm nửa dặm do nguồn nước bị nhiễm bẩn. Anthony nhìn thấy những ánh đuốc di chuyển lên phía bắc trong đêm và vì cứ tưởng Wett đang âm mưu cắt đường lui của mình nên cũng dời vị trí phòng thủ thêm một dặm. Vào buổi sáng ngày thứ hai, khoảng cách của hai đạo quân đã lên đến một dặm rưỡi và vì chẳng có ai muốn tấn công trước nên chiến trường ngày hôm đó thuộc về lũ quạ và chó rừng tranh nhau xác chết trên cánh đồng trống. Ngày thứ ba của trận Bradford, hai bên đạt được thỏa thuận về việc thu gom tử sĩ của mình và trong đêm thứ tư, Anthony bí mật rút toàn bộ quân đội khỏi Frieland và trở về Floinia trước khi rời khỏi xứ này vào năm 342 để trở về lãnh thổ Sadera vào cuối năm.

    Dù trận Bradford không có kết quả rõ ràng nhưng Peter Wett vẫn được xem là người chiến thắng vì khiến Anthony phải cụp đuôi bỏ chạy khỏi lãnh thổ Vizima. Tuy nhiên việc rút quân của Anthony gây ra nhiều mối họa cho Niflheim và các đồng minh hơn là lợi ích. Sakkos và Norithos, hai bộ tộc du mục không thỏa mãn với chiến lợi phẩm thu được khi tấn công các vùng đất rộng người thưa của Đế Chế, đã cho các đội quân du mục mình tràn xuống miền Bắc Vizima và lấp chỗ trống do Anthony để lại. Sakkos cướp phá xứ Pricia năm 344 và 345, Norithos hoành hành khu vực duyên hải phía đông Vizima cho đến năm 348 mới bị đánh bật. Người dân Vizima gọi đây là “Cuộc chiến tranh tiếp diễn” hoặc “Sự Phản Bội của Sakkos”. Peter Wett thiệt mạng vào năm 349 khi đoàn tùy tùng của ông bị một nhóm cướp phá (Raiding Party) của Sakkos phục kích trên đường trở về Frieland, toàn bộ bán đảo Vizima để tan ba ngày.

    Chiến tranh Niflheim- Sadera tiếp tục với những cuộc đột kích nhỏ ở biên giới và tranh chấp trên biển cho đến khi Gaius qua đời do bệnh sởi vào năm 354. Anthony mất do tuổi già bốn năm sau đó khi cuộc chiến đã bước sang năm thứ 30.

    Các thành viên còn lại của hoàng tộc Lorencia, do Đế Chế và Anoch hậu thuẫn, đã tiến hành kháng cự dài 25 năm để chống lại sự đô hộ của Niflheim. Lorencia dành lại được độc lập vào năm 379 và tuyên bố đứng trung lập trong cuộc chiến giữa Niflheim và Sadera. Anoch gia nhập lại liên minh Vizima trong một khoảng thời gian ngắn trước khi tổ chức này tan rã vào năm 385 do những bất đồng của các quốc gia thành viên với Niflheim.

    Sadera chiếm lại quần đảo Sương mù năm 362 nhưng lại để mất nó về tay của Niflheim ba năm sau đó. Quần đảo này liên tục đổi chủ bốn lần trong mười năm tiếp theo, có lúc nó được một băng hải tặc lớn do nữ hải tặc Ero cầm đầu chiếm giữ. Cho đến khi hiệp ước hòa bình được kí kết năm 388, quần đảo vẫn thuộc quyền kiểm soát của hải quân Niflheim.

    Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, sự đoàn kết trêb bán đảo Vizima đã hoàn toàn tan vỡ. Những quốc gia bất mãn với Niflheim sau gần sáu thập kỷ chiến tranh liên miên, thiệt hại nặng nề trong những lần đối đầu với Đế Chế và quân Du mục, đã tách ra thành lập các liên minh riêng rẻ hoặc đứng trung lập. Sau năm 388, Niflheim phải đối đầu với các mối đe dọa mà không có sự hậu thuẫn của toàn bộ bán đảo và điều này đã dẫn đến việc Niflheim đánh mất Vizima lẫn vị thế đối trọng với Sadera một thế kỷ sau đó.

    Về phía Đế Quốc Sadera, tuy là dành được chiến thắng nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ. Sáu mươi năm chiến tranh đã làm xáo trộn xã hội, kinh tế, quân sự và chính trị của Đế Chế từ gốc đến ngọn và là tiến đề cho cuộc Nội Chiến (407-427) sau này.

    (Kết húc phụ lục phần 1. )
     

Chia sẻ trang này