[Fanfic] Gate : Pax Americana

Thảo luận trong 'Văn Học' bắt đầu bởi Rumer, 29/10/18.

  1. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    59
    Author : Rumer

    Nội dung:

    Thế kỉ 21, Một cánh cổng kì lạ xuất hiện tại trung tâm Ginza, Tokyo Nhật Bản, nó từ đâu đến và ai tạo ra nó thì vẫn còn là điều bí ẩn. Từ phía kia cánh cổng, Một đội quân gồm những chiến binh cổ đại liền xuất hiện và tàn sát dân chúng. Quân đội nhật phản công và sau khi dành thắng lợi, họ quyết định tiến qua cánh cổng bí ẩn đó để truy bắt kẻ chịu trách nhiệm cho “thảm kịch Ginza”. Quân đội Đế chế và lực lượng phòng vệ Nhật (JSDF) chạm trán nhau thêm lần nữa tại đồi Alnus và chiến thắng vẫn nghiêng về phía những binh đoàn thế kỉ 21.

    Biết rằng thất bại là không tránh khỏi, Pina, công chúa của Đế chế và cũng là người đầu tiên tiếp xúc với JSDF đề xuất một nền hòa bình. Nhật bản chấp nhận và tuyên bố với các nước trên thế giới rằng “ Thế giới mới” là một đặc khu chính trị và kinh tế nằm trong lãnh thổ Nhật.

    Fanfic lấy cột mốc từ chương 49-50 của bộ manga. Ngay tại thủ đô đế chế, Sadera, Hoàng đế Molt Son Augustus đột ngột lâm bệnh, thái tử Zorzal một kẻ tàn nhẫn và bốc đồng chớp lấy thời cơ tuyên bố mình là nhiếp chính, âm mưu phá hỏng hiệp ước hòa bình mong manh vừa đạt được.

    Phía bên này, các cường quốc khác cũng bắt đầu khởi động các kế hoạch xâm nhập Đặc Khu.

    Cảnh báo : Các nhân vật trong fanfic có thể hơi khác so với trong manga- anime Gate thus JSDF fought there.
     
  2. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    59
    CHƯƠNG 1

    KAYLE

    Vùng Biển Phía Nam Nhật Bản – 3: 00 sáng

    Kayle giật mình tỉnh giấc khi chiếc trực thăng đi vào vùng thời tiết xấu trên biển nam Nhật Bản. Khoang máy bay bắt đầu rung lắc, còn động cơ thì cứ phát ra những âm thanh rầm tú đáng sợ, làm người ta dễ nghĩ đến chuyện nó sắp nổ đến nơi. Nếu một mai ngày tận thế đến thì ắt hẳn nó phải bắt đầu như thế này đây. Khi cô còn chưa kịp hoàng hồn thì một cơn chấn động nữa tràn đến, lần này có vẻ nguy hiểm hơn, Kayle ngã nhào khỏi ghế, đầu đập vào tường.

    Mặc kệ cơn đau choáng váng, cô liền vùng dậy, thắt lại đai an toàn rồi khom người lại. Bên ngoài, mặt biển tối đen nhưng tĩnh lặng và lạnh lẽo. Một tín hiệu tốt, trong trường hợp xấu nhất, phi hành đoàn buộc phải bơi một quảng đường dài đến bờ. Cơ trưởng vẫn chưa phát tín hiệu cấp cứu, và khi trực thăng đâm sầm xuống mặt nước thì có lẽ đã quá muộn. Họ không có phao cứu hộ và cũng ai chẳng cần đến nó làm gì nếu chiếc Black Hawk vỡ tan tành sau cú va chạm. Không đủ thời gian để vớ theo thứ gì được nữa, cô kết luận, họ phải thoát khỏi chỗ này thật nhanh trước khi biển cả nhấn chìm mọi thứ. Giờ thì Kayle chỉ mong dòng nước kia đừng quá lạnh lẽo vì sự thật là cô bơi rất kém.

    “Cố lên nào!” giọng cơ trưởng vang lên trong bộ đàm, trầm và nặng, có mùi Whiskey .

    “Chirst, chúng ta rơi nhanh quá.” Cơ phó hốt hoảng kêu lên.

    “Lo để ý bảng thủy lực đi.” Chirst quát “Havey! bám chặt vào.”

    Havey là tên của chàng xạ thủ súng máy, hai mươi tuổi, người Colorado, răng trắng và má lúng đồng tiền. Mặt mày cậu ta giờ tái mét, tuyệt vọng bám lấy đai bảo hộ như những người bị đắm tàu, nhất quyết không chịu buông mảnh ván bé nhỏ.

    Nước bắt đầu bắn lên cửa sổ, và Kayle biết trực thăng đang bay rất thấp. Chừng hai mươi mét là cùng. Đèn cứu hộ tự động bật lên, đỏ sẫm, thê lương như màu máu, còi hú inh ỏi. Khi những ngọn sóng nhấp nhô bắt đầu xuất hiện trên ô cửa kính mờ đục thì cô biết chuyện gì sắp xảy ra

    Năm giây nữa thôi, không hơn. Linh tính đang mách bảo cô. Một tiếng động lớn, vỡ toang và thế là xong

    Hít thật sâu, Kayle chờ đợi. Cô đã nhẵn mặt với thần chết, một lão già cô đơn, ảm đạm, không phải người đàng hoàng gì cho cam. Lão vung tay vào không khí, nắm lấy trái tim của một kẻ đáng thương nào đó, rồi ung dung nhìn nó lạnh dần. Thường thì các ông bà cụ quá tuổi thất thập là con mồi dễ xơi, nhưng gần đây lão lại chú ý tới đám thanh niên và những hoạt động sôi nổi của họ dưới nắng sa mạc. Phải nói là thần chết đang ăn nên làm ra, tuy có vài vụ thất bại nhưng đâu có hề gì vì lão luôn để lại một cái hẹn khi ra đi, như nhắc mọi người nhớ rằng sớm muộn gì họ cũng gặp lại lão.

    Nhưng hôm nay tử thần lại hào phóng tặng thêm cho cô một cái hẹn nữa .

    Chiếc Black Hawk làm một cú xoay người tuyệt đẹp trên mặt biển, lực quán tính làm cơ bắp cô căng lên, ngực nhói đau và hai tai điếc đặc. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong vòng vài nhịp tim, và khi Kayle kịp định thần lại thì nó đã kết thúc rồi. Chirst vừa có một màn cứu thua ngoạn mục, tựa như Roy Jones mắt sưng vù, hàm bị lệch tung đòn đấm móc hạ James Toney trước khi chuông hiệp mười hai kịp đổ.

    “Thoát rồi!” Chirst reo lên vui sướng “Năm mét có hơn đấy.”

    Kayle trộm nghĩ liệu hơi men đang làm ông ta cao hứng hơn bình thường không vì cô thấy hai người còn lại thì chỉ biết ngồi chết lặng trên ghế. Đây có lẽ là lần đầu tiên họ bước một chân xuống mộ, một trải nghiệm không lấy gì làm hay ho.

    Khi trực thăng đã lên cao hơn một chút thì đèn cứu hộ và còi cũng tắt ngấm. Bóng tối tràn vào khoang, tham lam chiếm hết hết mọi khoảng không lớn nhỏ, trừ gương mặt của Havey, u sầu và mệt mỏi dưới ánh trăng mờ xuyên qua lỗ châu mai.

    Trong cảnh tranh tối tranh sáng, Kayle cố tìm lại hành lí, nó đã văng đi đâu mất sau lần chết hụt vừa rồi. Gọi là hành lí nhưng thật ra cô chỉ mang theo vài bộ quần áo, kem đánh răng và khăn tắm trong cái Ba lô có đính logo Fort Bragg, hậu quả của việc bị lôi ra khỏi giường lúc hai giờ sáng. Giờ muốn tìm nó cũng không phải là chuyện dễ vì trong cái khoang rộng chừng bốn mét vuông này là cả một mớ hỗn độn: bưu phẩm từ quê nhà gửi đến, gói lại bằng giấy bạc văng tứ tung trên sàn, vài cái thùng gỗ trông giống thùng đạn cối nằm xếp chồng lên nhau, tạo thành một bức tường màu xanh xám chắn mất lối đi đến buồng lái.

    “Tuyệt thật” Cô lầm bầm “Họ gọi mình dậy lúc hai giờ sáng và nhét mình lên một cái xe thồ.”

    Bất cứ khoảng trống nào còn sót lại đều được tận dụng triệt để, chỉ cần hạ băng ghế phụ xuống là sẽ có chỗ cho vài block bia, một ai đó, mà cô đoán là Havey đã nảy ra ý tưởng biến trầng trực thăng thành một tác phẩm nghệ thuật như cái mà ta thường thấy trong các nhà thờ ở Rome. Nàng Megan Fox tóc đen khiêu gợi trong bộ bikini màu da báo, cạnh bên là Scarlett Johanson, tóc vàng bốc lửa nằm dài trên bãi biển cùng dòng chữ “Chào mừng đến Malibu”. Đàn ông sinh ra để làm chiến binh cũng như phụ nữ sinh ra để thỏa mãn chiến binh, Nietzsche chắc chắn thế và do bọn đàn ông thì tin sái cổ nên Kayle đành chấp nhận trừ việc cô không nghĩ mình sẽ thỏa mãn bất cứ ai trong số bọn họ.

    Phải mất chừng năm phút để Havey lấy lại bình tĩnh, cậu lấy tay lau đi những giọt mồ hôi trên trán nhưng mắt vẫn lơ đãng nhìn về đất liền, nơi ánh đèn thành phố chỉ còn là những đốm mờ trong sương. Với một cảm giác có phần ích kỷ, cô hy vọng tình trạng u ám này kéo dài, ít ra là cho đến khi họ đến Tokyo vì không biết bao nhiêu lần, cô phát giác cặp mắt ấy đang hau háu nhìn mình. Đó là một cái nhìn làm người khác bối rối, cứ như họ đang trần truồng vậy.

    “Havey, kiểm tra thiệt hại đi. Cậu có hai phút. Thiếu tá không sao chứ?”

    “Vẫn còn sống” Cô đáp cộc lốc “Chuyến bay không như tôi mong đợi.”

    Dù thấy mình hơi bất lịch sự nhưng nghĩ lại cô có quyền nói năng như thế vì nói gì thì nói, cô là người có cấp bậc cao nhất ở đây.

    “Xin lỗi về sự cố vừa rồi” Ông ta cười cười “Thường thì thời tiết không hay nhặng xị như vậy đâu nhưng cô biết rồi đấy, chúa thích làm theo cách riêng của ông ta. Tôi luôn tin rằng nếu chúng ta …”

    “Tôi không tìm thấy đồ của mình.” Kayle bực bội ngắt lời, việc mò mẫm trong bóng tối đang bào mòn lòng kiên nhẫn của cô, trong khi đầu vẫn còn đau như búa bổ bởi cú va chạm .

    Anh chàng xạ thủ nghe vậy liền tháo dây bảo hộ ra, nhảy vào giúp. Một vài lần, tay họ vụng về chạm vào nhau và cô là người chủ động rút tay lại. Havey đang cười, Kayle không thấy rõ mặt cậu nhưng cô biết thế. Tám tháng ở Fort Bragg là một trời kinh nghiệm, họ sẽ tìm đủ mọi cách để chạm vào bạn từ phòng ăn ra bãi tập. Sĩ quan huấn luyện, đồng đội của cô, thợ nấu, thợ bảo trì và bảo vệ, tất cả bọn họ. Cánh đàn ông dường như bị ám ảnh bởi việc đó, hoặc có thể do chính Kayle mới là người bị ám ảnh nên đâm ra hoang tưởng. Đời nào có chuyện mọi người đều thông đồng với nhau được, cô tự nhủ vậy.

    “Trong này tối quá” Havey nói

    “Đợi một chút” khi ông ta vừa dứt câu thì đèn bật sáng. Lần này không phải màu đỏ nữa mà là một màu xanh lá mạ. Chàng xạ thủ súng máy không gặp mấy khó khăn để tìm thấy cái Balo và khi cô định nói cảm ơn thì nụ cười đáng ghét ấy lại xuất hiện. Dưới ánh đèn mờ mờ, nó càng trông tởm lợm hơn.

    “Tôi thắng rồi nhé trung úy” Havey tinh quái nói, không kiềm nổi phấn khích “Mười đô! Không! hai mươi chứ.”

    “Mười thôi” Chirst gạt đi nhưng khá yếu ớt “Đừng có tham lam”

    “Hai mươi. Thiếu úy Cooper có thể làm chứng.”

    Thoạt nhiên, cô không hiểu họ đang nói về cái gì nhưng nó ắt phải liên quan đến một vụ cá cược. Copper khẳng định rằng là đàn ông thì không nên hứa cụi và Chirst phải miễn cưỡng gật gù. Không gian bị náo động bởi sự sôi nổi của ba người bọn họ, tuyệt nhiên chẳng ai nhớ đến việc mình vừa suýt mất mạng. Chirst rất muốn biết Havey định làm gì với số tiền ấy và ông ta cũng tự vạch ra một kế hoạch khá lằng nhằng, đầy những khả năng nếu mình là người chiến thắng.

    “Đi bơi. Hồ bơi của quân đội có giá vé năm đô” Havey nói “Số còn lại tôi sẽ mua một chai Labor”

    “Nó có giá một trăm năm mươi đô đấy” Copper tặc lưỡi“không đủ.”

    “Không có vấn đề gì, tôi vớ được một mánh lớn hai trăm đô vào ngày hôm qua rồi. Ngài có biết DD không? Cái tên đẹp mã bên khu Nanto ấy?”

    “Có” Chirst gật gù “Nghe đồn là con cưng tay nghị sĩ nào đó, lại giàu có nữa chứ.”

    Hậu duệ của những ngài tay to mặt lớn luôn nhận được sự chăm sóc đặc biệt - Từ “đặc biệt” ở trong quân đội luôn được hiểu theo cách tiêu cực- Buồn cười thay khi một bộ phận trong quân ngũ lại chính là nguyên nhân khiến số còn lại vác ba lô xung trận. Có hàng nghìn lí do để người ta đi lính. Người thì vì lòng yêu nước thuần túy, chiến đấu bảo vệ giá trị Mỹ - Một thứ mà Kayle vẫn chưa thể xác định được là cái gì. Người thì xem chuyện đi lính như một nghề, nhưng phần đông chọn kiểu đầu húi cua chỉ để đi tìm sự công bằng.

    Thanh niên xuất thân từ các gia đình làm công ăn lương khó lòng chạm ngón tay lên bãi cỏ của dân thượng lưu. Đó là sự thật phũ phàng dù điệp khúc “Một giấc mơ mỹ” chưa bao giờ là quá cũ. Những thanh niên như Havey thích thú với cái ý nghĩ rằng chiến trường là nơi họ lập lại trật tự vốn dĩ đã bị đảo lộn từ lâu, nơi tiền, địa vị trở nên vô nghĩa, và chỉ cần một chút liều lĩnh cộng với may mắn, họ sẽ có quyền đứng ngang hàng với lũ hợm hĩnh kia. May mắn thì cô không chắc nhưng về phần liều mạng thì Kayle biết họ có thừa.

    Suốt thời gian ở trại huấn luyện, cũng may cho Kayle vì ngoài việc cô là phụ nữ ra thì họ không chú ý đến những thứ khác lắm. Chuyện sẽ còn tệ hơn nếu ai đó biết được cha cô là trung tướng Ron.

    “Hắn luôn mồm bảo rằng mình phục vụ đất nước, và rằng sẽ thật không công bằng nếu hắn ngồi ở nhà nhìn đồng bào mình đổ máu.” Havey nói, tất nhiên là bằng giọng hài hước. “Vậy đấy. Quí ngài DD đạo mạo, quí ngài DD sẵn sàng từ bỏ căn biệt thự bên hồ để đến đây với chúng ta! Toàn là bịa đặt. Hắn ra đây chỉ vì số người vác cái bụng đến gõ cửa nhà hắn đã vượt quá năm”

    “Sao cậu biết?” Copper ngạc nhiên.

    “Nếu không muốn người khác biết thì đừng bao giờ làm. Dù gì thì tôi cũng cho hắn một vố. tôi thách hắn cưa đổ con bé người Nhật ở của hàng hóa phẩm trong một tuần” Havey nhúng vai “Nếu tôi thua thì buộc phải trồng cây chuối và sủa gâu gâu mỗi khi gặp hắn trong một tháng. Khỏi phải nói gã tức tối đến mức nào khi vừa chào hỏi được vài câu thì con thì bé chỉ gật đầu rồi chạy biến. Nó không đáp lại gã một lời và tôi thắng cược”

    Kayle phải thừa nhận cu cậu liều mạng thật. Chirst thì lại đinh ninh Havey chơi ăn gian.

    “Cậu đã gian lận?”

    “Chỉ một nửa thôi. Tôi không hề thông đồng với con bé đó và hơn nữa tôi biết nó bị câm lâu rồi.”

    Hai người phi công cười phá lên. Kayle cũng cười theo, chỉ là một một cái nhếch môi rất nhẹ nhưng vậy cũng đủ làm Havey hài lòng. Cô không phải là loại lạnh lùng, xa cách và cũng chưa bao giờ muốn trở thành người như thế.

    Kể từ cái ngày Louie bỏ nhà ra đi với vài trăm đô dằn túi, quyết chí ngắm thế giới qua gian bếp của Bobby Van's Steakhouse, trong khi ở bên ngoài, các ngài tài phiệt, những tay chơi cổ phiếu mới phất, và CEO của Goldman Sach đang nhâm nhi rượu vang cùng món bò hầm kiểu pháp thì những gì từng thuộc về anh: Khẩu súng săn của anh, phòng của anh, trách nhiệm của anh và quyền thừa kế - cha cô kiên quyết gạch tên anh khỏi di chúc - đều được đẩy sang cô.

    “Kể từ nay, con là con trai ta .Đừng làm ta thất vọng như thằng Louie’’

    Cha cô đã nói như thế sau khi Louie đi được khoảng một tuần

    Đối với Kayle, lời của ông giống một mệnh lệnh hơn là thỉnh cầu. Đến giờ cô vẫn còn thắc mắc tại sao mình không có chút phản kháng nào, dù là nhỏ nhất trước quyết định kì lạ ấy. Cô đáng nhẽ nên tìm cách từ chối hoặc khăn gói ra đi. Nhưng không, cô chỉ im lặng và chấp nhận. Có lẽ vì chuyện quá bất ngờ, đường đột nên cô không biết phải làm sao cho đúng hoặc là do cô sợ cha mình lên cơn đau tim nếu nói không. Louie bỏ đi đã là quá sức chịu đựng. Thêm một lần nữa sẽ là đòn chí mạng. Dù luôn cố tỏ ra là kẻ cứng rắn gai góc nhưng có một lần nọ, cô thấy trung tướng ngồi cạnh lò sưởi với khẩu súng săn của Louie trên tay. Ông dùng khăn lau sạch lớp bụi bám trên báng súng rồi cẩn thận đặt nó về chỗ cũ.

    “Một ngày nào đó, có lẽ thế” Cha cô nói rất khẽ như cố không cho ai nghe thấy.

    Lúc bé, Kayle luôn nghĩ mình sẽ lên xe hoa với một nghị sĩ hoặc tướng tá đẹp mã khi lớn lên và thực sự cô đã được nuôi dạy để làm chuyện đó. Cô học trường tư, có thầy dạy kèm riêng để đảm bảo cô sẽ biết lướt mười ngón tay trên đàn dương cầm và đọc Hermet vanh vách bằng ba thứ tiếng. Kayle mơ về những buổi mít tinh ở Boston, ở Carolina và những bữa tiệc rượu Brandy, nơi phòng khách luôn rộn rã tiếng cười của các mệnh phụ phu nhân, trong khi cánh đàn ông bận bàn chuyện cử tri, phổ thông đầu phiếu. Mẹ cô đã có ba mươi tám năm hạnh phúc với một cuộc sống như thế và hiển nhiên cô cũng muốn được như bà.

    Dù đã năm năm trôi qua, cô vẫn không thôi nghĩ vể cái ngày cô đứng trước gương trong bộ đồ đi săn quá cỡ của Louie, súng trường đeo trên vai, chiếc nón tai bèo xấu xí che mất những lọn tóc mai vàng cô từng tự hào một thời mà than thở

    “Mình đang làm cái quái gì thế này?”.

    Cha cô dạy cô mọi thứ mà ông đã cố dạy cho Louie khi anh lên mười: săn bắn, cắm trại, nghệ thuật lãnh đạo, truyền thống quân đội. Có vài khó khăn nhưng rồi cô cũng vượt qua được. Kayle bắn rất khá, khá hơn so với cô nghĩ. Trong cuộc thi tác xạ toàn bang một năm sau, cô dành giải nhì chung cuộc. Thành tích này thôi thúc cô điền tên vào trường bắn tỉa lục quân nhưng cha cô liền nhăn mặt.

    Ông đã dọn lối cho cô vào học West Point dưới sự đỡ đần của một vị đại tá từng mang ơn ông, vô tình thay nay là hiệu phó của học viện. Đó bước đầu tiên để Louie và nay là cô có một chân trong Lầu Năm Góc. Kế hoạch phải nói là rất hoàn hảo, Trung tướng Ron đã lường hết mọi chuyện trừ cái tính cứng đầu của thằng quí tử. À không, ông cũng đâu ngờ cô cũng cứng đầu y như vậy. Cái viễn cảnh phải hy sinh cuộc sống cũ chỉ để đổi lấy ba mươi năm ngồi sau bàn giấy, dự những buổi tọa đàm nhàm chán và chờ đợi đặc ân từ đám bạn già đầy uy quyền của cha mình khiến Kayle phát ngán. Không! Ngàn lần không. Cha đã biến cô thành một người lính, và cô sẽ sống như một chiến binh đúng nghĩa.

    Kì lạ thay, lúc đó chuyện phản kháng thật quá ư là dễ.

    Một ngày cuối tháng giêng, trời vẫn còn se lạnh, người ta thấy một chiếc Lincol dừng lại trước cổng Fort Bragg, ngôi nhà của các lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ. Kayle bước xuống xe với một niềm vui khó hiểu, khác hẳn với ngài trung tướng, rầu rĩ và mệt mỏi lê bước như một kẻ sắp ra pháp trường.

    “Ta không biết nói gì ngoài việc chúc con may mắn” Cô thấy hai má ông rung lên “Nhưng nếu sau này con đổi ý thì …”

    “Không đâu” Kayle ngắt lời ông. Cô sẽ không bỏ cuộc giữa chừng “không bao giờ”

    Thế là Kayle sải bước đi vào trong, để rồi sáu năm sau, cô lại ước gì mình đã nói “Vâng”

    “Đó là vụ hai trăm đô, thế còn vụ mười đô?”

    Kayle vô tư lự hỏi, giống như khi ta vô tình nghe được chuyện trái khoái trong quán rượu rồi mời người kể vài ly bia, hy vọng họ bồi vào một cái gì đó thú vị hơn nữa. Tuy nhiên, chỉ có sự im lặng là hồi đáp. Tự dưng cả ba người bọn họ nín bặt như thể cô vừa phạm thánh.

    Không hiểu sao cô lại có cảm giác trò cá cược vừa rồi có liên quan đến mình. Mấy trò chơi khăm của đám lính tráng với cấp chỉ huy thì không có gì lạ vì chính cô cũng từng bỏ ra năm dollar ra để đoán cái ngày đại tá Peterson đệ đơn ly dị bà vợ đàng điếm. Tiền thắng cược nào có quan trọng lắm khi niềm vui duy nhất ở đây là đừng bao giờ để bị phát hiện.

    “Trung úy Chirst?” Cô chờ đợi một câu trả lời.

    “À thì…” ông ta ấp úm “Chỉ đơn thuần là về nhiệm vụ ấy mà.”

    “Nhiệm vụ? Nhiệm vụ của ai đây?”

    “Của cô, thưa thiếu tá” Chirst e dè đáp

    Kayle tựa lưng vào ghế, ngồi bắt chéo chân rồi ném cho Havey một cái nhìn đe nẹt khiến mặt mày cậu ta biến sắc. Phải thừa nhận là việc dọa nạt cấp dưới có cái thú vị riêng của nó.

    Chirst hít một hơi rồi nói :

    “Thiếu tá biết đấy, chúng tôi không hay nhận nhiệm vụ đưa đón cấp sĩ quan. Thường thì những chuyến bay sớm chỉ để chuyển thư và bưu phẩm còn sót lại từ đợt trước mà thôi. Lúc thấy cô ở sân bay, tôi đã nói với Havey rằng cô giống Demi Moore nhưng anh ta lại cho là không.”

    Nhiều phụ nữ sẽ nhảy cẩn lên khi người ta so sánh họ với nữ minh tinh một thời nhưng Kayle lại thấy khó hiểu vì Demi Moore và cô đâu có điểm gì chung, ngay cả màu tóc cũng khác.

    “Trong A Few Good men. Cô ấy đóng vai nữ luật sư hải quân đến vịnh Cuba để điều tra án mạng. Tôi nghĩ cô sắp biện hộ cho anh binh nhì nào đó ở Tokyo, có vẻ tôi đoán trật rồi.”

    Cô nhớ là mình chưa hề nhắc đến nhiệm vụ ở Tokyo, cũng như việc cô là ai và từ đâu đến. Các phi công thường chỉ biết mỗi tên hành khách, nơi đi và điểm đến, ngoài ra thì họ không được cung cấp gì thêm.

    “Cái Logo trên túi của cô, thưa thiếu tá.”

    Havey nhanh nhảu nhảy vào và giải thích. Cái logo đính trên đó giờ như chứng minh thư của cô vậy. Thật sự thì số luật sư quân đội xuất thân từ Fort Bragg gần như là con số không.

    “Cô thuộc lực lượng đặc biệt sao?” Cooper tỏ vẻ ngạc nhiên “Seal hay Delta?”

    “Spectre” cô đáp.

    Đó là cái tên khá lạ lẫm nhưng nếu là người từng lăn lộn ở Iraq hay Afganishtan thì họ phải biết đơn vị này. Năm 2007, Hoa Kỳ nhận ra rằng họ không thể chống lại lối đánh du kích đô thị theo cách thông thường được. Cuộc xung đột gần thập kỷ chỉ quanh đi quẩn lại trên những con phố đầy bụi, những khu nhà tồi tàn vùng ngoại ô, nơi quân nổi loạn tha hồ tổ chức phục kích, còn mấy tay diều hâu ở Washington thì đứng ngồi không yên với đám người biểu tình ở đồi Capitol mỗi khi đạn cối đánh sập khu nhà nào đó. Do vũ khí hạng nặng tỏ ra kém hiệu quả nên họ đành quay sang sử dụng các đội đặc nhiệm.

    SEAL và Delta là những người đầu tiên vào cuộc, họ tham gia các trận càn cùng lính thủy đánh bộ, những vụ đột kích lúc năm giờ chiều, khi đối phương còn bận đọc kinh cầu nguyện. Không còn cảnh nhà cửa tan hoang vì bom đạn nữa, thương vong cũng giảm rõ rệt, tướng lĩnh hoan hĩ, dân Mỹ vui mừng, tất cả đều hạnh phúc trừ người Iraq – tất nhiên họ lúc nào mà không phiền muộn. Nhưng rồi các chỉ huy chiến trường cũng nhận ra họ đang lãng phí nguồn lực của hai đơn vị tinh nhuệ nhất Hoa Kỳ. Nhiệm vụ chính của SEAL là tiêu diệt các đối tượng giá trị chứ không phải ngày nào cũng xuống phố chơi trò mèo vờn chuột với phiến quân được và tổn thất cũng dần bất đầu xuất hiện. Quân đội cần gấp một lực lượng lì lợm, không ngại nguy hiểm chuyên trách mảng đó nên cuối năm 2009, Spectre ra đời. Đội có một trăm năm mươi thành viên, đa phần là tân binh như Kayle, một ban tham mưu độc lập nhưng toàn là nhân viên CIA và ở đâu có bọn Langley thì chỗ đó luôn bốc mùi hắc ám.

    Trách nhiệm của Spectre là tìm và diệt càng nhiều quân nổi dậy càng tốt, một công việc vinh quang, khiến ai trong đội cũng nghĩ mình như người hùng trong mấy tháng đầu tiên nhưng đó là chỉ trước khi CIA tiếm hết mọi quyền hành. Các nhiệm vụ bắt đầu trở nên bẩn thỉu, họ thường xuyên xông vào nhà người khác lúc nửa đêm, lôi kẻ tình nghi ra khỏi giường rồi ném lên xe tải, đôi khi cô còn nhận được lệnh bắt luôn cả đàn bà trẻ nít vì có tên khôn lõi nào đó trong ban tham mưu nghĩ cái trò gây sức ép luôn cần thiết trong trường hợp bẻ răng hay trấn nước mất tác dụng. Dưới đôi cánh bảo hộ của cục tình báo, Spectre tha hồ sử dụng mọi phương thức tấn công tàn bạo miễn là hoàn thành nhiệm vụ

    Tuy không trực tiếp tham gia vào mấy vụ tra khảo nhưng cô cũng nghe được vài lời bàn tán. CIA có hẳn một trại tù ngay tại Iraq, họ ngụy trang nó thành nhà máy phân bón, tường bê tông bao quanh và lính Spectre bảo vệ chúng. Điều kiện giam giữ thì khỏi cần bàn, tù nhân còn thở được ngày nào thì khổ ngày ấy. Báo chí đánh hơi được liền mò đến, CIA nhanh chóng dọn sạch chỗ đó rồi chuyển tù nhân đến nơi khác. Họ còn láu cá trao cho Spectre một cái tên dài lằng ngoằng “Đơn vị xây dựng, tái thiết, cung ứng vật tư nông nghiệp Iraq thời hậu Sadam do Hoa Kỳ tài trợ” để tránh bị nghi ngờ.

    Do dính líu quá nhiều đến hoạt động tra tấn bắt bớ nên quân đội phát hoảng rồi nhường luôn quyền điều hành Spectre cho phía tình báo. Một nước cờ khôn ngoan, nhỡ một mai chuyện có bị vỡ lỡ thì họ chỉ cần phủi tay nói “Spectre thuộc CIA nên chúng tôi không liên quan.” Cái ngày đó cuối cùng cũng đến, chỉ có điều sớm hơn họ tưởng mà thôi.

    “Spectre xuất hiện ở đây thì sớm muộn gì cũng có rắc rối.” Chirst rầu rĩ rồi buông thêm một câu “Chiến tranh là không tránh khỏi.”

    Người đàn ông này cũng là môt cựu binh của “Chiến dịch Iraq tự do”, cái tên có phần mỹ miều cho một cuộc phiêu lưu thảm họa của nước Mỹ.

    “Tôi không ngại đánh nhau đâu” Havey nhúng vai. “Tôi đã sẵn sàng”

    Kayle thì không thể nói mình sẵn sàng được. Ngay từ cái lúc gã chiến binh thánh chiến ngã nhào từ bang công tầng ba xuống đất với một cái lỗ to bằng đồng xu trên bụng, cô biết mình chưa bao giờ sẵn sàng. Mỗi lần siết cò, mỗi lần máu bắn ướt mặt tường, thảm trải sàn và rèm cửa, một phần trong cô lại chết đi. Người ta đã dạy cô cách giết chóc hoàn hảo nhất nhưng lại quên nói cho cô biết làm sao để sống chung với nó. Sau Iraq hoang tàn, bạo lực và một Afganishtan cũng hoang tàn bạo lực không kém thì cô chỉ muốn đến một chỗ yên bình, nơi cô có thể dành cả buổi sáng viết báo cáo, ăn trưa trong căn tin, dạo chơi trên những con phố mà không cần sợ cái thùng rác ở góc đường tự dưng phát nổ. Cha cô nói đúng. Ba mươi năm làm văn phòng và chờ chiếu cố không hẳn là ý tồi.

    “Sẽ không có chiến tranh đâu. Spectre bị giải thể rồi. Kẻ thù không còn thì nó cũng chẳng cần tồn tại làm gì. Tôi đến đây với tư cách là sĩ quan huấn luyện.”

    Kayle cố trấn an Chirst mà thực sự cô nói thế chỉ để tự trấn an chính mình nhỉ? Một cú điện thoại khẩn từ Tokyo, một chuyến bay vội vã, mệnh lệnh thì mờ mịt. Có chuyện gì đó rất kinh khủng đang diễn ra và tệ hơn hết là cô hoàn toàn không biết đó là gì.

    “Cánh cổng.” Cooper khẳng định “Chỉ có thể là nó mà thôi”

    Nghĩ lại, Kayle thấy chuyện này cứ như đùa. Một vật thể kì quái tự dưng xuất hiện ngay tại khu vực nhịp nhịp nhất của Tokyo, một trận tắm máu giữa JSDF với những kẻ xâm lược cưỡi rồng và kị sĩ mặc áo giáp lưới, một chiến dịch trã đũa qui mô kết thúc với chiến thắng tuyệt đối của người Nhật. Ngay cả khi súng vẫn chưa thôi nổ và người vẫn chưa thôi chết trên những con phố đổ nát của Syria thì truyền thông vẫn ngập trong đống tin tức về một đất nước viễn đông và một thời kì hoàng kim của khai phá, thám hiểm. Liệu mọi người sẵn sàng gây chiến với nhau vì nó không nhỉ?

    Kayle toan tiếp tục câu chuyện thì Chirst cắt ngang.

    “Đã đến Tokyo thưa thiếu tá, thời gian hạ cánh dự đoán là 4: 25 sáng.”

    Kayle thoáng nhìn qua ô cửa, con tim cô đập rộn ràng theo từng làn sóng phấn khích. Tokyo không làm cô thất vọng, nó đẹp rực rỡ trong thứ ánh sáng nhiều màu, các khu dân cư riêng rẽ được xâu lại với nhau bằng những con đường uốn lượn và những tòa nhà chọc trời đứng sừng sững, đầy kêu hãnh, thách thức cái lạnh tháng mười. Một thành phố sầm uất giống y như trong trí tưởng tượng của cô miền Tây Virginia. Nếu như Kayle, một thiếu tá, một người Mỹ thú nhận rằng mình không biết một thành phố lớn thì trông ra làm sao, người ta sẽ cười phá lên. Trước khi vào quân đội, thị trấn Hasen là nơi gần ánh sáng đô thị nhất mà cô từng đặt chân đến, sau đó cô chỉ biết Bagdad, một thành phố cũng nổi tiếng đông đúc nhưng người dân cứ tối tối lại ở lỳ trong nhà, còn ban ngày, họ chẳng dại gì mà thò đầu ra đường. Nói chung, Kayle không biết tí gì về New York, Washington hay Los Angeles trừ những thứ có trên tạp chí, phim ảnh và mục quảng cáo nhà đất.

    Khi họ bay ngang trung tâm thành phố, Kayle đề nghị Chirst bay thấp hơn để cô có thể thấy rõ con phố bên dưới. Chirst vui vẻ làm theo và cô không ngại nói cảm ơn ông với thái độ chân thành nhất.

    “Lần đầu cô đến Tokyo sao? Ấn tượng chứ?” Chirst hỏi

    Đáng nhẽ cô phải nói đây là lần đầu tôi thấy một thành phố thực sự nhưng lại thôi.

    Cánh cổng mà Cooper nhắc đến ở bên khu Ginza, ở đây thì cô thể không thấy nó được. Xa về phía tây, vươn lên giữa những tòa nhà cao tầng là tháp truyền hình Tokyo, công trình cao nhất nhì thế giới lộng lẫy trong ánh đèn Neon xanh màu biển. Cô đã từng nhìn thấy tòa tháp trên mặt báo nhưng giữa việc ngắm nghía một kỳ quan kiến trúc qua khung ảnh cỡ 6x9 và trông thấy nó bằng đôi mắt trần thịt thì đúng là khác nhau một trời một vực. Nó to và cao đến nổi những tòa nhà cao nhất Tokyo chỉ như những cây nấm lùn dưới gốc đại thụ và đẹp đến mức Kayle không tìm được từ ngữ nào diễn tả được.

    Chirs không hề dấu diếm ý định lượn quanh cái tháp vài vòng nhưng do sợ mấy tay điều phối không lưu sẽ nhảy dựng lên nên đành bỏ cuộc.

    “Các anh sẽ về Iga ngay hay ở lại một hai hôm?”

    “Về ngay hôm nay, thưa thiếu tá. Tám hoặc chín giờ sáng là chậm nhất. Máy bay cần được bảo trì trước khi cất cánh.”

    “Vẫn còn đủ thời gian cho điểm tâm. Các anh tham gia cùng tôi chứ?”

    “Một mênh lệnh?” Ông ta huýt sáo

    “Còn tùy” Cô nhúng vai. “Nhưng anh có thể tạm xem đó là một lời mời. Giờ thì lượn vài vòng quanh cái tháp truyền hình xem nào, tôi sẽ chịu trách nhiệm.”

    “Tuân lệnh” Chirst và Cooper đồng thanh trong niềm vui sướng.

    Mặc xác cái gì đang ở phía trước. Trong lúc này, tất cả những gì cô muốn là tận hưởng cảnh tượng huyễn mỹ trước mắt mà thôi.
     
    Kitr thích bài này.
  3. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    59
    CHƯƠNG 2

    HART

    Trời mưa suốt cả tuần ở Tokyo. Mưa bắt đầu rơi từ hôm thứ hai, đến hôm thứ năm thì cứ như một trận bão, và khi người ta bắt đầu hy vọng về một ngày đẹp trời thì nó lại mưa tiếp. Khu phía tây đã bị ngập, công binh liền vác xẻng đào một cái mương nhưng nước lại chảy lênh láng sang nhà ăn tập thể nên họ đành phá nó đi. Sau vài hôm làm việc dưới cái lạnh thấu xương và ướt sũng, cả bọn đi kết luận rằng căn cứ đang nằm trong một vùng trũng, rằng có đào hay xới tiếp cũng không ăn thua và việc cầu nguyện cho mưa đừng rơi xem chừng khả thi hơn.

    Đại tá Hart Sayer đứng trên bậc tam cấp của khu nhà sĩ quan, mắt hướng về khoảng sân đối diện, hắt một hơi đầy bực dọc. Đã gần sáu giờ sáng mà trên cái sân rộng gần ba trăm mét vuông không có lấy một bóng người, trừ ba bốn chiếc áo mưa lượn lờ gần hàng rào bảo vệ như những bóng ma. Cánh quân y nằn nặc xin ông cho hoãn các hoạt động huấn luyện thường ngày lại vì theo họ để binh sĩ phơi mình dưới thời tiết như thế này chẳng khác gì làm bia cho bệnh sưng phổi. Sau ba mươi năm lấy doanh trại làm nhà, Hart không thích ý tưởng này chút nào, việc thiếu tiếng kèn Trumpet và bốt nện vào mỗi sáng cứ như sự trừng phạt, nhưng cái trách nhiệm giữ cho các đội đặc nhiệm luôn ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu làm ông chỉ còn biết cách đồng ý .

    Nước mưa bắn lên bộ quân phục của Hart khi ông tiến về phía sở chỉ huy. Đó là một căn nhà hai tầng cũ kĩ màu xám, vốn đã vô chủ từ lâu trước khi Hart đến đây và thấy được tiện ích của một căn hộ có ít cửa sổ, nằm ở rìa ngoại ô hẻo lánh, xứng đáng làm trụ sở tạm thời của lực lượng đặc nhiệm. Người lính đứng trong trạm gác vội dập gót chào khi thấy ông đến, một người khác xuất hiện từ hư không cùng với một chiếc ô, anh ta tháp tùng ngài chỉ huy trưởng đến tận cửa rồi mới trở về vị trí cũ. Hart bước vào trong, cởi áo khoác và mũ rồi đi lên lầu,ít ra trong này cũng làm ông thoải mái đôi chút, khô ráo và sạch sẽ.

    Nhân viên trực điện đài vẫn đang ngáy ngủ trên ghế sofa, và còn khoảng một tiếng nữa mới đến giờ làm việc nên ông không định đánh thức anh ta dậy. Dù đã đến Nhật Bản ít lâu nhưng đồng hồ sinh học của ông vẫn cứ chạy như hồi còn ở Nam California thành thử trong ngày luôn có những khoảng thời gian trống nhạt nhẽo. Hart đi đi lại lại quanh bàn làm việc, ngước mắt nhìn lên kệ sách, với tay lấy một cuốn nhưng sau đó lại đặt nó về chỗ cũ. Ông không đọc sách hay xem tivi vào buổi sáng mà chỉ thích nghe Raido, một thói quen có từ thời niên thiếu sống với ông nội trong căn nhà gỗ ở miền tây Arizona, nơi mà vào những năm sáu mươi, điện và truyền hình vẫn còn là thứ quá xa xỉ. Tokyo cũng có đài phát thanh nhưng khổ nổi không có kênh tiếng Anh nào, chỉ toàn tiếng Nhật và Hart hoàn toàn mù tịt về thứ ngôn ngữ nghe lạ tai này.

    Nước Nhật là một xứ sở bí ẩn, ngay cả người dân của nó cũng có cái gì đó rất kì lạ. Nhiều lúc, ông cũng phải đặt câu hỏi về độ tin cậy của người đồng minh Nhật Bản. Họ thích hay căm ghét nước Mỹ? Thật khó để biết được. Ở Panama, Iraq, Afganishtan hay Yemen thì chuyện có phần đơn giản hơn, phân nửa dân số ở đó muốn ông chết, số còn lại chỉ mong ông biến đi cho khuất mắt.

    Có một dạo, ngài đại tá nảy ra ý tưởng dò xét thái độ của người Nhật. Ông vận quân phục chỉnh tề với ba ngôi sao bạc, hai trái tim tím cài trên áo, đón chuyến xe buýt đầu tiên đến nhà ga đông đúc nhất Tokyo và ngồi lì ở đó hàng giờ đồng hồ. Mặc dù không hút thuốc nhưng Hart ngậm một cái tẩu trên miệng, cốt để nhại lại hình ảnh của tướng Mc Arthur, người mà ông cho rằng đã hằn sâu trong tâm trí của dân Nhật. Thành thật mà nói, ông đã mong chờ những cái liếc mắt, bĩu môi nhưng cuối cùng chẳng nhận được gì. Họ hoàn toàn lờ ông đi, như thể ông không có ở đó và điều đó không có nghĩa là họ thù địch. Chưa khi nào trong đời ông cảm thấy bức bối đến thế.

    Là sĩ quan thuộc lực lượng tác chiến Đặc biệt, Hart thừa biết chiến trường ngày nay không đơn thuần chỉ là chạy và bắn nữa, nó đòi hỏi ông phải có một hiểu biết nhất định về cư dân bản địa và dùng những hiểu biết đó như một lợi thế, nhưng giờ ngay cả chuyện họ là thù hay là bạn ông còn lo chưa xong huống hồ gì dám nghĩ đến chuyện tiếp theo. Hart phải thừa nhận đây là khởi đầu có phần tồi tệ khi ông phải phối hợp với người Nhật trong những nhiệp vụ sắp tới dù cả đời ông luôn tự cho mình là kẻ lạc quan.

    Ngài đại tá tự pha cho mình một tách cà phê rồi ngồi vào bàn làm việc. Cách giết thời gian hữu hiệu hiện giờ là đọc tiếp bộ tài liệu mật do CIA gởi đến, một thứ nhìn chung khá vô tích sự. Tất cả tin tình báo về Đặc Khu bí ẩn đều được cung cấp bởi Nhật Bản và họ chia sẻ chúng một cách tằn tiện. Đến giờ thì Hart chỉ biết ở bên kia cánh cổng có một quốc gia đa chủng tộc được gọi là Đế Chế, ngoài ra thì ông không có thông tin gì thêm. Tuần trước, ông phải gọi một cú điện than phiền đến Đô đốc Flint vì họ gởi đến danh sách các loại hoa được người dân Đế chế yêu thích trong khi cái ông cần là một tấm bản đồ,đã vậy ở đầu mỗi trang tài liệu luôn bắt đầu với dòng chữ:

    Đây là thông tin chưa được kiểm chứng, một số được dựa trên quan sát cá nhân và những ghi chép không rõ nguồn gốc từ nền văn hóa bản địa.”

    “Thế có nghĩa là sao? ” Ông lầm bầm “Tức là không thể tin tưởng vào những gì mình đọc được à?"

    “Tức là họ chẳng biết gì hết” một giọng nói phát ra từ phía cửa

    Hart ngước mắt nhìn lên thì chỉ thấy cái dáng người cao gầy quen thuộc. Nhiều đồng đội đã ra đi trong những buổi liên hoan hoặc trong quan tài nhưng người này vẫn còn ở đây.

    “Emerson. Anh dậy sớm thế?”

    “Thời tiết lạnh lẽo không tốt cho khớp gối lắm. Tốt nhất là đừng nằm lì một chỗ quá lâu.” Emerson chậm rãi bước vào phòng, mặt nhợt nhạt như thường lệ. “tôi ngồi được chứ?”

    Hart không trả lời, chỉ hắng một tiếng và tiếp tục công việc. Sau từng ấy năm, ông vẫn không hiểu tại sao ông bạn của mình cứ giữ khư khư mấy cái cử chỉ lịch sự rườm rà mãi. Có lẽ là do xuất thân một trời một vực nên ông vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng.

    Hart gặp Emerson tại trại huấn luyện Braka khi được gởi sang Afganishtan làm cố vấn năm 1983. Ngay từ giây phút đầu tiên, ông đã có ác cảm với người thanh niên tóc màu bạch kim, hàm khỏe, đeo kính gọng tròn chỉ vì anh ta không thuộc tầng lớp của ông. Bọn người thượng lưu ở West point có thói quen nhắc cho Hart nhớ nguồn gốc nhập cư Ireland nên bất cứ khi nào nhìn thấy một tên trong số bọn chúng, Hart gần như chỉ muốn lao vào đấm một trận ra trò. Các Mujahideen năm đó cũng nhận ra khác biệt giữa hai người bọn họ, dù cả hai đều mặc cùng mặc một màu quân phục, cùng phụng sự một đất nước. Trong khi Trung úy Emerson đẹp trai và lịch lãm như một nhà quý tộc thì Hart lại mang nét thô kệch của dân vùng Arizona. Emerson đại diện cho tất cả những gì Hart căm ghét, từ thái độ dửng dưng đến cái đầu chải chuốt quá đáng nhưng ông đành gác chuyện đó qua một bên vì phía trước là cả một cuộc chiến dài gian khổ.

    Sau vài lần nếm mùi lửa đạn, nhìn thấy máu của kẻ thù hoặc chiến hữu thắm trên cát, Hart mới phát hiện ra người đồng sự cũng không tệ như ông nghĩ. Emerson Wilkes là một kẻ mộng mơ, một quí tộc khắc khổ và một người lính đầy cay đắng. Chính tinh thần quả cảm nặng tính cải lương ấy làm lòng đố kị trong ông dần phai đi, và như một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu với cái kết có hậu, ông đã quyết định kết bạn với Emerson.

    Mà thật sự thì Hart không bao giờ cảm thấy hối hận về quyết định ấy. Nếu không nhờ Emerson và gia đình Wilkes thì ông còn lâu mới ngồi vào vị trí này được. Bản tính bốc đồng khiến Hart luôn là sĩ quan đầy tiềm năng nhưng cũng làm ông khó mà leo cao.

    “Có gì mới không?” Emerson hỏi rồi chỉ tay vào mớ giấy từ Hart đang cắm cúi đọc

    “Tôi đã xem qua nó. Cũng vô dụng như những lần trước. Hai chương đầu có vẻ ổn, ít ra anh cũng biết thế giới mới không man rợ nhưng ta tưởng. Phần còn lại thì chỉ làm anh nhức đầu bới thuật ngữ của dân otaku.”

    Ota..ku ? cái từ này hình như ông đã nghe ở đâu đó. Có một điều rất là khó chịu khi học tiếng nhật, một số từ quá dài để nhớ trong khi số khác lại quá ngắn và dễ lẫn lộn.

    “Otaku, những kẻ nghiện manga hay anime, người nhật hay gọi như thế. Còn nhớ đám thanh niên ăn vận lòe loẹt trong hội chợ lần trước không ? Cosplayer, một dạng của Otaku.”

    Cái này thì ông không bao giờ quên được. Đám Cosplayer ấy khiến mấy cái quần ống toe và băng đô của dân Hippie trông chẳng khác gì sự cáy tháy vô hại.

    “Cà phê không ?”

    Hart vội láy sang chuyện khác trước khi Emerson kéo ông vào mấy chủ đề chán ngắt. Hôm nay là một ngày ủ dột và ông không thích bắt đầu nó với những thứ dễ làm ông nổi cáu.

    “Không đường nhé. Tôi thích cà phê Columbia.”

    Vì không phải là người sành cà phê nên Hart đành để Halminton xoa đôi bàn tay mảnh khảnh quanh cốc cà phê Bolivia với hy vọng là ông bạn già của ông không nhận ra sự khác biệt, dù gì Columbia và Bolivia cũng nằm cùng một châu lục.

    “Tôi e rằng có vài tin xấu” Emerson nhấp một ngụm nhỏ, nhăn nhó đặt cái cốc xuống bàn “Có vẻ chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm hộ tống một phái đoàn ngoại giao ở Đặc khu, theo như cái cách mà họ nói bóng gió trên truyền hình thì có lẽ là vậy.”

    Hart biết việc Hoa Kỳ can dự vào Đặc Khu chỉ là vấn đề thời gian. Nhật Bản không thể dùng kế hoãn binh lâu hơn được nữa, họ có hai chọn lựa: Mất đồng minh hoặc chấp nhận chia sẻ quyền lợi. Ông không ngạc nhiên khi họ chọn cái thứ hai, nhất là khi có khối kẻ ngoài kia chỉ muốn thấy dân Nhật ăn cỏ.

    “Và nếu anh định hỏi chúng ta có bao nhiêu thời gian thì không nhiều đâu, chừng một tuần hoặc hơn.”

    “Lạy chúa.” Hart thất vọng. Chừng ấy thì không đảm bảo được gì “Làm thế quái nào mà Đô Đốc nghĩ có thể tiến hành một vụ xâm nhập trong một tuần được, thậm chí tôi còn không có lấy một tấm bản đồ”

    “Không phải Đô Đốc. Mệnh lệnh trực tiếp từ Nhà Trắng và nên nhớ rằng đây không phải chiến dịch quân sự” Emerson nhúng vai “Một Sứ mệnh ngoại giao, tôi tin là nó được gọi như vây.”

    “Cũng như nhau thôi !” Hart bực bội “Họ muốn gọi nó là gì cũng được. Bất cứ khi nào binh sĩ của tôi bước ra khỏi nước Mỹ thì đó là chiến tranh.”

    Chẳng ai muốn nghe mấy chuyện đánh nhau vào lúc này. Từ Wincosin đến New Orleans, người ta nắm lấy tay nhau và hát Kumbaya còn các chính khách thì suốt ngày ra rả với cái mớ thông điệp hòa bình, ổn đinh thịnh vượng. Hai mươi năm, ba cuộc chiến, Hart biết nước mỹ đã quá mệt mỏi, thêm một cái quan tài phủ cờ nào nữa chỉ khiến họ điên lên thôi.

    Nhưng đó không hẳn là thứ khiến Hart lo lắng. Những nhiệm vụ phức tạp là sở trường của lực lượng đặc biệt. Tất cả binh lính trong đơn vị đều là những người dày dặn trận mạc và từng chiến đấu cùng ông ở Iraq. Họ từng tiến hành nhiều vụ khó khăn hơn nhiều với mức thương vong thấp.

    “Vấn đề ở chỗ” Emerson khẽ nâng cặp kính, và như thường lệ ông biết mình sắp nghe cái gì đó rất xấu “Người Nhật chỉ cho một đoàn ba mươi người vào Đặc Khu, không hơn không kém và Tổng thống đã đồng ý.”

    Họ muốn tự sát chắc. Hart chỉ muốn như thét lên. Một phái đoàn ngoại giao ít nhất cũng đã hơn hai mươi người, và nếu họ chỉ được phép cử ba mươi thì chỉ có sáu bảy lính đặc nhiệm làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn. Đó sẽ là một thảm họa nếu họ bị tấn công, không có hỏa lực yểm trợ, hoàn toàn đơn độc. Ông không hề nghi ngờ khả năng của những chàng trai do ông đích thân đào tạo nhưng chỉ cử đi một tiểu đội thì chẳng khác gì muối bỏ bể. Ông hy vọng ai đó đã nói cho Tổng Thống biết kế hoạch này phi lí đến mức nào.

    “Tôi lại nghĩ họ thích nó” Emerson dường như đọc được suy nghĩ của Hart “Nga và Trung Quốc sẽ gào lên nếu quân đội Mỹ ồ ạt tràn sang Đặc khu, một nhóm không quá ba mươi người thì dễ chấp nhận hơn.”

    “Dễ chấp nhận hơn ?” Hart châm chọc “Nếu ba mươi cái xác được xem là dễ chấp nhận thì tôi không có gì để nói.”

    Ngài phó chỉ huy không nói gì thêm, chỉ thở dài và thưởng thức cốc cà phê. Cũng như ông, Emerson hiểu rõ những rủi ro trong nhiệm vụ này, nhưng giờ họ đâu có thể làm gì hơn ngoài lựa chọn một đội xuất sắc nhất và cầu nguyện chứ ?

    Đúng tám giờ sáng, bản danh sách phái đoàn được gởi đến bằng máy Fax. Người thư kí mang nó đến cho Hart cùng với một bản copy. Ông có phần nhẹ nhõm khi chỉ có hai mươi hai cái tên trên giấy, đồng nghĩa với việc ông sẽ có tám chiến binh kì cựu trên thực địa. Hart thích con số mười hai hơn, ít ra ông cũng còn có đủ quân số để chia họ thành làm hai đội: khiên và giáo. Đội Khiên có trách nhiệm bảo vệ và sơ tán đoàn khi bị tấn công còn đội giáo sẽ tiêu diệt kẻ địch hoặc ít nhất là kiềm chân chúng.

    “Đại sứ Dominic Hobson. Anh biết ông ta chứ Emerson ?”

    Hart không phải là loại giao thiệp rộng. Tiệc chiêu đãi, mít tinh cùng những cái bắt tay làm ông thấy không thoải mái. Họ, tầng lớp ưu tú của xã hội Mỹ nói quá nhiều, cười quá nhiều và chẳng có điều gì hay ho ở những con người này trừ thói tọc mạch. Trong đám cưới tại trang viên của gia đình Wilkes vào mùa xuân năm ngoái, ông phải bịa một câu chuyện đầy kịch tính về người cha nát rượu và bà mẹ mà ông chưa từng biết mặt để chiều lòng phu nhân Tinller. Rõ ràng là Hart không có khiếu trong khâu này cho lắm và cái vẻ mặt bán tin bán nghi của người đàn bà xinh đẹp buộc ông phải nhờ Emerson làm chứng nhân cho câu chuyện của mình.

    “Không nhiều lắm, tôi chỉ gặp mặt ông ta vài lần. Từng là đại sứ ở Rome, thành thạo tiếng Latin, Pháp và Đức. Một người mê sưu tập cổ vật La Mã- Hy lạp”

    Ít ra họ cũng giao đúng người đúng việc, Hart đập hai bàn tay vào nhau . Ông cam đoan Dominic đã nhảy cẩn lên khi nghe mình được chọn.

    “Để xem nào, Ruth Chapman thư kí riêng, Diana Sobler chuyên viên ngôn ngữ, và Adu Aman Farris” Emerson phì cười “Chống phân biệt chủng tộc đang là xu hướng”

    Hart không kì thị dân trung đông nhưng với bất cứ ai từng chứng kiến tay phiên dịch người Shite thổi bay văn phòng đại diện của R&R ở Bagdad cũng nói đây là một ý tồi. Sự nhàm chán tiếp tục với Frank Charlerson, kỹ sư nông nghiệp, Eddy Louge, kỹ sư xây dựng và….. Kayle Wilson, thiếu tá quân đội hoa kỳ.

    “Con gái của Ron Wilson” Emerson nói “Tôi nghĩ anh biết ông ta.”

    Tất nhiên là Hart biết. Ron Wilson là một trong những chỉ huy của Bão táp sa mạc, người đề cử ông làm tiểu đoàn trưởng sau khi Hoa Kỳ rút quân về nước. Theo như những gì ông nghe được thì Ron sắp có ghế trong hội đồng cố vấn an ninh, đúng một tay tham vọng. Nhắc đến lão già đó, Hart hơi giật mình trước cái viễn cảnh ông sẽ lãnh đủ hậu quả nếu đứa con gái quí báu của Trung tướng đây chẳng may có mệnh hệ gì.

    "Tôi nghĩ anh phải vui mừng chứ? Kayle Wilson là một người có kinh nghiệm."

    "Kinh nghiệm? Tôi cần gì một sĩ quan quanh năm chỉ biết đánh vật với cái máy pha cà phê nhỉ?"

    Emerson nhúng vai cười trừ và thề có chúa là Hart ghét khi ông ta làm vậy, nó làm ông trông như thằng ngốc.

    "Thiếu tá Kayle Wilson từng ở Iraq bốn năm" Emerson nói "Hai tour đến Afganishtan, chuyên gia tác chiến đô thị và chống du kích."

    Cuối cùng thì cũng có một chuyện thú vị để khởi động một ngày mới. Hart không chần chừ kiểm tra hồ sơ trên máy tính và tự hỏi tại sao Kayle Wilson lại nằm ngoài tầm radar của ông suốt mấy năm qua. Bất cứ ai có hai huân chương sao bạc trên ngực thì rất dễ bị đội 22 để ý.

    Spectre !

    Hart nhăn nhó khi thấy cái tên đó. Đúng là lãng phí tài năng thật. Ông không ngờ là Tướng Ron lại dám đánh liều sự nghiệp của con gái mình với đám côn đồ này. Thành thật mà nói thì Spectre lúc đầu cũng tỏ ra hữu dụng và đâu có ai ngờ mọi chuyện lại thành ra thế này.

    “Họ giải thể đơn vị chưa?" Hart hỏi

    Spectre vốn đã không còn tồn tại trên giấy tờ từ cái ngày CIA tiếp quản nên khó mà biết được. Emerson từng ngờ rằng có thể họ chia nhỏ nó thành các chi đội tác chiến bí mật để tránh phí phạm nguồn lực. Và nếu như suy đoán của Emerson là đúng thì thật mâu thuẫn. CIA hoàn toàn có khả năng đảm đương nhiệm vụ này mà không cần nhờ đến ông.

    Có thể tổng thống đã chán đám cổ trắng ấy và đặt niềm tin vào những người lính thật thụ chăng? Hart hy vọng như thế. Sau những phi vụ thảm họa như Vũ khí hủy diệt hàng loạt thì có lẽ Nhà Trắng cũng đã sáng mắt ra.

    Ông luôn có ấn tượng xấu về CIA cũng như cách hoạt động mờ ám của nó ngay từ những ngày đầu tiên ở Iraq. Không biết bao nhiêu lần, lính của Hart phải cực nhọc đánh chiếm những kho đạn trống rỗng, những khu phức hợp kỹ thuật đầy bụi mà mấy tay điệp viên vênh váo nói đó là nơi Sadam cất giấu đầu đạn nhiệt hạch

    “Tôi không muốn là kẻ phá bĩnh đâu Hart” Emerson nói “Chỉ là…. Vụ này có cái gì đó rất đáng ngờ"

    "Chúng ta sẽ bàn chuyện này sau. Giờ thì anh hãy tập hợp mọi người lại, tôi muốn có một buổi họp chiến thuật trong hai mươi phút nữa. Chúng ta còn rất nhiều thứ để làm lắm ".

    Emerson đứng dậy và rời khỏi phòng, nhưng trước khi đặt tay lên nấm đấm cửa, ông quay lại hỏi Hart:

    "Tôi có nên triệu tập Kayle Wilson không?"

    "Nếu như anh thấy cần thiết”

    Emerson gật đầu, dập gót chào và nhanh chóng tan biến như làn khói.



    "Một ngày nào đó mình sẽ vặn hỏi lão về chuyện này. Nhất định là vậy"
     
  4. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    59
    CHƯƠNG 3

    KAYLE

    Sân bay Shibafu a.k.a L.P ( Launching Point), cách Tokyo 20 km

    Bữa sáng ở đây chỉ có món khoai tây nghiền, thịt rán và pho mát. Một hàng dài thực khách mặt mày bực bội đứng nối đuôi nhau đợi tới lượt mình. Tay đầu bếp dùng cái môi lớn xúc thức ăn vào khay rồi hô lên :

    "Người kế tiếp"

    Và cứ mỗi lần như thế, hàng người lại lặng lẽ nhích về phía trước, hệt như dây chuyền trong công xưởng. Đâu đó. Cô nghe thấy tiếng thở dài thất vọng từ phía cuối hàng chờ lẫn trong tiếng lộp cộp của giầy bốt nện trên nền gạch men bóng loáng và âm thanh hỗn độn của hai trăm cái miệng đang cố nuôi trôi bữa sáng dở tệ.

    Kayle đứng giữa Chris và Cooper. Cơ trưởng là người béo tốt với cái đầu cạo nhẵn nhụi trong bộ đồ bay rộng thùng thình. Cooper cũng rất cao to nhưng ở cái tuổi hai mươi tám thì lòng ngực nở nang của anh luôn làm hai má cô ửng hồng khi nhìn vào chúng. Chiều cao tiêu chuẩn của Không quân ắt hẳn phải khác biệt nếu so với các lực lượng trên bộ vì cô trông cứ như người lùn giữa đám đàn ông này.

    Bốn người nhanh chóng nhận suất ăn của mình rồi chiếm lấy cái bàn ngay góc tường, cạnh cửa sổ, phía dưới lá cờ hoa vĩ đại.

    "Các anh nên phàn nàn về đồ ăn ở đây!"

    Kayle mở lời sau khi đưa thìa khoai tây nghiền vào miệng, vị lạnh tanh và cô còn nếm được cả mùi chất bảo quản.

    "Đó là việc cuối cùng mà bọn tôi muốn làm đó." Viên trung úy béo tốt nói.

    Trước cái nhìn đầy ngạc nhiên của viên thiếu tá trẻ tuổi, Chris từ tốn giải thích rằng nơi họ đang ngồi không thuộc sở hữu của quân đội Mỹ. Hai mươi năm trước, có một tay đầu tư người Nhật đã đổ cả núi tiền để xây nên cái sân bay với hy vọng bán nó cho một gã đầu tư khác và kiếm thêm vài núi tiền nữa.

    "A lê hấp. Bong bóng nhà đất vỡ. Thiếu tá biết chuyện đó chứ?"

    "Không" Kayle lắc đầu "Lúc đó tôi chỉ mới lên bốn."

    "Rất nhiều người sạt nghiệp vì nó. Tay đầu tư cuối cùng cũng lủng lẳng trên một cái cây, để lại món nợ khổng lồ cho bà vợ tội nghiệp."

    "Và vì ngân hàng không thể tìm được người mua nên sân bay bị bỏ hoang, đúng không?"

    "Không hẳn" Chris chĩa chiếc nĩa về phía cô "Nó chưa bao giờ bị bỏ hoang."

    Lại như vậy nữa rồi. Kayle sẽ không ngạc nhiên nếu có bàn tay của Uncle Sam nhúng vào đây.

    "Vâng , đúng là thế" Chris gật gù "không có nhiều người biết về chuyện này đâu. Tôi chỉ vô tình đoán ra thôi. Vài tháng trước, Cooper phát hiện ra một vệt sơn lạ trong nhà kho chứa máy bay. Nhưng không phải là loại sơn bình thường đâu nhé, sơn tán xạ đấy. Chúng được dùng cho các máy bay tàng hình, không lẫn vào đâu được. Họ phải sơn lại lớp vỏ bên ngoài sau vài lần xuất kích"

    Như vậy có nghĩa là các phi đội trinh sát đã xâm nhập Nga hoặc Trung Quốc từ đây suốt ngần ấy năm qua mà không ai hay biết gì. Đúng là khối người sẽ tức điên lên khi họ biết được sự thật và đấy cũng là ngọn nguồn của món khoai tây chết dẫm.

    Theo như Cooper thì người Nhật rất sợ phải hứng chịu búa rùi dự luận nếu chẳng may chuyện bị lộ nhưng khổ nỗi họ lại không có cách nào để tống cổ người Đồng minh lắm trò đi được cho nên mới có cái gọi là giới hạn bay ra đời. Mỗi ngày, căn cứ chỉ được phép tiếp nhận tối đa sáu chuyến bay, bất kể là phản lực hay lên thẳng. Với cái giới hạn kì cục như vầy thì việc duy trì hoạt động thường ngày cũng là quá khó khăn chứ đừng nói đến chuyện ăn uống.

    "Suýt chút nữa là họ đã thành công rồi. Hoa kỳ chán nản rút dần thiết bị về nước nhưng đùng một cái, cánh cổng điên rồ ấy tự dưng xuất hiện ngay trung tâm Tokyo."

    "Cậu nghĩ cánh nhà báo sẽ chi bao nhiêu tiền để có được cái tin này nhỉ?" Chris hí hửng nói với Cooper "Một cái tựa đề hay đấy chứ?" .

    "Tôi nghĩ anh nên bỏ ý tưởng đó đi thì hơn!" Kayle lắc đầu "Họ sẽ quẳng anh lẫn tờ báo báo đó vào một cái hố rồi quẳng cái hố đi luôn ."

    Thử nghĩ với một thực thể có khả năng kéo đổ cả một quốc gia thì việc đưa vài cá nhân vào cõi hư vô có là gì với nó chứ? Cô thành thực hy vọng ông ta chỉ đang nói đùa. Một ý tưởng vô thưởng vô phạt.

    "Đừng lo lắng quá thưa thiếu tá. Tôi ở trong quân ngũ cũng gần mười năm rồi" Chris phủi tay "Nguyên tắc đầu tiên là đừng có dại so găng với chú Sam."

    Họ tiếp tục ăn và trò chuyện. Cơn mưa chưa hề có dấu hiệu dừng lại, và các phi công đành giữ đôi chân mình trên mặt đất cho đến khi trời quang. Chiếc Black Hawk không bị hư hại gì nhiều sau lần chết hụt, Chris tin chắc như vậy vì nếu như có thì họ chẳng thể nào ngồi đây tán dóc được.

    "Sau những thứ như thế, tôi chỉ muốn bỏ việc cho xong" ông rầu rĩ khoanh hai tay lại "Về nhà, sửa lại hàng rào, kiếm một việc gì đó để làm, thức ăn ngon và bồn tắm nóng."

    "Chuyện dễ mà" Cooper nói "Anh còn có bốn tháng nữa là thoát nạn trong khi kẻ thù của ta hiện giờ chỉ toàn mấy con chim mòng biển. Cậu còn mấy tháng nữa hả Havey?"

    "Một năm bốn tháng. Còn dài chán chê ấy chứ!"

    Họ không đả động gì đến dự định tương lai của Kayle vì sẽ không có gì bất thường nếu một người leo đến cấp tá chọn cách gắn chặt cuộc đời mình với quân đội. Nhiều lúc cô cũng nhớ nhung cuộc sống dân sự thuở trước nhưng các ký ức của cô về nó lại rời rạc và lộn xộn và mỗi khi cố tìm lại chúng, cô lại thấy mình đang chơi trò xếp hình. Gần đây, cô không nhớ nổi tên đệm của Anne dù cả hai là bạn thân suốt mười ba năm.

    Kayle sợ mình bị mắc chứng PTSD nhưng lần khám định kì nào, các bác sĩ cũng kết luận tâm sinh lí cô hoàn toàn bình thường, thậm chí họ còn dặn Kayle để mắt đến binh lính dưới quyền trong trường hợp ai đó có hành động bất thường nữa mới lạ.

    "Bao giờ chúng ta mới hành động vậy, Thiếu tá?" Havey chợt lên tiếng "Tôi chán phải chờ đợi rồi."

    "Hành động?" Kayle ngớ người ra.

    "Ý của chàng trai đây là chừng nào ta mới xông qua cánh cổng ấy" Cooper nói với cái giọng chán chường "Thật là khổ quá đi mà, cậu ta nhai đi nhai lại chuyện này gần cả tháng rồi có hơn."

    "Thật tình thì tôi không biết." Kayle nhúng vai lắc đầu. "Tôi chỉ vừa đến Okinawa vài tuần trước thì họ gọi điện bảo tôi phải trình diện tại đây. Chỉ có thế thôi."

    "Thế thì chán quá. Tôi cứ tưởng thiếu tá phải biết chứ" Havey trông thất vọng ra mặt "Chúng ta phải nhanh lên mới được, nếu không thì chẳng còn trò vui nào nữa. Tôi nghe họ đồn là JSDF ( lực lượng phòng vệ Nhật Bản) làm thịt được gần một trăm nghìn tên. Cứ cái đà này thì chúng ta chẳng còn việc gì để làm nữa."

    Không hiểu cái gì đang thôi thúc Havey cũng như từng thôi thúc cô ra ngoài đó để làm súc thịt cho người ta tha hồ bắn giết. Những ngày đầu tiên ở mặt trận cứ như trẩy hội, những thanh niên trong độ tuổi đẹp nhất cuộc đời bước đi với hoa trên đầu súng, bỏ lại đằng sau những người tình với đôi mắt đẫm lệ, sẽ khóc thương nếu chẳng may họ ngã xuống. Cái hình ảnh đẹp đẽ đó đã bị đạn cối đập nát và bị cơn gió nóng sa mạc cuốn đi, chỉ còn lại những tâm hồn mệt mỏi rã rời

    Chiến tranh thiêu rụi mọi thứ trên đường đi của nó, và tệ hơn hết, nó đầu độc con người. Những kẻ đã từng sống chết ngoài mặt trận thì không bao giờ được như xưa nữa. Họ vẫn có thể lành lặn đứng đấy nhưng có cái gì đó trong họ mãi mãi ra đi. Sau khi chứng kiến những thứ tồi tệ xảy ra với quá nhiều người, Kayle không biết nên trả lời Havey như thế nào cho đúng. Cô nên nói sự thật hay nên khuyến khích sự hăng hái của cậu ta vì trách nhiệm của một sĩ quan đòi hỏi cô phải làm thế?

    "Đủ rồi đó, Havey. Đừng làm phiền thiếu tá" Viên trung úy to béo bực bội gắt lên "Chúng ta là lính, họ bảo chúng ta chiến đấu thì chúng ta chiến đấu, bảo chết thì chúng ta chết. Cậu thắc mắc làm gì?"

    "Nhưng tôi chỉ...."

    "Đây là lần cuối tôi cảnh báo cậu đấy nhé"

    Chris đập một tay xuống mặt bàn, mặt ông ta đỏ gay như quả cà chua, còn bọng thịt dưới mí mắt thì rung lên. Đây có lẽ là lần đầu tiên cô thấy Chris ra dáng cấp trên của Havey một chút bởi vì từ lúc trên máy bay đến giờ, ông nom chẳng khác gì một lão già say xỉn tốt tính, hay đóng vai ông già Noel để quyên tiền cho bọn trẻ ở cô nhi viện hơn là một Trung úy Không lực.

    "Đi lấy cà phê đi."

    Người đàn ông to béo quất vào mông cậu trai trẻ bằng một mệnh lệnh. Hoảng sợ và bối rối, Havey ngay lập tức đứng dậy và chạy một hơi đến cái máy pha cà phê ở góc nhà ăn. Kayle không biết Chris có cố ý làm vậy không nhưng ông ta vừa cứu cô khỏi cảnh khó xử trong thấy.

    "Thứ lỗi cho Havey thưa thiếu tá. Cậu ta là một chàng trai tốt nhưng không biết lúc nào nên ngậm mồm lại."

    Cô cảm thấy có chút cảm thông trong giọng nói của ông.

    "Tôi không để bụng đâu" Kayle cười trừ "Hồi trước tôi cũng ngốc đâu kém gì."

    "Ai mà chẳng có thời ngây dại nào? Tôi đã điền tên mình vào Không lực sau khi xem Top Gun. Thật khó mà cưỡng nổi cái viễn cảnh bay lượn trên bầu trời và mặc áo khoác da được? Còn cô thì sao?"

    "Gia đình."

    "À. Nó là lí do đúng đắng nhất và đôi khi cũng ngớ ngẩn nhất."

    Không phải ! Chính cô đã phá hỏng mọi thứ và đẩy mình vào tình cảnh hiện giờ. Nếu như ngày hôm đó như cô không dở chứng ngang bướng thì chuyện đã khác.

    "Tôi có thể hỏi thiếu tá một câu không? Cô có thể không trả lời cũng được."

    "Vâng, anh cứ hỏi."

    Kayle không định dấu diếm người đàn ông này. Những lời nói dối nhân danh tổ quốc và đơn vị khiến cô quá mệt mỏi. Mỗi khi ai đó trong đội hy sinh, Kayle lại phải vắt óc nghĩ ra một câu chuyện hào hùng cho người thân của họ ở hậu phương. Làm sao mà cô có thể nói với một thằng nhóc mười tuổi rằng cha nó chẳng khác gì đám tay chân của Al Capone trong mắt nhiều người và ông ta đã chết bởi một trái bom dưới thảm trải sàn. Vụ nổ mạnh đến nỗi họ phải xới tung đống đổ nát lên chỉ để tìm thấy vài mảnh thi thể cháy xém?

    "Cô có biết chuyện gì đang diễn ra không, thiếu tá? Havey có thể hỏi vì tò mò, hoặc vì dòng máu nóng trong huyết quản thôi thúc cậu ta nhưng tôi thì khác."

    Đột nhiên giọng ông ta nghẹn lại.

    "Tôi có vợ và hai con. Đối với tôi, nó rất quan trọng."

    Lúc còn ở Iraq, Kayle từng tự hỏi những người ở nhà sẽ phản ứng như thế nào nếu cô gặp chuyện không hay. Mẹ và Louie chắc sẽ khóc nhiều lắm, hai người đó mau nước mắt y hệt nhau trong khi cha cô thì sẽ không nhỏ lấy một giọt, ít nhất là trước mặt người khác. Cô không nhớ vì lí do gì nhưng khi cô chia sẻ chuyện này với Chỉ huy trưởng thì liền bị anh ta mắng cho một trận ra trò.

    "Thú thật là tôi cũng chẳng biết gì hơn anh đâu nhưng hãy thực tế với nhau, anh biết tôi là ai, từ đâu đến và chắc chắn họ không mời tôi đến đây để giao lưu với người Nhật."

    Gần hai phần ba sự thật thì có được coi là sự thật không? Do vẫn chưa chắc liệu Cánh Cổng đó có liên quan gì đến cuộc triệu tập bất thường này nên cô không cho là mình nói đang nói dối ông ta.

    "Tôi cũng nghĩ vậy" Chris thở dài "Hy vọng là không có chuyện điên khùng xảy ra trong mấy tháng sắp tới."

    Hai người tạm gác chủ đề này sang một bên khi Havey quay lại với bốn cốc cà phê. Mùi vị cũng không tệ lắm nếu so với bữa sáng. Trước khi vào quân đội, Kayle nhớ là mình không có thói quen uống cà phê. Những phụ nữ trưởng giả thường dùng trà hoặc nước ép, còn cà phê vốn dĩ dành cho đàn ông. Chiến tranh làm đảo lộn hết mọi lề thói cũ , mẹ cô chắc sẽ rất sốc nếu thấy con gái bà giờ ăn gà tây mà chẳng cần dùng dao hay nĩa nữa.

    Một chiếc F-16 đang hạ cánh xuống đường băng. Âm thanh từ động cơ tựa hàng nghìn mảnh kim loại lao thẳng về phía trước với tốc độ siêu tưởng. Trong một ngày mưa gió tháng mười một, nó trông chẳng khác gì một chiếc xuồng cao tốc với vệt nước dài bắn tung phía sau lưng.

    "Nhìn nó kìa" Cooper tặt lưỡi tiếc rẽ " Các anh biết không? Tôi sẽ đánh đổi tất cả để cưỡi nó một lần. Tự do, không ràng buộc."

    F-16 Falcon, biểu tượng quyền uy của nước Mỹ suốt ba thập kỷ, được thiết kế để đối chọi lại những chiếc Mig của khối soviet trong chiến tranh lạnh. Dù rằng những loại chiến đấu cơ tinh vi hơn, bay nhanh và xa hơn lần lượt ra đời nhưng người ta vẫn chưa có ý định cho nó nghĩ hưu, nhất là khi ngân sách quốc phòng bị cắt giảm thê thảm. Kayle khá quen thuộc với con ngựa thồ này vì chúng thường yểm hộ các nhiệm vụ của cô ở Iraq dù hiếm khi cô được mục kích chúng ở khoảng cách gần.

    Tuy nhiên, Kayle cũng phải tròn xoe mắt kinh ngạc khi thấy thân máy bay phủ một màu xanh biển với vòng tròn đỏ rực như máu dưới buồng lái. Vốn kiến thức hàng không hạn hẹp không làm cô quên một điều là màu trắng bạc mới là màu tiêu chuẩn của Không quân Hoa Kỳ.

    "Người Nhật?"

    "Đúng vậy ! Là họ" Chris đáp "Và trông kìa ! Vẫn chưa hết đâu."

    Ba chiếc chiến đấu cơ khác lần lượt đáp xuống đường băng số hai. Ngay lập tức, bốn chiếc áo mưa màu vàng liền chạy ra với đèn hiệu trên tay, hướng dẫn chúng vào garage.

    "Tôi cứ tưởng các anh có giới hạn bay."

    "Luật chỉ áp dụng với chúng ta chứ không phải họ. Chú Sam chiếu cố người Nhật ghê lắm."

    Không ít lần nước Mỹ đã phải xuống nước để đạt được mục đích nhưng chuyện này thì chưa có tiền lệ. Ngay cả nước Anh, người đồng minh thân cận nhất cũng chưa chắc nhận được đặc ân như Nhật Bản. Cánh cổng ấy hẳn phải có sức hút ghê gớm lắm với xứ sở cờ hoa.

    "Tôi không thích đám mắt lươn này chút nào" Havey khịt mũi "Mấy sếp đấy không tưởng tượng nổi họ tởm đến mức nào đâu. Thằng Phil thề sống thề chết là nó tận mắt thấy mấy gã ngư phủ ăn ngay con cá họ bắt được. Không nấu nướng gì hết, ăn sống đấy. Khái niệm cho thức ăn vào nồi dường như không tồn tại ở cái xứ này."

    "Đó gọi là Sushi, ngốc ạ" Cooper chán nản úp lòng bàn tay lên mặt mình "Đừng nói với tôi là cậu không đọc sổ tay hướng dẫn đấy nhé"

    "Cuốn sách duy nhất mà Havey đụng đến là Playboy" Chris cười lớn vỗ mạnh vào vai cậu ta "Đám trẻ ngày nay chẳng biết đọc gì sất. Hết Iphone rồi lại Ipad, tôi cược là hai mươi năm nữa thằng cháu hoặc chắt sẽ hỏi 'ông ơi sách là gì thế' cho mà xem. Mà thôi, dẹp cái đó sang một bên đi, Havey có lí, đất nước này quả thực có rất nhiều thứ quái đảng."

    Hiểu biết của Kayle về nước Nhật chắc cũng chả hơn ba người này là bao và nó không làm cô bận tâm. Những ngày này, chẳng có mấy thứ làm cô bận tâm được trừ khi là nó có ý định giết cô. Kayle còn nhớ năm mình mười ba hay mười bốn gì đó, có một người đàn ông đến từ xứ sở mặt trời mọc đến thăm gia đình cô ở Vigirnia. Trời hôm ấy nóng kinh khủng nhưng suốt cả buổi ông ta không hề cởi áo khoác ngoài hay nới lỏng cà vạt trên cổ. Tướng Ron quyết định dẫn người đàn ông ngoại quốc thăm thú điền trang của mình, một việc cha cô vẫn thường làm mỗi khi có ai đến viếng, như thể việc cho người ta biết chuyện cụ tổ Tom Wilson đã xoay trở ra làm sao để dựng nên cơ ngơi đồ sộ như vầy là cực kì quan trọng.

    Đối với một người chỉ cao chừng một mét sáu lăm thì để bắt kịp tốc độ của Trung tướng đúng là cực hình. Người Nhật tội nghiệp gần như không thở nổi trong khi cha cô thì lại đang say sưa với bài thuyết giảng nên chẳng mảy may để tâm đến người thính giả đang mồ hôi mẹ mồ hôi con.

    "Chú cởi áo khoác ra đi" cô nhớ Louie đã nói thế, năm đó anh mười bảy tuổi, trẻ trung và gầy như một cái cây "Trời nóng lắm đấy."

    Người đàn ông mỉm cười, cúi đầu cảm ơn và bảo rằng ông ta vẫn ổn. Louie thấy hơi ngượng và cả hai anh em đều tự hỏi tại sao ông ta lại đối xử Louie ngang hàng với cha anh.

    "Anh nên làm theo lời thằng bé" Trung tướng Ron giờ mới trở về thực tại "Trông như người sắp chết ấy."

    Và cái qui trình mỉm cười, gập người và cảm ơn được lập lại. Thấy vậy, cha cô hắng hơi :

    "Với những kẻ tự biến mình thành tên lửa sống thì anh có phần hơi lịch sự. Tôi tự hỏi liệu các Kamikaze có cúi chào không khi họ đánh chìm chiếc St.Lo ?"

    "Nếu như buồng lái đủ rộng thì có thể lắm chứ." Người Nhật trả lời.

    Và cả hai người bật cười nắc nẻ, trong khi Kayle đứng đó và không hiểu có gì đáng cười ở đây.

    "Thiếu Tá Kayle Wilson, vui lòng đến cổng số 3, thiếu tá Kayle Wilson vui lòng đến cổng số 3"

    Cái loa phát lại thông điệp thêm hai lần nữa rồi mới chịu im lặng. Cả bốn người nhìn nhau một hồi lâu và không nói gì. Cuối cùng thì Kayle đành phải mở lời.

    "Tôi nghĩ giờ là lúc nói lời tạm biệt rồi" cô uể oải đứng dậy "Cảm ơn các anh. Chúc may mắn các chàng trai của tôi"

    "Chúc may mắn, Thiếu tá" Chris bắt tay cô, bàn tay ông khô ráp như người miền quê "Cô cần nó nhiều hơn tôi."

    Cô cần nó nhiều hơn tôi ?

    Hình như anh ta cũng từng nói với cô như vậy nhưng cô đã cố tình quên chúng đi. Những người đã khuất tựa như những cái bóng vật vờ trong màn sương vô định của chiến tranh và chẳng có gì tốt đẹp khi dây dưa với chúng cả, bởi vì chính người ấy cũng nhắc nhở cô rằng :

    Cô không muốn nhập bọn với những kẻ đó đâu, Wilson thân mến.

    Kayle đột nhiên cảm thấy rùng mình. Cái cảm giác này y hệt lúc cô giết kẻ địch đầu tiên trong đời, mọi thứ xung quanh cứ như một thước phim quay chậm và cô có thể nghe thấy nhịp thở của mình. Dù chỉ là thoáng qua trước khi tiếng đạn súng máy kéo cô về thực tại nhưng Kayle biết nó có thật, thật hơn cả những người đang ngồi đây.

    Có cái gì đó chạm vào cô, ấm và mềm mại. Kayle giật mình nhìn sang thì thấy bàn tay của Cooper đang đặt lên vai cô.

    "Thiếu Tá không sao chứ? Này cô có nghe tôi nói gì không ?"

    "Không sao" Kayle lắc đầu "Say máy bay thôi."

    Cooper tỏ ra không tin tưởng lắm nhưng không hỏi gì thêm.

    "Cổng số 3 ở đâu vậy?"

    "Đi hướng này" Chris chỉ tay về phía cửa phòng ăn "Đi thẳng rồi rẽ phải sang ban chỉ huy căn cứ và cô sẽ thấy một ngã ba, rẽ phải thêm lần nữa đến nhà ga trung tâm là được."

    "Tạm biệt nhé, Thiếu tá" Havey nói "Chúng ta sẽ gặp lại nhau thôi"

    "Vâng...." Kayle ngập ngừng "Tạm biệt."

    Thật tức cười khi hai từ tưởng như đơn giản lại khó nói đến như vậy.

    Thú vị ở chỗ là đây đâu phải là lần đầu tiên cô nói lời chia tay. Fisher, Carrick và nhiều người khác, Kayle đã nói lời từ biệt trước mộ họ. Cô biết họ nhiều năm trong khi chỉ mới gặp Chris, Cooper và Havey có vài giờ đồng hồ. Nhưng Kayle chợt nhận ra rằng cô không biết gì về Fisher hay Carrick ngoài cái tên. Chiến tranh đã biến họ thành những cỗ máy lạnh lùng và tàn nhẫn, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ thứ gì ngán đường. Tình cảm lại luôn ảnh hưởng đến nhiệm vụ nên chả trách những cuộc trò chuyện giữa các thành viên Spectre ngày càng thưa dần đi. Ba người này thì khác hẳn. Họ ăn, họ uống và họ thở.

    Cuối dãy phòng ban chỉ huy có dựng một tấm biển " Cổng số 3, lối này" nên Kayle có phần yên tâm là mình không đi lạc. Chỉ mất ít phút là cô đã thấy mình đứng giữa không gian rộng mênh mông của nhà ga chính. Quân đội chỉ sử dụng được ga phụ vì cái ga trung tâm là một công trình khổng lồ với hai mái vòm tựa như một con chim soải cánh đón ánh nắng tự nhiên qua các ô cửa sổ thiết kế khéo léo.

    "Tiếc thật" Kayle tặc lưỡi tiếc rẻ khi nhìn những mảnh tường nhếch nhác, cỏ mọc len lỏi từ các khe nứt trên sàn "nó hẳn phải đẹp lắm nếu được mở cửa trở lại."

    Do bị bỏ hoang khá lâu, khu vực mang trong mình cái không khí rờn rợn đặc trưng. Những thanh xà hen rỉ kêu cót két khi gió lùa qua, thủy tinh vỡ và rác ở khắp nơi, và còn cả mấy bức tranh graffiti hình thù quái đảng xuất hiện nhan nhảng dọc hành lang nữa chứ, cảnh vật y hệt như một cuốn phim kinh dị với cô là nhân vật- nạn nhân chính. Dù không phải là người nhát gan nhưng đầu óc Kayle vẫn không thôi nghĩ đến chuyện Jason Voorhees đang nấp đằng sau góc khuất nào đó, chỉ chờ chực cô bước ngang và vung chiếc rựa dài của hắn lên. Không như người anh quí hóa Louie, cô đã ngất ngay trên ghế khi Jason tắm máu nạn nhân đầu tiên của hắn.

    Kayle sờ tay lên chỗ đặt bao súng và nhận ra hai điều. Thứ nhất, cô không mang súng. Thứ hai, cô gần như không mang bất cứ vũ khí nào kể cả dao găm từ ngày Spectre giải thể.

    "Nếu như mình có trong tay một khẩu Glock thì cả mười tên Jason cũng chả ăn nhằm gì" Kayle lầm bầm "Nếu như thôi...."

    Không còn cách nào khác, Kayle đành phải chạy khỏi chỗ này nhanh nhất có thể. Và trong khi cố chạy thật nhanh, vũng nước mưa hạ gục cô. Nước bắn lên cổ và ngực áo, lạnh cóng.

    "Thánh thần ơi" Kayle kêu lên nhưng cô nhất quyết không dừng lại cho đến khi đến được trạm gác.

    Tay quân cảnh dập gót chào cô và không nhịn được cười. Cả đời gã hẳn chưa từng chứng kiến sĩ quan nào lại xuất hiện với bộ dạng nhếch nhác, thở không ra hơi như thế. Kayle lờ gã đi rồi dúi cho hắn giấy thuyên chuyển và chứng minh thư quân đội.

    "Xe của thiếu tá đang đợi ở đằng kia" Gã nói với cái giọng bỡn cợt "Chúc một ngày tốt lành."

    Sẽ là một ngày tốt lành nếu Kayle tặng cho gã một cú đấm vào mặt nhưng giờ không phải lúc. Cấp trên đang đợi cô, đó có thể là đại tá Hart, người có biệt danh "Poker" vì những nhiệm vụ ông nhận có rủi ro chẳng thua gì một ván bài Poker, hoặc là chi đội viễn đông của CIA, nơi thu nhận các cựu thành viên Spectre. Họ sẽ giao cho Kayle một đội gồm những tay cứng cựa nhất và làm công việc mà chính phủ từ chối chúng tồn tại.

    Tuy nhiên, Kayle đã không lường trước được chuyện họ cử một gã vận đồ vest, thắt cà vạt đến đón cô trên chiếc Nissan cũng đen như màu áo của gã. Khác với trên phim ảnh, nhân viên tình báo đời nào mặc vest và chắc chắn đó cũng không phải quân phục tiêu chuẩn của quân đội.

    "Thiếu tá Wilson, tôi là Patrick Hammer ,nhân viên đại sứ quán Hoa Kỳ tại Nhật Bản." Hắn niềm nở tự giới thiệu "Cô có thể gọi tôi là Patt cũng được."

    Tất cả những gì Kayle nhớ sau đó là cô đã leo lên xe và mùi nước hoa nồng nặc của cái gã tên Patrick Hammer hay còn gọi là Patt nọ sộc vào mũi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/11/18 lúc 13:38
  5. Rumer

    Rumer Thành viên cấp 2

    Tham gia ngày:
    10/10/18
    Bài viết:
    59
    CHAPTER 4.1

    PINA

    Thủ Đô Sadera

    Đồi Vinusa

    Điện thần đông nghịt người. Một nhóm tu sĩ áo trắng từ đồi Avanul đến từ sáng sớm, hội thánh tổ thần uy thì đã đến từ hôm qua và chẳng mấy chóc thì tất cả thầy tư tế, trợ tế, tiểu đồng từ những đền đài lớn nhỏ khắp lãnh thổ đế chế sẽ tề tụ về đây. Họ đến để tỏ lòng trung thành với hoàng gia và cầu nguyện. Cầu nguyện đều gì thì Pina không chắc nhưng nàng biết khá nhiều người sẽ mừng thầm nếu ngày mai thánh thần dẫn lối cha nàng về với tổ tiên.

    Hoàng đế Molt Son Augustus không được yêu quí cho lắm

    "Chúng ta sẽ ở đây và cầu nguyện cho đến khi hoàng đế hồi tỉnh" một tu sĩ béo mập nói với các tông đồ "Giờ là lúc người cần chúng ta nhất".

    "Phải! Phải!" đám tông đồ đồng thanh.

    "Giờ thì huynh đệ hãy thắp hương trầm lên" gã chỉ tay vào một người trong nhóm "Jose, cậu có đem theo loại trầm hương mà ta bảo không?"

    "Có thưa huynh trưởng. Ở trong xe thồ ấy ạ" người tên Jose đáp

    "Trong xe thồ? cậu có bị làm sao không, Jose? nghi lễ nào mà không bắt đầu bằng trầm hương. ? Hiến tế, cầu mưa, trừ tà và chúc phúc đều cần trầm hương và bây giờ cậu bảo mình để quên chúng ở trên một cái xe thồ ngu ngốc trong lễ cầu an cho hoàng đế đáng kính."

    Gã tu sĩ giận dữ lấy vạc áo lao đi những giọt mồ hôi chảy trên gương mặt đầy bọng thịt đỏ gay. Trời hôm nay nóng kinh khủng. Trên đường đến thần điện, Pina trông thấy cư dân thành phố vây kín những bể nước công cộng, khi bể đã quá đông và ngột ngạt thì họ liền tiến ra bờ sông. Đám đàn ông và cánh phụ nữ dường như chẳng còn giữ thể diện làm gì nữa, họ cởi hết quần áo và đắm mình trong dòng nước xanh mát của mẹ Tiri. Với vị trí của một công chúa, người đứng thứ ba trong danh sách thừa kế, Pina đáng lẽ phải ngăn chặn hành động đồi bại này lại nhưng thôi, thà để họ lõa thể chạy rong còn hơn tụ tập tại quảng trường và ném đá vào đội cận vệ hoàng gia.

    "Thưa huynh trưởng, tôi không hề quên đâu ạ. Lúc ở cổng thành, do huynh bảo mọi người chấp tay thực hiện đi bộ sám hối nên chẳng ai mang theo cái thùng được."

    "Vậy cậu không biết nhờ đến gã đánh xe, hoặc ai khác sao? Có kẻ nào mà lại dám từ chối những người đang thực hiện sứ mệnh của thánh thần?"

    "Tôi... không nghĩ đến việc đó nên..." Người huynh đệ ấp úng đến mức thảm thương. Cái mũ trùm làm Pina không thấy khuôn hết gương mặt gã nhưng rõ ràng là gã có một cái mũi dài

    "Còn đứng đấy làm gì nữa" Lão tu sĩ thở phù phù "Đi lấy cái thùng lại đây, nhanh lên!"

    Sau khi cái gã Jose rời đi thì lại có thêm một vụ lộn xộn khác. Hội thánh tổ thần uy không muốn phải ngồi gần đám tu sĩ Hardy, những kẻ mà trong con mắt của hội toàn là những tên cuồng tín cổ súy cho sự tự diệt. Nhóm một đạo Avanul gào lên rằng họ đang bị đối xử bất công vì phải ngồi xếp dưới trong khi họ đến sớm nhất. Rất may là nguyên lão Cirius lập tức xuất hiện và giải quyết êm thấm mọi chuyện.

    Cũng như Hoàng đế Molt hay Zorzal, nàng không phải là người mộ đạo. Những thầy dòng nói quá nhiều về sự màu nhiệm của đức tin, và chỉ có thế thôi. Thú thật thì nàng thấy pháp sư và thuật sĩ hữu dụng gấp vạn lần họ. Diabo thì khác hẳn, luôn luôn tỏ ra là một con chiên ngoan đạo nhưng Pina thừa biết người anh em của nàng chỉ đang diễn kịch.

    Diabo sẵn sàng hôn lên chân bất cứ vị thầy tế nào miễn là họ sẽ đứng về phía nó trong cuộc chiến tuyệt vọng giành ngai vàng

    Tham vọng của Diabo làm dấy lên mối nghi ngờ tại viện nguyên lão. Em trai nàng là kẻ chủ mưu đằng sau thảm kịch này. Hoàng đế đã bị đầu độc, họ rỉ tai nhau như vậy nhưng các học sĩ lại lấy cái đầu ra đảm bảo đó chỉ là một chứng bệnh thường thấy ở những người ngoài sáu mươi. Chính bản thân Pina cũng không nghĩ cha mình bị hành thích. Nàng cho người kiểm tra số rượu dùng trong bữa tiệc, ngay cả từng đĩa thức ăn và người nấu chúng cũng bị đưa vào tầm ngắm. Ngay lập tức, đội cận vệ đã tra tấn ba mươi tám người, xới tung nhà bếp và lập thêm danh sách gồm một trăm nghi can nhưng vẫn chưa phát hiện được gì. Giờ lại có giả thuyết cho rằng, hung thủ là người ngoài và hắn sử dụng lối đi bí mật sau các bức tường của lâu đài để đào thoát, cho nên suốt ba ngày nay, tiếng cuốc xẻng và búa tạ không ngừng vang lên khắp hoàng cung. Đến ngày thứ năm, Pina quyết định dừng mọi cuộc tìm kiếm trước khi bọn ngốc đó phá tan tành nhà của nàng.

    Diabo không thể là thủ phạm được. Pina tin nó không có gan giết cha mình và hơn hết, nó không có lí do để làm vậy. Người mà Diabo muốn trừ khử nhất là Zorzal và hiện nay Zorzal đang ngồi chễm chệ trên ngai báu với tư cách nhiếp chính sau khi hoàng đế đột ngột lâm bệnh.

    Diabo đâu phải là kẻ ngốc đâu mà làm chuyện vô ích đến vậy. Nếu nàng là nó thì Zorzal mới là kẻ phải ra đi đầu tiên.

    Nàng phải mất khá nhiều công sức để dẹp tan tin đồn. Việc đầu tiên là cố gắng thuyết phục Zorzal đưa ra lời thông cáo chính thức cho mọi người biết rằng hoàng đế Molt Son Augustus vĩ đại không may lâm bệnh nặng và hoàng gia sẽ tổ chức một lễ cầu an lớn để người sớm hồi tỉnh. Ban đầu, anh trai nàng không đồng ý nhưng sau khi nghe nàng nói bóng gió về việc nếu không đánh tan mối nghi ngờ vô căn cứ này sớm thì chỉ là vấn đề thời gian trước khi họ chĩa mũi dùi vào hoàng thái tử đương triều, Zorzal liền đổi ý. Về phần người em trai út, Pina không lo lắng lắm. Diabo thừa thông minh để biết mình cần làm gì và như thế nào.

    "Công chúa, thái tử và hoàng tử vẫn chưa đến." Grey, vị hiệp sĩ và cận vệ già trung thành khẽ nói với nàng

    Pina đảo mắt nhìn quanh thì quả thật không thấy bóng dáng anh em của nàng đâu. Nàng không mong chờ Zorzal xuất hiện, việc tống cổ những tay chân thân tín của cha mình và mở tiệc thâu đêm ngốn kha khá thời gian. Nhưng còn Diabo thì sao ? Nó phải có mặt chứ.

    "Bao giờ thì nghi lễ mới bắt đầu?"

    "Không lâu nữa đâu, thưa công chúa" Grey đáp "Các Đại tư tế đang trên đường đến đây. Đại diện của viện nguyên lão đã có mặt đông đủ. Họ sẽ cử hành nó trước buổi trưa, nóng thế này thì ai mà chịu nổi."

    Đại diện của viện nguyên lão toàn là những người cách đây một tháng vẫn còn đứng trên đỉnh cao danh vọng nhưng bây giờ họ chẳng còn chút quyền hành nào. Pina biết hầu hết tên của họ. Ngài Done Collina, pháp quân tối cao, Fergus Hayde, tổng quan ngân khố và Mathias El Deconte, thư kí bộ chiến tranh và hơn vài chục vị chức sắc khác; Danh sách sẽ còn dài hơn trong mấy tháng sắp tới. Nạn nhân mới nhất là Boros, tướng chỉ huy đội cận vệ. Ông ta đã từ chối điều động binh sĩ trừ khi có mệnh lệnh trực tiếp từ hoàng đế Molt Son Augustus. Zorzal đích thân đến gặp vị tướng già cứng đầu và chỉ sau vài câu, Boros bị điều thẳng ra phòng tuyến giáp biên giới Niflheim .

    "Ngài Grey, ngài vui lòng gọi Bozes hoặc Panache đến đây"

    Vị hiệp sĩ già gật đầu kính cẩn rồi rời đi.

    Pina tự rót cho mình một ly rượu mạnh, rồi uống cạn nó. Vị hậu ngọt làm nàng thấy thoải mái, còn đầu thì nhẹ tênh. Nàng ước gì mình có thể về cung điện ngay bây giờ, ngâm mình trong nước nóng, để rượu nho cuốn nàng vào giấc ngủ và tránh xa đám người mê tính và ồn ào. Khi ông ngã bệnh, Pina đã khóc thương suốt đêm. Nàng khóc vì người nằm đó là cha mình và vì tương lai đế chế, thứ mà nàng nguyện thề phục vụ.

    Ngay cả kẻ khờ nhất ở Falmart cũng biết rõ anh trai nàng không hề giống thân sinh chút nào. Hoàng đế Molt là người tham vọng và tàn nhẫn nhưng không phí phạm mạng sống trong khi Zorzal nóng nảy, thiếu suy nghĩ và bạo lực. Cuộc chinh phạt vùng đồng bằng đông bắc ba năm trước là ví dụ điển hình cho việc đó. Hai mươi ngàn binh sĩ đã bỏ mạng, hàng trăm nghìn thalet vàng bị quẳng xuống sông chỉ để chiếm lấy một vùng đất khô cằn cùng một nữ nô lệ danh giá tên Tyuule, vật cưng của Zorzal.

    Zorzal sẽ phát động chiến tranh, nàng biết điều đó. Nhưng với ai đây ?

    Người Nhật là đáp án mà Pina không muốn nghĩ đến. Họ sẽ nghiền nát đế chế như một con bọ. Từ những điều tai nghe mắt thấy ở Alnus và Italica, nàng biết cuộc chiến này sẽ kết thúc trước khi nó bắt đầu. Đế chế đã chạm vào đuôi của Chimera và chỉ nhờ sự may mắn hoặc lòng nhân đạo khó hiểu của con quái vật mà lá cờ đại bàng vàng vẫn còn tung bay.

    Niflheim cũng không giúp Pina thấy khá hơn. Kẻ thù không đội trời chung có hơn một trăm năm mươi nghìn quân thường trực, cùng đội ngũ magi đông đảo. Zorzal sẽ phải trả một cái giá khá đắt nếu tuyên chiến với họ.

    Quá nhiều rắc rối. Phần lớn trong số chúng nàng không tài nào giải quyết nỗi.

    "Mình phải nói chuyện với Itami hoặc ngài Sugawara. Chỉ họ mới có khả năng giúp mình được."

    Nhưng giờ Itami đang ở đâu không biết, trong khi ngài Sugawara thì biệt tăm sau bữa tiệc định mệnh. Pina giờ chỉ có một mình giữa cơn bão và nàng đang lạc lối, chẳng còn gì có thể làm lòng nàng ấm lên trừ ly rượu nặng mùi táo lên men này. Sau khi uống thêm vài ly, nàng bắt đầu cảm thấy hơi choáng, miệng thì đắng ngắt

    "Công chúa Pina, tôi không ngờ người lại thích thứ đồ uống này đấy"

    Một giọng nói vang lên từ phía sau nàng. Pina quay lại thì thấy một người đàn ông đứng tuổi với mái tóc húi cua trong bộ Toga màu sáng.

    "Nguyên lão Ducan, thật ngạc nhiên khi ông lại đến đây. Đừng nói với ta rằng Zorzal đã sa thải ông đấy"

    "Không, không đâu, thưa công chúa" Ducan lắc đầu rồi nở một nụ cười chua chát "Hai mươi năm chiến trận, mười lăm năm cố đứng trung lập trong viện nguyên lão đã giúp tôi rất nhiều. Chuyện đời thật khó đoán phải không ? Chẳng ai ngờ nổi kẻ hay thắc mắc các quyết định của cha người lại thoát nạn trong khi ngài Mathias El Deconte đây lại sắp phải về vườn."

    "Ông nhận được đặc ân này vì đã không trung thành với hoàng đế sao?" Pina nói như buộc tội. Rượu làm nàng hơi bạo miệng hơn "ta cũng không ngờ rằng ông lại tham quyền cố vị đến như vậy, Ducan."

    "Tôi rất trung thành đấy chứ" ông ta nở một nụ cười khó hiểu khi ngồi xuống cạnh nàng "Nhưng vấn đề là lòng trung thành của tôi lại không nằm ở hoàng đế hay thái tử. Tôi nghĩ người biết nó nằm ở chỗ nào ?"

    "Ta không có thời gian để chơi giải đố đâu, Ducan" Nàng bực bội ra mặt "Ông đến đây làm gì ?"

    "Chúng ta thể dùng một cốc rượu chát trước khi bắt đầu chứ?" Ducan nói "Trò chuyện là một công việc khát nước."

    Pina ra hiệu cho người hầu gái mang bình rượu và cốc đến. Vị nguyên lão uống cạn nó như nước lã, vài giọt vẫn còn bám lên râu ông ta.

    "Phải bắt đầu từ đâu đây ? À, đế chế đang lâm nguy."

    Đế chế đang lâm nguy sao ? Không thể nào. Hàng nghìn năm nay, kể từ thời Hoàng đế Ariz lập quốc, Đế chế đã trải qua vô vàng khó khăn nhưng vẫn đứng vững. Nó đã biến các bộ tộc man rợ cùng vị thần khát máu thành dòng chú thích trong sách sử, khuất phục các tiểu quốc ngoan cố và đẩy lùi dân Niflheim về miền đông nam. Một thế lực khổng lồ như vậy không thể sụp đổ được, nó quá to để có thể ngã.

    "Người đang nghĩ rằng tôi đang nói xằng bậy đúng không ? rằng đế quốc này vĩ đại đến mức không thể bị đánh bại"

    Chết tiệt, lão đọc được suy nghĩ của mình. Pina từ lâu đã nghe đồn rằng Ducan không hề tầm thường chút nào dù ông ta không tham gia chính trường nhiều lắm.

    "Công chúa là người thông minh. Tôi cho rằng người đã nhận ra điều này nhưng lại quá cố chấp để thừa nhận nó."

    Bị nói trúng tim đen, Pina không biết nên làm thế nào. Với một con cáo già như Ducan, nói dối là vô hiệu.

    "Ta không mù đâu, Ducan" Nàng ném cho lão ta một cái nhìn sắc như dao cạo "Nhưng việc đó liên quan gì đến ông ?"

    "Nhìn đám người kia mà xem" Nụ cười đắc ý trên gương mặt Ducan biến mất, thay vào đó là nét nghiêm nghị, khắc khổ của một người từng trải - "Một đám già hết thời bị quây quanh bởi những tên mê tín, và ngoài kia, thành phố như một cái chảo lửa cả nghĩa đen lân nghĩa bóng. Và ai là người chịu trách nhiệm?"

    Zorzal là cái tên đầu tiên mà Pina nghĩ đến. Anh trai nàng là người gây náo loạn trong nghị viện, là kẻ phong tỏa kinh đô, khiến giá bánh mì và muối tăng gấp năm lần, và có trời mới biết chuyện gì sẽ diễn ra tiếp theo. Cha cô cũng gánh một phần trách nhiệm, các tiểu vương quốc bắt đầu âm mưu chống lại đế chế sau thảm bại Alnus

    "Ông đang nói những lời nguy hiểm đấy, nguyên lão Ducan" Pina giả vờ thờ ơ "Zorzal chưa bao giờ thích bị người khác kết tội."

    “Công chúa hiểu nhầm rồi. Tôi chỉ muốn nói rằng trách nhiệm thuộc về tất cả chúng ta dù người có là công chúa, hoàng tử, dân thường, tộc Elves hay người lùn. Miễn là thần dân đế chế thì phải có trách nhiệm đảm bảo sự tồn tại của nó. Đế chế người thấy hàng ngày không phải của riêng hoàng đế Molt hay Zozral mà là của tất cả mọi người. Vì sao ư ? Chính nguyên lão Tranvian cùng những thợ phu đã xây nên thánh điện vĩ đại này, còn Solon là người đầu tiên chấp bút cho bộ luật dân sự, và mười năm trước khi tôi được sinh ra, thống chế Marius và nhân dân vùng Sachen đã hy sinh mạng sống để giữ lấy đèo Danto trước quân xâm lược từ phương Đông. Vinh quang của đế chế được dựng nên từ máu và mồ hôi của những con người đó.”

    Pina cười khẩy "Nếu ông cần máu và mồ hôi đến như vậy thì Zorzal là vị hoàng đế tuyệt vời. Mồ hôi thì có thể hơi ít nhưng máu thì không thiếu đâu."

    "Và đó sẽ là máu của những người mà tôi trung thành phục vụ. Những người lính, nông dân, thợ xây, thợ rèn, thợ điêu khắc, những bà mẹ và những đứa trẻ."

    "Và ông muốn ta làm gì hả, Ducan? lẻn vào hoàng cung, đâm người anh ruột thịt của ta một nhát hay ông muốn nhờ đội kị sĩ của ta làm thay ?" Pina gắt lên. Nàng đã chán chơi trò ú tim "Đừng bao giờ nhắc đến chuyện này nữa, ta cảnh cáo ông đó."

    Zorzal có thể là người tồi tệ nhưng vẫn là anh trai nàng. Cái ý nghĩ phản bội anh làm nàng thấy tởm lợm. Pina tự hỏi không biết có bao nhiêu âm mưu như thế này từ ngày cha nàng lên ngôi. Viện nguyên lão từng hạ bệ ba vị hoàng đế và giết một. Jeneasy Điên Loạn đã gục ngay tại bàn ăn sáng với một vết rách dài trên cổ họng, kết thúc mười lăm năm hỗn loạn nhất trong lịch sử. Thà chết chứ nàng không để Zorzal thành người thứ hai.

    "Bạo loạn không phải là thứ chúng tôi muốn" Ducan chậm rãi đứng dậy "Một chế độ thành hình từ gươm đao sớm muộn gì cũng kết thúc bằng gươm đao."

    "Chúng tôi?"

    Vậy là ông ta đã tập hợp được một lực lượng ủng hộ. Pina thấy hơi ớn lạnh. Ducan vốn không hề nói nói suông

    "Những người trung thành với đế chế và người dân của nó, công chúa quí mến ạ" Vị nguyên lão mỉm cười "Những kẻ lo lắng cho tương lai."

    Trước khi Ducan định rời khỏi thánh điện, Pina hỏi ông ta một câu :

    "Ông không sợ tôi nói chuyện này với anh trai mình sao, Ducan? Chỉ một lời thôi thì đầu của ông và của cả bạn bè ông nữa sẽ rời khỏi cổ"

    "Tôi sẽ không đến đây nếu thiếu sự đảm bảo" Ducan đáp "Công chúa sẽ không hé răng nửa lời vì tôi biết người và tôi đều đứng cùng một trận tuyến."

    Thế là ông ta hòa mình vào đám đông và biến mất vào thời điểm các Đại tư tế bước vào thánh điện.
     

Chia sẻ trang này