PDA

View Full Version : Siêu sao qua các thời đại!!!


JakeSatan
10-11-2004, 17:14
Đầu tiên em xin gửi lời tới Mod, nếu bác cho được chữ CHÚ Ý vào topic này thì hay quá !!!
Gửi đến tất cả thành viên : đây không phải là chỗ chat nhảm, đây là chỗ các thành viên post bài về các cầu thủ trong lịch sử bóng đá thế giới ( hoặc Việt Nam cũng được ). Bài viết là bài sưu tầm hay tự viết gì cũng được .
Bài viết của bạn phải đảm bảo một số ý sau :
- Tên thật của cầu thủ
- Năm sinh ( và mất )
- Có gì xuất chúng ( đây là phần nội dung chủ yếu của bài )
- Các bạn nên giới thiệu đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của cầu thủ đó
Rất mong được sự chú ý của Mod và sự tham gia tích cực của các thành viên!!!

JakeSatan
10-11-2004, 18:03
Vì là một fan cuồng nhiệt của MU nên đầu tiên mình xin post bài về một cầu thủ một thời lừng lẫy ở Manchester United , đó là cầu thủ mang chiếc áo số 7 lừng danh Eric Cantona
ERIC CANTONA _ SIÊU CẦU THỦ NHIỀU TÀI LẮM TẬT
Eric Cantona, một rong những cầu thủ xuất chúng nhất của bóng đá Pháp, đồng thời cũng là người gây tranh cãi nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng, là một siêu sao lắm tài nhiều tật. Đánh giá về anh, nhioều người cho rằng đây là một á thần, còn nhiều người khác lại cho anh là hiện thân của quỷ dữ. Chỉ có một điều mà người ta không bao giờ có thể chối cãi và luôn nhất trí với nhau: tài năng bóng đá của anh là siêu việt.
Sinh năm 1966, cao 1m82, Cantona là một cầu thủ siêu đẳng, gây cho đối thủ và người xem nhiều phen vô cùng ngỡ ngàng bởi những màn trình diễn tuyệt kĩ của anh cùng với trái bóng. Trái bóng trong chân Cantona ngoan ngoãn như được điều khiển bằng dây và một khi anh đã tung chân sút thì các thủ môn khó mà đoán biết được nó sẽ bay về hướng nào của khung thành. Nổi tiếng với cú sút trái chân, Cantona đã nhiều phen buộc các thủ môn phải vào lưới nhặt bóng mà chẳng hiểu rõ tại sao!
Cantona thích chơi hơi lùi về tuyến giữa để có thể tỉnh táo bao quát toàn bộ thế trận và tìm hướng đột kích thuận lợi nhất cho đồng đội. Khi cướp được bóng trong chân đối phương, Can tona lập tức chọc thủng hàng phòng ngự đối phương bằng những đường chuyền thông minh, cực kì chính xác cho đồng đội hay tự mình lao vào các đợt công kích. Trên sân cỏ, Cantona là một thủ lĩng bẩm sinh, đủ sức ảnh hưởng đến phong độ của toàn đội bóng. Thù thành Schmeichel của Đan Mạchđã nhận xét: '' khi có mặt Cantona thì hầu như toàn đội gắn kết th2nh một khối và các đồng đội của anh đều hiểu rẳng họ sẽ nhận được sự trợ giúp tối đa từ Cantona ... ''
Nhưng Cantona là một cầu thủ trái tính nết, luôn nói ra những suy nghĩ của mình mà chẳng hề kiêng dè ai. Điều đó giải thích tại sao trong sự nghiệp bóng đá của mình, Cantona phải thường xuyên thay đổi CLB thi đấu. Anh đã chơi cho CLB Auxerre ( 2 lần ), Maxtigues, Olimpique Marseille ( 2 lần ), Bordeaux, Montpellier, Nimes, Leeds, Manchester United. Thế nhưng việc chuyển đổi thường xuyên các CLB khôngn những không cản trở Cantona giành các danh hiệu mà còn làm cho vai trò của anh thêm nổi bật. Năm 1991, khi đá cho O.Marseille, Cantona đã giúp đội đoạt chúc vô địch Pháp. Năm sau, 1992, chuyển sang đá cho CLB Leeds ở Anh, Cantona giúp cho CLB này vô địch nước Anh. Năm sau nữa, 1993, chuyển sang đá cho Man. United, Cantona lại giúp cho CLB này đoạt chức vô địch của Leeds! Quả là thần kì. Cùng với Man.United, Cantona đã giành 4 chúc vô địch Anh 1993, 1994, 1996, 1997.
Anh cũng là cầu thủ nước ngoài đầu tiên được trao tặng danh hiệu ''Cầu thủ xuất sắc nhất nước Anh'' vào năm 1994.
Về mặt tài năng, người ta thường coi Cantona là sự kề tục tài năng xứng đáng của M.Platini, cầu thủ xuất chúnt của Pháp trong những năm 80. Thế nhưng nếu Platini là một mẫu mực về đạo đức sân cỏ, có cách xử lí hết sức điềm tĩnh đối với tình huống thì Cantona hoàn toàn trái ngược. Ngày 25-1-1995, trước hàng chục ngàn khán giả trên sân Selhurst Park và hàng triệu khán giả theo dõi qua màn ảnh truyền hình trận đấu giữa Man.United và Crystal Paace, Cantona đã thực hiện 1 cú đá kungfu kinh khủng vào ngực của 1 cổ động viên Crystal Palace khi người này to tiếng miệt thị Cantona. Kết quả của cú đá này là Cantona bị cấm đá bóng trên toàn thế giới trong 9 tháng, đồng thời bị kết án 2 tuần tù giam! Để thay thế cho bản án khắc nghiệt này, Cantona phải thực hiện hình phạt 120 giờ lao động công ích. Để thi hành nghiêm túc bản án, Cantona ''lên lớp'' giảng dạy cho 700 trẻ em từ 9 đến11 tuổi về nghệ thuật bóng đá trong vòng 6 tuần.
Trên đây là đôi nét về Cantona!!!

nhatanh
10-11-2004, 20:43
Dĩ nhiên là Eric cantona rồi:))
cả 1 huyền thoại của MU đấy:))
Lũ French ngu thật!:)) bỏ lỡ 1 tài năng cho đội tuyển quốc gia:))
Thần tượng lớn nhất của tui qua mọi thời đại là Eric cantona:))

SimpleVN
10-11-2004, 21:36
Tôi góp ý một chút thông tin nhé, nói về các cầu thủ lớn thì nhiều lắm nhưng những người có thể ghi tên vào Fooballl HOF, sánh vai với Pele, Garrincha, Maradona, Johan Crufft, Beckenbauer, Platini, Baresi... thì trong số các cầu thủ hiện đang chơi bóng không có nhiều người đạt được. Chỉ có:
- Paolo Maldini: Trong đội hình tiêu biểu của mọi thời đại, anh được xuất phát trong đội hình chính ở vị trí hậu vệ trái, sự nghiệp của anh nói lên tất cả.
- Marcos Cafu: 3 lần dự chung kết World Cup, ai cũng phải ghen tị với anh về thành tích này, kể cả Vua Pele ( năm 62 ông bị chấn thương, về nước sớm ).
- Zinedine Zidane: 3 lần là cầu thủ xuất sắc nhất Thế giới, 2 lần quả bóng vàng Châu Âu, là công thần chính cho 1 Chức vô địch thế giới, một EURO, ngay cả Maradona cũng chỉ làm được như anh ( tất nhiên là vai trò của Maradona quan trọng hơn trong đội tuyển Argentina ).
- Ronaldo: 3 lần là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới, 3 lần thi đấu chung kết World Cup ( 1 lần dự bị ), là cầu thủ đầu tiên trong vòng 30 năm trở lại ghi 8 bàn trong một kì World Cup.

Đó là ý của tôi, còn các bạn thấy thế nào.

JakeSatan
12-11-2004, 09:29
TẤT CẢ NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC KEEGAN
Cao 1m69, Kevin Keegan thuộc mẫu cầu thủ thấp bé. Thế nhưng không nghi ngờ gì nữa, anh chính là cầu thủ đã đổ cái bóng dài của mình trên bóng đá Anh trong suốt những năm 70, đầu thập niên 80.
Ngày 28-4-1976, trận chung kết cúp C3 châu Âu giữa CLB Liverpool của Keegan và CLB FC Bruger của Bỉ. Mới đến phút 12, FC Beuger đã dẫn 2-0. Mà đây lại là trên sân nhà Anfield Road của Liverpool. Các cổ động viên của Liverpool đã thấp thỏm lo âu. Nhưng rồi trong đội hình của Liverpool, Keegan đã bình tĩnh tổ chức các đợt tiến công và rồi nổ lực của các câu thủ Anh đã được đền đáp. Họ gỡ hòa 2-2 trước khi Keegan ghi bàn thắng quyết định 3-2 từ chấm phạt đền cho Liverpool. Ngày hôm sau, các báo Anh có dòng tít lớn: TẤT CẢ NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC KEEGAN!
Keegan là mẫu cầu thủ một mình có đủ khả năng làm xoay chuyển tình thế của cả một trận đấu. Kỹ thuật cá nhân tuyệt hảo, khống chế bóng thành thạo, Keegan chỉ cảm thấy thoải mái khi... có cầu thủ đối phương ở quanh mình! Những bàn thắng của Keegan đã giúp cho Liverpool đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên các sân cỏ Anh cũng như các sân cỏ châu Âu. Trong đội hình Liverpool, Keegan đã đoạt được 3 danh hiệu Vô địch nước Anh, 3 lần đoạt cúp nước Anh, 3 lần đoạt cúp C1, một lần đoạt cúp C3 và 1 lần đoạt siêu cúp Châu Âu. Những thành tích đó của Keegan đủ để cho bất kì một ngôi sao nào cũng phải thèm muốn. Năm 1976, Keegan được bầu là cầu thủ số 1 nườc Anh. Năm sau đó, 1977 Keegan chuyển sang đá cho CLB Hamburg của Đức và ngay sau đó, CLB này đã đoạt chức vô địch quốc gia Đức. Một điều kì lạ đã xảy ra, năm 1978, Keegan, một cầu thủ Anh đã được bầu chọn là cầu thủ số 1 của CHLB Đức ( nên biết là khán giả Đức chẳng dễ dàng gì trong việc đánh giá cầu thủ nước ngoài thi đấu ở Bundesliga của họ ).
Nhưng tài năng của Keegan còn được cả châu Âu công nhận: trong 2 năm liền 1978 và 1979, Kevin Keegan được bầu là cầu thủ số 1 châu Âu, giành được Quả bóng vàng, một sự tôn vinh xứng đáng.
Trên đây là vài nét trong sự nghiệp làm cầu thủ của HLV Keegan của Man City.

JakeSatan
12-11-2004, 17:40
PELE _ VỊ VUA KHÔNG NGAI !!!
Ngày 19-11-1969, sân Maracana, ''thánh địa'' bóng đá Braxin, hơn 200 nghìn chỗ ngồi đã kín chỗ. Dường như cả thủ đô Rio De Janeiro đã đổ tới đây để chứng kiến một sự kiện lịch sử. Phút thứ 78 trong trận đấu giữa CLB Santos và CLB Vasco De Gama, trọng tài chỉ tay vào chấm phạt đền. Cầu thủ của Santos chạy lấy đà rồi sút bóng. Vào!!! Bóng bay vào lưới trong tiếng gầm như muốn vỡ tung của 200 nghìn có mặt tại sân. Cầu thủ vừa ghi bàn chạy vào lưới nhặt trái bóng rồi hôn lên nó. Đó là cầu thủ có cái tên dài dằng dặc: Edson Arantes do Nascimeno, thường được gọi là Pele. Bàn thắng vừa ghi được là bàn thắng thứ 1000 của Pele.
Nếu như lịch sử bóng đá chọn ra 1 cái tên để nhớ thì đó chỉ có thể là Pele. Không thể nghi ngờ gì nữa, Pele là cầu thủ số 1 của mọi thời đại, là ông VUA của vương quốc đặc biệt - Vương quốc bóng đá.
Sing ngày 21-10-1940 tại thành phố Tres Coracoes của Braxin, Pele khởi nghiệp với tư cách cầu thủ tại CLB Agosto Banru, sau đó từ năm 1956 bắt đầu chơi cho Santos - một CLB nổi tiếng của Braxin. Pele đã chơi cho CLB này trong suốt 18 năm, đến 1974 chuyển sang CLB Cosmos ở New York. Nhữnh thành tích của Pele gắn liền với CLB Santos và đội tuyển Braxin.
Khi Braxin thua tức tưởi Urugoay ở trận chung kết gải vô địch thế giới lần 4 năm 1950 tại ''thánh địa'' Macarana , cả Braxin ngập trong nước mắt và Pele là 1 chú bé đánh gìay lên 19 tuổi. Cái ngày ảm đạm ấy sẽ mãi còn ghi dấu trong kí ức của Pele. 7 năm sau, Pele lần đầu tiên có mặt tại đội tuyển quốc gia vào ngày 7-7-1957, trận gặp Achentina khi còn 3 tháng nữa mới đủ 17 tuổi. Một năm sau đó, Pele đến Thuỵ Điển để tham gia Giải vô địch thế giới lần 6.
Tại Thuỵ Điển, Pele hãy còn là 1 cậu bé. Cậu thường sử dụng thời gian rỗi đẻ chơi đùa với đám trẻ địa phương. nhưng điều đó chẳng thể ngăn cản anh ghi bàn tại Giải vô địch thế giới lần đầu tham dự. Trận đeầu gặp Liên Xô, anh không ghi được bàn nào nhưng đến trận gặp Xứ Uên thì Pele đã ghi 1 bàn thắng ở phút 87. Ở trận tiếp theo gặp đội tuyển Pháp trong vòng bán kết, một mình Pele ghi 3 bàn thắng. Thật là việc ngoài sức tưởng tượng đối với 1 cầu thủ lần đầu tiên tham dự giải. Nhưng chẳng dừng tại đó, trong trận chung kết gặp chủ nhà Thuỵ Điển, Pele ghi tiếp 2 bàn thắng, góp phần thắng lợi của đội tuyển, lần đầu đưa cúp Nữ thần vàng về Braxin. Từ đó trở đi, thế giới đã biết đến 1 vị vua không ngai của vương quốc bóng đá. Và hình ảnh bàn tay nắm chặt giơ cao mỗi khi ghi bàn thắng đã in sâu vào kí ức của nhiều người.
Bốn năm sau, tại Giải vô địch thế giới lần 7, một vết chấn thương đã khiến cho Pele phải rời sân cỏ ngay ở giai đoạn đầu. Tuy vậy, tuyển Braxin vẫn vô địch lần 2. Sự thất bại của tuyển Braxin tại giải thế giới 1966 tại Anh sau đó đã được bù đắp tại Mexico 1970. Chính ở giải này, một Pele sánh chói đã giúp cho Braxin gìanh chức vô địch thế giới lần 3, đưa cúp Nữ thần vàng vĩnh viễn về tay người Braxin.
Tại Mundial 1970, tài nghệ của Pele đã được ghi nhận như một trong những trang đẹp đẽ nhất mà bóng đá đã cống hiến cho loài người.
Người ta đã nói nhiều đến tài phù phép trái bóng của Pele, người có khả năng đột phá suốt chiều dọc của sân bóng! Điều này được thể hiện rõ trong trận đấu ngày 18-4-1959 giữa đội Santos của Pele với đội Flumience. Phút thứ 33, nhận bóng trực tiếp từ thủ môn Gilma, Pele lần lượt đi bóng qua tất cả cầu thủ đối phương cản đường, kể cả thủ môn rồi đưa bóng vào khung thành. Một mình Pele phá tan đội quân truy cản của Flumience, phút chốc đã làm cho khung thành trống rỗng.
Pele hoàn toàn không phải là một tài năng mang tính cá nhân. Khả năng bao quát trên sân cực giỏi cộng với sự nhạy cảm về khoảng trống một cách kì lạ đã khiến cho Pele có những đường chuyền ''sát thủ'', đặt đồng đội vào những tư thế thuận lợi nhất để ghi bàn. Ở Pele còn có những cú sút mạnh như đại bác khiến các thủ môn đối phương phải kinh sợ. Trong trận gặp Tiệp Khắc ở Mexico 70, thoáng thấy thủ môn đối phương lên cao một chút, có bóng từ cự li khoảng 70m, Pele đã ''phóng'' trái bóng đi vơi tốc độ cực nhanh và trái bóng chỉ vượt trên xa ngang khung thành vài cm. Điều này cho thấy Pele có một đầu óc quan sát tỉ mĩ cùng với lực sút cực mạnh. Nói tóm lại, Pele là một mẫu cầu thủ hoàn hảo của bóng đá thế giới.
Trong suốt cuộc đời làm cầu thủ của mình, Pele đã làm được những điều mà chưa một cầu thủ nào có thể lặp lại: trong 1362 trận đấu trên sân cỏ của 65 nước, Pele đã ghi được 1283 bàn thắng, trong đó có 93 lần ghi 3 bàn và 31 lần ghi 4 bàn trong cùng 1 trận đấu. Được công nhận là cầu thủ hay nhất 2 giải Thế giới 1958 và 1970, Pele có 3 danh hiệu Vô địch thế giới, đoạt cúp Libertadores và cúp Liên lục địa năm 1962. Cho đến khi chuyển sang đá cho CLB Cosmos của Mỹ, Pele vẫn còn tiếp tục giành chức vô địch năm 1977..
Những cầu thủ như Pele, bóng đá thế giới chi sản sinh ra 1 lần trong 100 năm qua. Khi tự giới thiệu về mình, Pele thường nói 1 cách giản dị:''Tôi là Pele"
Thiên Pele là nhu thế!!!

The 7th of July
12-11-2004, 21:11
*Cho tớ chơi với nào!^^...

Eric Cantona - cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử MU đã được nói đến khá đầy đủ ở trên!
Tiếp theo sẽ là bài viết về huyền thoại thứ 2: GEORGE BEST

BEST IS BEST!
Tiểu sử:
Tên: George Best
Ngày sinh: 22/5/1946 tại Belfast - Bắc Ailen
Chiều cao: 1,76m
Nặng: 70 kg
Số áo: 10
Thời gian tại MU: 1963-1974

"George Best là cầu thủ vĩ đại nhất thế giới!" Pelé nói. Khi mới đến Manchester còn là 1 chàng trai trẻ, George Best không có vẻ gì của siêu cầu thủ cả - đó là theo lời nhận xét của Mary Fullaway, bà chủ nhà của anh. Vài ngày sau khi đến Manchester, anh đã đáp 1 chuyến phà trở về Bắc Ailen vì quá nhớ nhanhừng cha anh đã gửi anh lại. Tài năng của Bét bộc lộ ngay khi anh đã thích nghi được với môi trường mới. Anh chính là phát hiện của Harry Gregg:"Ngay lập tức tôi hiểu rằng Manchester United đã có một tài năng hiếm có trong tay họ. Hơn ai hết, chính G.Best đã đem về cho Old Trafford Cúp Châu Âu". anh được các chuyên gia bóng đá đánh giá là "cơn ác mộng" của các hậu vệ đối phương.

Chàng trai Belfast
Không lâu trước khi mọi người đếy chàng trai Bắc Ailen đầy tiềm năng này thì anh đã giành được Cup Thanh niên của FA năm 1964. Best đã tham gia thi đấu tất cả là 446 trận tại Anh và Châu Âu, ghi được cả tháy 178 bàn thắng! Best rất hiếm khi vắng mặt trong 1 trận đấu. Anh trở nên quan trọng không chỉ bởi tài năng ghi bàn mà còn tạo ra những cơ hội ghi bàn cho đồng đội, nhất là với Bobby Charlton và Denis Law. Anh thích đối đầu với các đối thủ của mình còn người hâm mộ thì rất thích xem anh biểu diễn trên sân cỏ!

EL Beatle
Tại nước Anh, nói đến âm nhạc thì người ta biết đến ban nhạc huyền thoại The Beatles đến từ Liverpool, còn nói đến bóng đá thì các gan hâm mộ nhắc ngay đến George Best. Với 1 phong cách sống nổi loạn, phóng khoáng cả trong lẫn ngoài sân cỏ công thêm vẻ mặt điển trai và mái tóc kiểu Beatles, Best đã trở thành thần tượng nhạc pop đầu tiên cảu bóng đá. Trên thực tế người Bồ Đào Nha đã nguwõng mộ va fgọi anh là "EL Beatle" sau trận thắng Benfica năm 1966 ở giải Cup Châu Âu. Trong trận này, Best đã 2 lần sút tung lưới Benfica. MU thành công trong những năm 1967 và 1968 có sự đóng góp lớn nhất của Best!

Sự hấp dẫn kì diệu
George Best là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất đã đem dáng vẻ hào hoa đầy quyến rũ vào sân cỏ! Tốc độ và sự thăng bằng của Best làm cho người xem cảm thấy ngây ngất dưới gót giầy điệu nghệ của anh, quả bóng được lăn nhanh hơn rất nhiều, thêm nữa Best có hình thức bề ngoài khá quyến rũ. Phụ nữ thường tụ thập để xem anh trình diễn trên sân cỏ, người mà đã trở thành thần tượng ghi bàn tốc độ trong suốt thập kỉ 60-70!

Ngôi sao lắm tài nhiều tật
Khi đã trở thành nỏi tiếng, Best tự coi mình là "James Bond của bóng đá", Best nghĩ rằng, anh có tất cả những gì mình muốn: tiền, gái và sự ăn chơi phóng đãn, luôn coi mình là trên hết! thường xuyên bỏ những trận những trận tập luyện để vui thú hưởng lạc theo ý thích tự do riêng của minh. Mặc dù vậy, với tài năng thiên bẩm, anh đã tạo nên một tphong cách mới trong lối chơi tiến công đầy swcj thuyết phục. Với những thành công vang dội cùng với MU trong suốt thập nien 1960 - 1970, George Best đã trở thành huyền thoại 1 thời của MU, như vua bóng đá Pele nhận xét: "George Best là cầu thủ vĩ đại nhất thế giới!"

Những con số biết nói:
Các trận thi đấu quốc tế: Best khoác áo đội tuyển Bắc Ailen 37 lần, nhưng chưa bao giờ được chơi trong 1 trận chung kết của một giải lớn!
Ngôi sao Châu Âu: Best đã từng giành được 2 huy chương vô địch vào năm 1965 và 1967 và Cúp Châu Âu năm 1968
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất: Năm 1968 Best đã được tạng danh hiệu "cầu thủ tre xuất sắc nhất châu Âu" đồng thời được nhận danh hiệu "cầu thủ xuất sắc nhất Bắc Ailen và Liên hiệp Anh"
Những bàn thắng kỉ lục: năm 1970 trong trận MU đánh bại Northamton 8-2, Best đã ghi được 6 bàn (Cúp FA). Mùa giải 1967/1968 anh ghi được 28 bàn thắng.

(Bài viết được trích đăng trong ấn phẩm Man United - Những điều chưa biết)

ghost_sor
13-11-2004, 09:30
Tôi không biết nhiều về nhưng cầu thủ nổi tiếng do không có nhiều tư liệu(kinh tế không được khấm khá lắm),nhưng tôi đánh điện tử trên PS có điều khiển qua một cầu thủ có tên là Pukas(không nhớ rõ lắm) anh ta có hiệu xuất ghi bàn cao kinh dị luôn,hơn cả Thánh Johan,có ai biết gì về anh thì post lên cho tui ngó wa tí nhé...

thienthanqnd2005
13-11-2004, 20:32
-Còn đây là bài viết về thiên thần đuôi ngựa Roberto Baggio, trước đây thì tui cũng lập ra 1 topic nói về các thần tượng trong bóng đá, và bài đầu tiên là nói về chàng cầu thủ tài hoa nước Ý này, còn bây giờ để hưởng ứng mọi người tui xin mạo muội post 1 bài viết về anh, nhưng không phải là Cover lại bài viết trước.
-San Siro. 16/5/2004. Serie A vòng đấu thứ 34. Hãy ghi nhớ những dòng này. Hãy đặt chúng vào một góc trang trọng trong trái tim bạn, vì đó là nơi cuối cùng, thời khắc cuối cùng bạn được nhìn thấy Baggio chơi bóng, là lần cuối cùng bạn được chiêm ngưỡng chiếc áo số 10 thấm đẫm mồ hôi, thấm ướt cái tên Baggio chạy trên thảm cỏ xanh nước Ý.


Khi bạn thấy tất cả sân San Siro đứng dậy và vỗ tay; khi bên tai bạn vọng đến những tiếng cười sung sướng xen lẫn tiếng khóc nức nở; khi đôi mắt nhoà lệ của bạn dõi theo bước chân đi vào đường hầm, cánh tay vẫy chào và nụ cười ấm áp trên môi Baggio; đó cũng là lúc bạn chợt hiểu: anh ấy đã chia tay chúng ta!

Trên thế giới có hàng ngàn người tung hô Freddy Adu là một “Pelé mới”; hay Marco Borriello là một Van Basten thứ hai, nhưng chưa có ai từng một lần được so sánh với Baggio. Tại sao vậy? Phải chăng vì người ta không dám tin là sẽ còn có một con người thứ hai như Baggio? Không thể tin và cũng không muốn tin sẽ có ai khác có thể đứng vào vị trí của Baggio trong trái tim những người yêu bóng đá? Tài năng của anh không được thừa nhận rông rãi như J.Cruyff hay Maradona nhưng nếu được hỏi về con người luôn làm sống dậy tình yêu, niềm đam mê thực thụ và khao khát vươn tới vẻ đẹp của bóng đá, hàng triệu câu trả lời sẽ không ngần ngại được bắt đầu bằng R.Baggio.

Khi Baggio nhẹ nhàng đảo người qua hậu vệ đối phương, khi anh dũng mãnh tung một cú sút, ở anh toát lên không chỉ là kỹ thuật cá nhân điêu luyện, mà còn là sự nỗ lực, sự say mê được cống hiến những gì tinh tuý và hoàn thiện nhất của bóng đá cho người xem. Có người nói “chưa bao giờ phải nuối tiếc khi xem một trận đấu của Baggio.”

Ngọn lửa đam mê hừng hực cháy trong con người anh đã lan toả ra một cách mạnh mẽ, để 90 phút bóng lăn trên sân luôn luôn là 90 phút người hâm mộ được thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp của bóng đá, như một môn nghệ thuật sau mỗi trận đấu là những dư vị ngọt ngào, sâu lắng vang vọng, là những xúc cảm chân thực và sâu kín nhất mà Baggio chính là người đã khơi thức lên. Người ta yêu anh vì lẽ đó, yêu anh bởi chính anh là một động lực mạnh mẽ giúp cho họ hoà mình và sống trong cái cuồng nhiệt, trong cái vẻ đẹp mà họ khám phá ra nơi anh.

Baggio không phải suốt cuộc đời mình chỉ chơi cho một đội bóng. Anh đã không đi vào lịch sử của bất cứ CLB nào với một chiếc áo huyền thoại như Maldini hay Baresi ở Milan. Nhưng anh càng không phải Vieri, đi rất nhiều CLB như một thú vui và những lợi nhuận tài chính. Baggio đi tới bất cứ nơi đâu anh được chơi bóng bằng cả tài năng, trái tim và bầu nhiệt huyết của mình, một cách thanh thản và cống hiến nhất. Có hề gì với một CLB tỉnh lẻ như Brescia. Baggio - một người Ý, dòng máu chảy trong anh là dòng máu luôn sục sôi, say đắm, cuồng nhiệt và hết mình của người Ý. Tâm hồn anh cũng mặn nồng nắng gió Địa Trung Hải. Với anh, được sống và cống hiến, có lẽ thế là đã đủ cho một tình yêu.
trích từ 24H.COM.VN

JakeSatan
18-11-2004, 13:53
STANLEY MATTHEWS – ‘’GÃ PHÙ THUỶ’’ CỦA SÂN CỎ
Ngày 28-4-1965, hai huyền thoại của bóng đá thế giới là thủ môn long danh người Liên Xô Lev Iasin và cầu thủ Hunggary Ferene Puskas công kênh trên vai 1 người khi trận đấu kết thúc. Con người được tôn vinh đó không phải ai khác chính là Stanley Matthews, một trong những tượng đài kì vĩ của bóng đá Anh cũng như thế giới.
Bóng đá là 1 môn thể thao quyến rũ nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt đối với cầu thủ. Nó không chấp nhận chậm chạp, già nua, những cái mà tuổi tác tất yếu sẽ mang lại cho cầu thủ 1 ngày nào đó.
Thế nhưng Stanley là 1 ngoại lệ.

Sinh ngày 1-2-1915 tại Stoke-on-Trent, sự nghiệp thể thao của Stanley bắt đầu từ năm 1930 khi ông mới 16 tuổi. Bốn năm sau đó, Stanley đã có mặt lần đầu tiên trong đội tuyển Anh trong trận gặp đội tuyển Xứ Uên. Ít ai ngờ được rằng Stanley sẽ giữ vị trí tiền đạo cánh phải của đội tuyển Anh trong suốt 23 năm, bằng số tuổi của 1 cầu thủ trẻ!!! Trận cuối cùng Stanley tham gia đội tuyển Anh là trận gặp Đan Mạch na7m 1957 ở vòng loại giải VĐTG 1958.khi đó, Stanley đã 42 tuổi! Trứơc đó 1 năm, ông còn được bầu chọn là cầu thu xuất sắc nhất châu và trở thành người đầu tiên nhận Quả bóng vàng của ‘’ Tuần báo bóng đá Pháp ‘’ trao tặng, giải thưởng uy tín nhất châu Âu. Có lẽ không ai xứng đáng hơn Stanley Matthews để nhận niềm vinh dự đó, và việc ông đạt vinh quang ở tuổi trên 40 thì quả là kì tích.

Trong thời kì từ năm 1930 đến 1947, Stanley Mathews chơi cho CLB Stocke City. Từ 1947 đến 1961, ôn glà cầu thủ sáng chói của CLB Blackpool. Khả năng làm xiếc với trái bóng cùng với kĩ thuật cá nhân hoàn hảo, S.Matthews là mối đe doạ đối với bất kì hàng hậu vệ nào. Chính trong thời kì ở CLB này, S.Matthews được người ham mộ bóng đá Anh đặt cho biệt danh “Tên phù thuỷ của Blackpool”. Khả na7ng cống hếin cho bóng đá của ông thật đáng kinh ngạc. Trong đội hình của Blackpool mà S. Matthews thi đấu từ năm 1947, có 1 cầu thủ true dự bị cho vị trí tiền đạo cánh phải của ông từ năm 1953 tên là Hobson. Sau 1 thời gian ngồi dự bị cho S.Matthews, cầu thủ này nói với ban lãnh đạo CLB: “Tôi muốn đi khỏi đội. Tôi không muốn suốt đời ngồi trên băng ghế dự bị”. Cầu thủ trẻ thay thế cho Hobson là Alex Haxris sau 1 thời gian ngồi dự bị cho S.Mathews cuối cùng cũng theo chân Hobson để tìm 1 cơ hội khác cho mình. S.Mathews quá xuất sắc đến nỗi khi ông đã trên 40 người ta vẫn không nghĩ rằng ông đã đến lúc nghỉ hưu. Đến năm 1961, khi nghe tin CLB ban đầu của mình là Stocke City gặp những khó khăn về tài chính và bị xuống hạng, S.Matthews quyết định dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới khi từ Blackpool quay về Stocke City. Phép lạ diễn ra! Tài năng và uy tín của S.Matthews đã kéo khán giả đến nay sân vận động mỗi khi ông ra sân thi đấu. Thế là những vấn đề tài chính được giải quyết. Nhưng điều quan trọng hơn là với năng lực thi đấu của mình, ngay năm sau đó, S.Matthews đã giúp cho CLB Stocke City trở lại giải ngoại hạng! Cũng năm 1962, S.Matthews được bầu chọn là cầu thủ số 1 nước Anh, khi đã 47 tuổi! Quả là 1 điều kì diệu mà bóng đá đã ban tặng cho con người. S.Matthews thi đấu cho CLB Stocke City 5 năm, đến năm 1965 khi ông đã 50 tuổi. Năm 1965, S.Matthews trở thành cầu thủ bóng đá đầu tiên được Nữ Hoàng Anh ban tặng danh hiệu Hiệp sĩ.

Kể từ cái ngày đáng nhớ khi S.Matthews giã từ sân cỏ với sự có mặt của Lev Iasin và Ferene Puskas, đã nhiều thập kỉ trôi qua. Đến tháng 7-1995, S.Matthews làm thêm 1 điều kì diệu nữa khi đã chơi 15 phút trong trận đấu giao hữu giữa 2 CLB là Clevedon Town và Bristol City, lúc này ông đã 81 tuổi.
Dướng như Stanley Matthews, trong giới hạn của mình, muốn chứng minh rằng với ông, tuổi tác không thể là giới hạn đối với môn thể thao tuyệt diệu nhất hành tinh này: BÓNG ĐÁ!!!!

Xú Quận Mã
19-11-2004, 15:55
Đội hình thế kỷ của các châu lục:
+Châu Âu:
Lev Yashine(Liên Xô);Fran Beckenbauer(Đức);Franco Baresi(Italia);Paolo Maldini(Italia);Bobby Moore(Anh);Johan Cruyff(Hà Lan);Michel Platini(Pháp);George Best(Bắc Ailen);Eusebio(Bồ Đào Nha);Ferenc Puskas(Hungari);Gerd Muller(Đức).
+Bắc Trung Mỹ:
Antonio Carbajal(Mexico);Marcelo Balboa(Mỹ);Gilberto Yearwood(Honduras);Bruce Wilson(Canada);Gustavo Pena(Mexico);Ramon Ramirez(Mexico);Jorge Gonzalez(El Salvador);Tab Ramos(Mỹ);Dely Valdes(Panama);Hugo Sanchez(Mexico);Hernan Medford(Costa Rica).
+Nam Mỹ:
Ubaldo Fillol(Argentina);Daniel Passarella(Argentina);Nilton Santos(Brazil);Elias Figueroa(Chile);Carlos Alberto(Brazil);Alfredo Di Stefano(Argentina);Roberto Rivelino(Brazil);Didi(Brazil);Pele(Brazil);Maradona(Argentina);Garrincha(Brazil).
+Châu Phi:
Thomas N'kono(Cameroon);Ali Shehata(Ai Cập);Ibrahim Youssef(Ai Cập);Emmanuel Kunde(Cameroon);Illunga Mwepu(Zaire);Segun Odegbami(Cameroon);Theophile Abega(Cameroon);Abedi Pele (Ghana);George Weah(Ghana);Roger Milla(Cameroon);Rabah Madjier(Algeria).
+Châu A':
Chow Chee Keong(Malaysia);Kim Ho Kon(Hàn Quốc);Hong Myung Bo(Hàn Quốc);Soh Chi Aum(Malaysia);Chen Chi Doi(Đài Loan);Karim Bagheri(Iran);Kim Joo Sang(Hàn Quốc);Majeed Abdullah(Saudi Arabia);Kunishige Kamamoto(Nhật Bản);Cha Bum Kun(Hàn Quốc);Khodadad Azizi(Iran).

Xú Quận Mã
19-11-2004, 16:03
Đội hình thế kỷ của các châu lục:
+Châu Âu:
Lev Yashine(Liên Xô);Fran Beckenbauer(Đức);Franco Baresi(Italia);Paolo Maldini(Italia);Bobby Moore(Anh);Johan Cruyff(Hà Lan);Michel Platini(Pháp);George Best(Bắc Ailen);Eusebio(Bồ Đào Nha);Ferenc Puskas(Hungari);Gerd Muller(Đức).
+Bắc Trung Mỹ:
Antonio Carbajal(Mexico);Marcelo Balboa(Mỹ);Gilberto Yearwood(Honduras);Bruce Wilson(Canada);Gustavo Pena(Mexico);Ramon Ramirez(Mexico);Jorge Gonzalez(El Salvador);Tab Ramos(Mỹ);Dely Valdes(Panama);Hugo Sanchez(Mexico);Hernan Medford(Costa Rica).
+Nam Mỹ:
Ubaldo Fillol(Argentina);Daniel Passarella(Argentina);Nilton Santos(Brazil);Elias Figueroa(Chile);Carlos Alberto(Brazil);Alfredo Di Stefano(Argentina);Roberto Rivelino(Brazil);Didi(Brazil);Pele(Brazil);Maradona(Argentina);Garrincha(Brazil).
+Châu Phi:
Thomas N'kono(Cameroon);Ali Shehata(Ai Cập);Ibrahim Youssef(Ai Cập);Emmanuel Kunde(Cameroon);Illunga Mwepu(Zaire);Segun Odegbami(Cameroon);Theophile Abega(Cameroon);Abedi Pele (Ghana);George Weah(Ghana);Roger Milla(Cameroon);Rabah Madjier(Algeria).
+Châu A':
Chow Chee Keong(Malaysia);Kim Ho Kon(Hàn Quốc);Hong Myung Bo(Hàn Quốc);Soh Chi Aum(Malaysia);Chen Chi Doi(Đài Loan);Karim Bagheri(Iran);Kim Joo Sang(Hàn Quốc);Majeed Abdullah(Saudi Arabia);Kunishige Kamamoto(Nhật Bản);Cha Bum Kun(Hàn Quốc);Khodadad Azizi(Iran).

JakeSatan
19-11-2004, 16:40
Để làm rõ hơn việc Vua Bóng Đá Pele mãi là vị Vua , tui xin giới thiệu với các bác bài sau:
Tại sao Pele mãi ngự trị trên ngôi Vua bóng đá?
http://images6.us.tintucvietnam.com/Uploaded/yennh/Pele4.jpg
"Vua Pele"
Có 4 ứng cử viên có thể sánh được với Pele, đó là Maradona, Di Stefano, Cruyff và Garrincha, nhưng có những điều khiến Pele luôn đứng vững trên ngôi vị cao quý: Vua bóng đá.

Pele chơi bóng vào cái thời mà các cầu thủ còn chơi rất “tự do”. Có nghĩa là các cầu thủ phải tự bảo vệ mình khỏi những chấn thương. Bởi điều lệ bóng đá khi ấy chưa hoàn thiện, cũng chưa có những khung hình phạt rõ rệt và nghiêm khắc nên các hậu vệ mặc sức “phang” và “chém chặt”. Do đó, nguy cơ dính chấn thương nặng là rất lớn.

Vậy mà trong suốt sự nghiệp thi đấu, Pele không những không dính chấn thương mà còn toả sáng rực rỡ. Cả một đời cống hiến cho trái bóng trong, vậy mà lần đầu tiên Pele phải lên bàn mổ vì một vấn đề ở đầu gối phải lại là khi ông đã… 58 tuổi.
http://images6.us.tintucvietnam.com/Uploaded/yennh/Pele3.jpg
Những điều Pele làm đượctưởng như là "không tưởng"ở thời của ông.

Pele giành 3 Cúp Vàng thế giới trong hoàn cảnh các ĐT đầy rẫy ngôi sao. Maradona đã giành Cúp Vàng khi ở vào thời của anh, gần như không có một ngôi sao nào nổi trội. Và “Cậu bé Vàng” đã được thừa nhận và nổi tiếng như là một điều tất yếu. Còn Pele, đứng giữa vô vàn những ngôi sao chói sáng như Puskas, Di Stefano, Cruyff, Garrincha… ông vẫn thể hiện được tài năng và khẳng định vị trí số 1 của mình.

Pele không hề chơi bóng tại bất cứ CLB châu Âu nào và lối chơi của ông chưa được người dân Cựu lục địa kiểm nghiệm. “Pele có thể thất bại nếu chơi bóng tại châu Âu”, Maradona đã phát biểu như vậy trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên đài truyền hình Italia năm 1997.

Nhưng thực tế đã chứng minh, không nơi nào có thể kìm hãm tài năng của ông. Pele đã từng chơi khoảng 100 trận tại châu Âu (trong màu áo của CLB Santos và ĐT Brazil) và ông vẫn đạt được hiệu suất ghi bàn 1bàn/1trận. Tuy vinh quang Pele không gắn liền với bóng đá châu Âu nhưng vào thời đó, ai dám nói rằng bóng đá châu Âu đạt được trình độ cao hơn Brazil?

Tại 3 kỳ World Cup, Pele luôn là sự lựa chọn số 1 ở vị trí thi đấu của mình và khi khoác áo cho Santos, không trận nào ông không ghi bàn.

Xét về từng khía cạnh, Pele chưa chắc đã phải là người hoàn hảo nhất. Maradona có thể hơn ông về kỹ thuật, Cruyff có thể vượt trội ông về óc quan sát và sự thông minh. Nhưng “Vua Pele” lại là cầu thủ đa năng nhất, mãnh liệt nhất, tạo được nhiều cảm hứng cho bóng đá nhất và là đối thủ đáng sợ nhất của mọi đối thủ.

Tên thật: Edson Arantes do Nascimento

Tên thường gọi: Pele

Ngày sinh: 23/10/1940

Quốc tịch: Brazil

Vị trí thi đấu: Tiền vệ, tiền đạo

CLB: Santos (1956-1974), Cosmo-USA (1975-1977).

Thành tích:

VĐ Sao Paolo (1958, 1960, 1961, 1962, 1964, 1965, 1967 1968, 1969 và 1973)

VĐ Cúp QG Brazil (1961, 1962, 1963, 1964 và 1965)

Cúp Libertadores (1962, 1963), VĐ Bắc Mỹ (1977)

VĐTG (1958, 1962 và 1970).

92 lần khoác áo áo ĐT Vàng Xanh, ghi được 77 bàn (hiệu suất: 0,837)

1282 bàn thắng/1375 trận trong cả sự nghiệp thi đấu của Pele (hiệu suất 0,93 bàn/trận).

Tintucvietnam.com

JakeSatan
21-11-2004, 11:46
Lần này tui xin giới thiệu với các bạn một cầu thủ kiệt xuất của bóng đá thế giới mà chắc hẳn ai ham mê bóng đá cũng đều nghe ít nhiều về cái tên ông:

DI STEFANO – MŨI TÊN BẠCH KIM

Khi nhắc đến Alfredo Di Stefano, không nghi ngờ gì nữa, là nhắc đến một trong những cầu thủ kiệt xuất nhất của bóng đá thế ki’ 20. là một tài năng mang tính cá biệt, Di Stefano đã khắc tên mình vào những người Số Một! Cho dù điều duy nhất mà các nhà bình luận bóng đá nhất trí được với nhau là họ không bao giờ nhất trí được rằng ai là người xuất chúng nhất, nhưng với trường hợp Di Stefano thì khác. Ông luôn là người số 1 của thời đại ông có mặt trên sân cỏ. Và cả rất lâu về sau này nữa…

Để nói về sự nổi tiếng của Di Stefano đã có biết bao câu chuyện được thêu dệt, thế nhưng có 1 câu chuyện hoàn toàn ngoài bóng đá lại minh chứng rõ hơn hết. Nay là về danh tiếng của Di Stefano. Số là vào năm 1963, tại Caracas, thủ đô của Venezuala, đã xảy ra 1 vụ bắt cóc. Nạn nhân không phải ai khác mà chính là Di Stefano. Sau vài giờ đồng hồ, Di Stefano được thả ra hoàn toàn nguyên vẹn, không bị chút thong tích gì cả. Bởi nhóm bắt cóc đã đạt được mục đích: bắt cóc Di Stefano, chúng đã được cả thế giới biết đến!
Cầu thủ bóng đá huyền thoại này sinh ngày 4-7-1926 ở Bunos Aires, Argentina. Oâng là một trong số những hiện tượng hi hữu của bóng đá thế giới khi lần lượt khoát áo của 2 đội tuyển quốc gia: Argentina ( 7 lần ) và Tây Ban Nha ( 31 lần ). Trong những năm 50, 60 của thế kỉ trước thì đó quả là điều hiếm có đối với 1 cầu thủ.

Nhưng Di Stefano không có cái may mắn toả sáng tại các giải VĐTG trong màu áo đội tuyển quốc gia. “ Lãnh địa “ của ông là ở các cúp châu Âu, đặt biệt là chiếc cúp C1. Tên của Di Stefano gắn liền với thời hoàng kim của Những Con Kền Kền Trắng Real Madrid. Với Di Stefano trong đội hình, CLB này đã 5 lần liên tục đoạt cúp C1, một kỉ lục mà cho đến nay chưa có CLB nào ở châu Âu có thể phá được và Di Stefano được mệnh danh là “ Ông vua của cúp châu Âu “. Cũng trong thời kì những năm 50 ấy, Real Madrid 7 lần đoạt chức VĐQG Tây Ban Nha. Cầu thủ Hunggary Ferene Puskas và Di Stefano đã hợp th2nh cặp bài trùng tiến công vĩ đại nhất của bóng đá thế giới khi cùng chơi với nhau trong đội hình của Real Madrid trong những năm 50, 60 của thế kỉ trước.

Do có mái tóc vàng sáng nên Di Stefano đã được các cổ động viên yêu mean đặt cho cái biệt danh “ Mũi tên bạch kim “. Và quả thực trên thảm cỏ xanh, mỗi khi Di Stefano có bóng là người xem lại chứng kiến “ Mũi tên bạch kim “ lao về hàng phòng ngự đối phương với một tốc độ công phá kinh người!!!
Di Stefano là một mẫu cầu thủ hoàn hảo, một thần đồng bóng đá. Ở vị trí nhạc trưởng, ông có tầm nhìn bao quát toàn sân, chỉ huy hàng phòng ngự của mình cản phá có hiệu quả các đợt tiến công của đối phương, đồng thời luôn biết khởi phát những đòn phản công chết người. Là một chân sút thiện xạ, Di Stefano có khả năng hạ mọi thủ môn của đối phương bằng những cú sút từ tầm xa đến tầm gần. Cũng chính Di Stefano là người đã sáng tạo ra lối chơi “ trung phong kép “, không chỉ biết kết thúc các đợt tiến công bằng bàn thắng mà còn biết chuyền những đường chuyền chính xác đến từng milimet cho đồng đội ghi bàn.

Rất nhiều cầu thù kiệt xuất sau này như Pele, Johan Cruyff, Florian Albert… đều lấy Di Stefano ra làm hình mẫu của một trung phong hiện đại. Florian Albert, cầu thủ Hunggary mà khả năng ghi bàn cũng như tầm hiểu biết chiến thuật không kém gì Pele đã thừa nhận: “ Nếu điểm mặt tất cả các trung phong châu Âu thì chưa ai có thể sánh được với Di Stefano. Anh là cầu thủ toàn năng, có trí thức, tốc độ tuyệt vời và khát vọng ghi bàn cháy bỏng “.
Ởû Di Stefano là một ý thức gắn mình với toàn đội, phục vụ lợi ích của toàn đội, một hình mẫu toàn năng trong bóng đá. Ông đã chơi bóng đá tổng lực trước khi nó ra đời mười mấy năm!!! Một cầu thủ đi trước thời đại!!!!!

JakeSatan
24-11-2004, 13:41
LEV IASIN – CON NHỆN ĐEN TRONG KHUNG THÀNH

Sau trận đấu của đội tuyển Anh với Tuyển thế giới năm 1963 , cầu thủ tiền đạo của đội tuyển Anh Gimmi Grivis thừa nhận: “ Iasin là một con người huyền thoại”. Cầu thủ này cũng như nhiều trung phong lừng lẫy trước đó và sau đó đã nhọc công trong việc cố gắng chọc thủng lưới người thủ môn mà tên tuổi đã làm rạng danh nền bóng đá Xô Viết.

Lev Iasin sinh ngày 12-10-1929 tại Matxcơva. Sau khi bắt cho đội Krưlia Xô Viết 4 năm, kể từ năm 1949, Iasin bảo vệ khung thành duy nhất cho một đội là Đinamo Matxcơva đến tận năm 1971. trong suốt hơn 2 thập kỉ, hình ảnh người thủ môn với chữ Đ ở trên ngực áo đã trở nên quen thuộc với hàng triệu khán giả hâm mộ trên thế giới … và là nỗi ám ảnh khó quên đối với các đối thủ của ông nữa…

Cao 1m88, sải tay dài, sức bật tốt, Iasin được báo chí đặt cho cái biệt danh “ con nhện đen trong khung thành “lối bắt bóng của Iasin không hoa mĩ mà thiên về hiệu quả, chắc chắn. Rất nhiều đối thủ của Iasin trong các pha đấu bóng tay đôi đã phải thừa nhận phần thua về mình. “Một đôi tay có sức hút bóng!” “ không thể tin được …” ….họ đã phải kinh ngạc thốt lên như vậy trước ngưới thủ môn tài ba của CLB Đinamo Matxcơva và đội tuyển Liên Xô. Ngoài tài nghệ bắt bóng siêu đẳng, chính Iasin là người đầu tiên sáng tạo ra phong cách bảo vệ khung thành mang tên mình. Đó là táo bạo rời khỏi khung ngỗ ra đến tận mép vùng cấm địa để bắt bóng trong những pha bóng cần thiết, hoàn toàn làm chủ trong vùng cấm địa, chỉ đạo hàng thủ đội mình cản phá có hiệu quả các đợt tấn công của đối phương… Tất cả những hoạt động đó được Iasin thể hiện với 1 phong cách cực kì gan dạ, xả thân và quyết liệt.

Cũng chính Iasin là người đã tạo ra cách đối chọi với những cú phạt đền một cách độc đáo: khi chuan bị noun bắt những quả pạht 11m, Iasin thường đứng leach về 1 phía của khung thành. Chính đòn can não này đã khiến nhiều cầu thủ đá phạt lúng túng và không ít lần Iasin đã thắng trong những pha đá phạt đền. Alexandro Matzzola, chuyên gia đá phạt đền của đội tuyển Ý trong những năm 60 đã phải cay đắng thừa nhận sau khi thua trong cuộc đấu trên chấm phạt đền với Iasin: “Không thể nào chọc thủng lưới của thủ môn này!”

Bảng thành tích của Iasin that đáng nể: vô địch Thế vận hội 1956, vô địch châu Âu 1960, huy chương bạc châu Âu 1964, tham dự 3 Mundial 6, 7, 8 và được công nhận là thủ môn hay nhất Mundial lần 8 năm 1966 tại Anh , năm 1963 và 1968 đứng trong đội hình đội tuyển thế giới đấu vớoi tuyển Braxin và tuyển Anh. Năm 1964 đứng trong đội hính tuyển nchâu Âu đấu với đội tuyển Scandinavi và tuyển Nam Tư. Vô địch Liên Xô các năm 1954, 1955, 1957, 1959, 1963. Mười ba lần liền đứng trong danh sách các cầu thủ xuất sắc nhất hàng năm củaLiên Xô. Iasin đã bảo vệ khung thành trong 813 trận đấu. Cho đến nay, Iasin là thủ môn đầu tiên và duy nhất đoạt quả bóng vàng châu Âu, giải thưởng vốn chỉ dành cho các cầu thủ tuyến trên.

Nhưng có lẽ danh hiệu chính xác nhất cho người mang áo số 1 trong đội hình này là: thủ môn Số Một của mọi thời đại!!!!

vothan
25-11-2004, 14:15
Mark Hughes-Chuyên gia ngả bóng bàn đèn !
(MU.VN) Nhắc đến các tiền đạo hàng đầu trong kỷ nguyên bóng đá hiện đại vương quốc Anh, không ai có thể bỏ qua được Mark Hughes, chuyên gia của những cú volley “ngả bàn đèn” ngọan mục.
Hughes không phải là mẫu tiền đạo chuyên săn bàn, song khả năng kiến thiết bóng của ông thuộc vào lọai nhất hạng. Kỹ thuật cá nhân của Hughes cũng không quá xuất sắc, nhưng khả năng cầm, che, và giữ bóng thì khó ai sánh bằng. Hughes là 1 mắt xích cực kỳ quan trọng trong lối chơi phản công nhanh của MU vào cuối những năm 1980 đầu 1990. Mỗi khi các hậu vệ áo đỏ cướp được bóng, họ thường chuyền lên cho Hughes, ông giữ vai trò cầm banh, thu hút hàng thủ đối phương, để các đồng đội có thời cơ băng lên chiếm giữ những vị trí xung yếu. Ngòai sân cỏ, Hughes là người trầm tĩnh, điềm đạm, nhưng trong khi thi đấu thì cũng dũng mãnh chẳng kém chi ai, có những cầu thủ như Hughes thì các trận đấu sẽ chẳng bao giờ nhàm chán.

Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1963 tại Wrexham, Wales, Mark Leslie Hughes được đào tạo ngay chính tại đội trẻ của Manchester United. Năm 1983, Hughes được thăng lên đội 1, thi đấu trận đầu tiên vào ngày 26 tháng 10 gặp Port Vale. 2 năm sau, MU giành chức vô địch cúp FA, còn bản thân Hughes được nhận danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất nước Anh do Hiệp Hội Các Cầu Thủ Nhà Nghề (PFA) trao tặng. Danh hiệu này hết sức xứng đáng, do Hughes đã thi đấu xuất sắc và ghi được cả thảy 17 bàn trong mùa 1985/1986.( trong suốt những năm còn lại của sự nghiệp, số bàn thắng trong 1 năm của ông không bao giờ đạt được con số này 1 lần nữa). Các CLB lớn của Châu Âu tranh nhau chữ ký của Mark Hughes, và chính Hughes cũng mong muốn được phiêu lưu tại 1 môi trường mới. Năm 1986, ông chuyển sang Barcelona với giá 2 triệu bảng.

Dường như có 1 cái “dớp” cho các ngôi sao của MU, rằng hễ họ mà rời Old Trafford thì sẽ không còn giữ được phong độ, Mark Hughes cũng không là ngọai lệ. Mùa bóng đầu tiên của ông tại Nou Camp là 1 thảm họa, thi đấu 28 trận chỉ ghi vỏn vẹn được 4 bàn. Sang đến mùa 1987-1988, ông chơi cho Bayern Munich theo hợp đồng cho mượn, thành tích có khá hơn chút ít, với 18 trận và 6 bàn, nhưng so với thời kỳ còn ở MU thì vẫn là quá kém cỏi. Thất vọng vì Hughes, Barcelona rao bán ông sau mùa bóng 1988, và người đầu tiên xếp hàng chờ mua, không ai khác, chính là…ngài Alex Ferguson. Tiền chuyển nhượng lần này là 1 triệu 6, như vậy tổng cộng Hughes rớt giá 400 000 bảng.

Trở lại Old Trafford, Mark Hughes như cá lại về sông, ông lại tiếp tục phong độ chói sáng, với những đường chuyền sắc sảo, và những cú “ngả bàn đèn” tuyệt vời. Phong độ ấy đã đem lại cho Hughes 2 danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Nước Anh của PFA vào các năm 1989 và 1991. Fan MU mê say các bàn thắng đẳng cấp của Hughes, trong số đó có cú sút từ góc cực hẹp trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1991, đem về thắng lợi cho MU trước Barcelona, cú lốp bóng từ khỏang cách 25 mét tại trận gặp Manchester City năm 1989, và pha volley kinh điển vào phút cuối cùng, gỡ hòa cho Quỷ Đỏ trước Oldham trong trận bán kết cúp FA năm 1994.

Từ đầu thập niên 1990 trở đi, Mark Hughes cùng MU giành hàng lọat danh hiệu: Cúp FA 1990(Hughes ghi bàn trong trận chung kết MU-Crystal Palace 1-0), cúp C2 và Siêu Cúp châu Âu 1991, League Cup 1992. Từ khi Eric Cantona đến Old Trafford, những thành tích lại càng nhiều thêm , với 2 chức VDQG năm 1993 và cú đúp năm 1994. Tuy không mấy ưa nhau, nhưng trên sân cỏ thì Hughes và Cantona luôn là 1 cặp bài trùng ăn ý. Cặp bài trùng tan rã vào năm 1995, khi ngài Alex Ferguson quyết định trẻ hóa đội hình và đẩy Mark Hughes, lúc ấy phong độ vẫn rất cao, sang Chelsea.

Suốt trong 1 thập kỷ, Mark Hughes là 1 tượng đài ở Old Trafford, chính vì vậy quyết định bán ông đã gây nên không ít ngạc nhiên, và cả phẫn nộ, cho các fan hâm mộ. Nhưng rồi thời gian đã chứng tỏ quyết định này không gây tổn hại gì đến cả 2 phía, MU vẫn tiếp tục thành công mà không có Hughes, còn Hughes cũng vẫn tỏa sáng tại Chelsea, những bàn thắng của ông có ít đi, nhưng khả năng cầm bóng và kiến tạo vẫn còn đó. Tại Chelsea, Hughes giành thêm 2 cúp FA, và trở thành cầu thủ duy nhất tại Anh 4 lần đọat cúp này. Rời Chelsea năm 1998, ông lần lượt thi đấu cho Southampton (98-00), Everton (00-01) và Blackburn(01-02), trước khi giã từ sân cỏ ở tuổi 39. Trong những năm cuối đời cầu thủ, Hughes chủ yếu giữ vai trò dự bị chiến lược.

Điều đáng tiếc nhất trong đời Mark Hughes là chưa bao giờ được tham dự 1 giải đấu lớn như World Cup hay Euro, do đội tuyển xứ Wales quá yếu. Ông khóac áo Wales suốt 17 năm, từ 1983 đến 2000, thi đấu 72 trận và ghi được 16 bàn thắng. Từ năm 1999 đến 2004,Mark Hughes cũng đảm nhận luôn cương vị HLV đội tuyển xứ Wales.Tháng 9 năm 2004, ông ký hợp đồng dẫn dắt CLB Blackburn Rovers.

Vài thông số về Hughes trong thời kỳ thi đấu cho MU:

Số trận đấu/Số bàn thắng
VDQG 336 120
FA Cup 45 17
League Cup 37 16
Cúp châu Âu 30 9
Tổng cộng 448 162

Danh hiệu:

1985 FA Cup
1990 FA Cup
1991 Cúp C2
1991 Siêu Cúp Châu Âu
1992 League Cup
1993 VDQG
1994 VDQG
1994 FA Cup

vothan
26-11-2004, 13:00
Người xây "lò" thủ môn!



(BBĐ) - Có lẽ không địa phương nào đóng góp nhiều thủ môn cho đội tuyển quốc gia như Bình Định. Trong khung thành hiện tại, Trần Minh Quang vẫn là sự lựa chọn số một của ông Tavares. Giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, Nguyễn Văn Cường cũng là một người Bình Định trấn giữ khung thành của đội tuyển Việt Nam.

Nguyễn Văn Cường, Trần Minh Quang đều là những thủ môn được trưởng thành từ lò đào tạo Bình Định dù rằng đội bóng miền Trung này không được đánh giá là một trung tâm đào tạo mạnh. Tuy vậy, không phải ngẫu nhiên mà Bình Định lại giới thiệu được nhiều thủ môn tài ba như thế cho đội tuyển Việt Nam. Những thủ môn này đã cùng được thi đấu, tập luyện và được sự hướng dẫn tận tuỵ của một thủ môn gần chục năm liền là số một của đội tuyển Việt Nam trong thập niên 80 của thế kỷ trước: Dương Ngọc Hùng.

Nếu nhìn vẻ bệ vệ của ông như hiện nay, khó có ai có thể tin tưởng Dương Ngọc Hùng lại là người trấn giữ khung thành - một vị trí đòi hỏi sự nhanh nhẹn, chính xác và cực nhạy. Tất nhiên, so với thân hình bây giờ, Dương Ngọc Hùng hồi trước khác nhiều.

Nghiệp cầu thủ của anh cũng bắt đầu từ bóng đá học đường. Qua các giải bóng đá học sinh phổ thông, tài năng của Dương Ngọc Hùng được thể hiện và thu hút sự chú ý của giới chuyên môn. Sự nghiệp bóng đá của anh thực sự bắt đầu vào năm 1978 và sau đó thăng tiến nhanh đến chóng mặt. Từ một thủ môn bắt cho một trường trung học, năm 1978, Dương Ngọc Hùng được chọn vào đội tuyển thành phố Quy Nhơn, rồi tiếp sau đó được đưa lên đội Công nhân Nghĩa Bình vào tháng 8/1978. Trong màu áo công nhân Nghĩa Bình (lúc đó đội bóng này được mệnh danh là ngựa ô), may mắn cho anh là thủ môn chính của đội Nghĩa Bình lúc đó là anh Lâm xuất ngoại. Thế là Dương Ngọc Hùng được dịp trổ tài ngang dọc trước khung thành. Chỉ sau một vài trận đấu giao hữu, HLV tuyển Việt Nam lúc đó là ông Lê Thế Thọ đã chấm ngay Dương Ngọc Hùng cho đội tuyển quốc gia. Vậy là, chỉ trong vòng 1 năm, Dương Ngọc Hùng từ một thủ môn chơi bóng đá phong trào đã nhanh chóng chiếm lĩnh một xuất trong đội tuyển quốc gia để đi dự giải SKDA vào năm 1979. Dương Ngọc Hùng nhớ lại: “Thật bất ngờ cho tôi vào lúc đó. Tài năng của mình không ngờ lại phát triển nhanh và được nhận ra sớm đến thế. Lúc đó, tôi chỉ mới có 19 tuổi”. Anh kể tiếp: “Lúc bấy giờ, đội tuyển Việt Nam thường đi thi đấu giao hữu ở các nước XHCN. Có lẽ, trận đấu mà tôi nhớ mãi là trận hoà 0-0 với Quân đội Liên Xô vào năm 1980. Dự khán trận đấu đó có thủ môn huyền thoại Lev Iashin của Liên Xô. Kết thúc trận đấu, thủ môn huyền thoại này đã xuống bắt tay và trao tặng tôi tấm hình mang dòng chữ “Tặng thủ môn đầy triển vọng của đội tuyển Việt Nam”.

Một chút lặng trong sự nghiệp thủ môn của anh là vào năm 1984. Chính xác là ngày 23/2/1984, trong một trận đấu giữa Công nhân Nghĩa Bình với Sở Công Nghiệp TP. HCM trên SVĐ Nha Trang, anh đã bị gãy tay và đành phải ngồi làm khán giả trong vòng hơn năm. Tuy nhiên, sự tích cực tập luyện và ý chí vươn lên đã giúp anh trở lại đội thi đấu vào cuối năm 1985. Sau khi trở lại thi đấu, anh vẫn là sự lựa chọn số một của đội tuyển Việt Nam trong khung thành. Sau khi lành chấn thương, anh quay lại với bóng đá được 2 năm rồi giải nghệ vào năm 1987. Trong vòng gần 10 năm, Dương Ngọc Hùng luôn đứng vững trong khung thành của đội tuyển Việt Nam, là tấm lá chắn vững chắc và đáng tin cậy cho các đồng đội. Những đóng góp của anh cho bóng đá Việt Nam, không có minh chứng nào đáng giá hơn là những phần thưởng cao quý của nhà nước đã tặng thưởng cho anh: Huân chương vì sự nghiệp TDTT, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Giã từ nghiệp cầu thủ, Dương Ngọc Hùng học tiếp Đại học TDTT rồi chuyển sang làm công tác huấn luyện từ năm 1990. Dưới các triều đại của các HLV ngoại như Weigang, Murphy, Riedl, Dido, Dương Ngọc Hùng được bổ nhiệm là HLV thủ môn. Trở về với đội bóng quê hương Bình Định trên cương vị là HVL trưởng từ năm 2002, Dương Ngọc Hùng cùng các cầu thủ của mình đã gặt hái thành tích trên đấu trường Cúp Quốc gia với 2 lần liên tiếp đoạt chức vô địch. Sau 3 năm làm HLV trưởng và với những thành công nhất định, HLV Dương Ngọc Hùng chấp nhận rút lui khỏi cương vị HLV trưởng. Thay vào đó là HLV người Thái Songgamsak để Bình Định có một bước đột phá hơn nữa trên mặt trận V.League. Trong gần 2 tháng vừa qua, Dương Ngọc Hùng trên cương vị trợ lý đã tạo được một tiếng nói chung trong công tác huấn luyện đội bóng. Sự kết hợp đó bước đầu đã thành công khi Hoa Lâm Bình Định đoạt cúp Hoàng Đế Quang Trung lần IV. Về sự thay đổi này, HLV Dương Ngọc Hùng tâm sự: “ Với 3 năm là HLV trưởng, tuy đã có những thành tích tốt nhưng chưa đủ, yêu cầu của các CĐV còn cao hơn cùng với có sự tài trợ của công ty Hoa Lâm nên việc mời một HLV nước ngoài là cần thiết. Điều đó vừa lợi cho cầu thủ, vừa lợi cho công tác huấn luyện vì thế chúng tôi có dịp học hỏi thêm và tích luỹ kinh nghiệm cho chính bản thân mình”.

Một chút nói về mình, về HVL nước ngoài và về bóng đá: “Chân thành, chan hoà và dễ hoà nhập với mọi người. Trong chuyên môn tập luyện và thi đấu tích cực, truyền đạt tất cả những gì mình hiểu biết cho các cầu thủ. Luôn học hỏi và cực kỳ nghiêm khắc trong công việc và với VĐV. Nếu không đào tạo họ thành nhân thì sẽ không thành tài. Việc thuê HLV ngoại là rất có lợi cho các đội bóng. Với họ, tính chuyên nghiệp rất cao và không bao biện cho bất cứ một cầu thủ nào. Trong khi đó, HLV nội lại có tâm lý e ngại nên khó khăn trong giải quyết mọi vấn đề thuộc về tình cảm. Trong chỉ đạo thi đấu, cố gắng không nghi ngờ các cầu thủ của mình tiêu cực vì như vậy sẽ tạo một khoảnh cách. Không phải vì một trận thua mà đỗ lỗi cho cầu thủ”.

Footballdatabase
28-11-2004, 09:57
Leonardo Nascimento de Araujo
Sinh ngày: 5 / 9 / 1969
Nơi sinh : Niteroi
Quốc tịch : Brazil
Cao: 1m77
Nặng: 74 Kg
Vị trí: Tiền vệ
Các CLB đã qua: Flamengo(Brazil), Sao Paolo(Brazil), Valencia(TBN), Kashima Antlers(Nhật Bản), PSG(Pháp), AC Milan(Italia)
Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia : 53
Số bàn thắng ghi cho đội tuyển quốc gia: 7 bàn
Lần ra mắt đầu tiên trong màu áo đội tuyển quốc gia là trong trận Brazil – Bolivia ngày 25/7/1993.
Thành tích:VĐTG 1994, VĐ Copa America 1997, VĐ Cúp Liên lục địa 1993 (Sao Paolo), VĐQG 1991 (Sao Paolo), VĐQG Nhật Bản 1995 (Kashima Antlers), VĐ Seria A 1999(AC Milan).

Bắt đầu sự nghiệp cầu thủ tại Flamengo năm 1987, nhưng Leonardo được thi đấu rất ít và chỉ còn là con bài chiến thuật thay người trong suốt 3 mùa giải. Đến khi sang Sao Paolo, Leonardo mới bắt đầu được chú ý nhiều hơn bằng kĩ thuật khéo léo, sự thông minh và tinh thần đồng đội cao trong lối chơi. Sau 5 mùa bong tại giải vô địch quốc gia Brazil với 92 trận đấu, Leonardo mới có được bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp. Mặc dù vậy nhưng chàng tiền vệ đẹp trai này lại góp công rất lớn giúp Sao Paolo giành chức vô địch Brazil năm 1991.
Năm 1992 tạm biệt Brazil Leonardo sang châu Âu chơi cho Valencia nhưng không thành công và quyết định lưu lại giải vô địch quốc gia Nhật bản trong 3 mùa giải đầu tiên anh chơi cho CLB Kashima Antlers. Tại đây, Leonardo có dịp tung hoành và anh thực sự được các CLB lớn châu Âu chú ý sau khi thành công tại VĐTG 1994 cùng ĐT Brazil thi đấu cho Sao Paolo rồi Flamengo (2 năm). Nhưng nỗi nhớ da diết thành phố Milan náo nhiệt lại kéo Leonardo sang Italia và lần này anh quyết ở lại mãi mãi. Không cống hiến nhiều cho Milan nhưng do tình yêu, Leonardo muốn dồn hết tâm sức cho đội bong sọc đỏ đen này khi đã chia tay sân cỏ.
Không chỉ nổi tiếng là 1 cầu thủ có lối chơi đẹp mà Leonardo còn là một người có tấm lòng thơm thảo. AC Milan có 1 tổ chức từ thiện, Leonardo tham gia rất nhiệt tình với tư cách là 1 người đứng đầu. Đây là chương trình hợp tác giữa AC Milan và UNICEF áp dụng trong các trường phổ thong cơ sở tại thành phố Milan, giúp các em học sinh hiểu được mục đích thực của thể thao chân chính, đặc biệt là bong đá. Giờ đây Leonardo đã trở thành trợ lí cho phó chủ tịch AC Milan Adriano Galliani. Công việc của anh lien quan đến nhiều lĩnh vực tại AC Milan đặc biệt là những vấn đề xã hội và tuyển dụng cầu thủ. Leonardo đang lập một kế hoạch chi tiết về dự án hợp tác đào tạo cầu thủ trẻ giữa hai CLB AC Milan và PSG.

Footballdatabase
28-11-2004, 10:06
Zoff

Tên đầy đủ: Dino Zoff
Ngày sinh: 28/02/1942
Nơi sinh: Mariano del Friuli
Quốc tịch : Italia
Vị trí thi đấu : Thủ môn
Chiều Cao: 1m82
Số lần khoác áo ĐTQG: 112
VĐ EURO 1968, Tham dự World Cup 1974, 1978, 1982: VĐ thế giới 1982
Các CLB đã thi đấu : Udinese, Mantova, Napoli , Juventus
Thành tích : 6 lần VĐQG (1973, 1975, 1977, 1978, 1981, 1982), 1 Cup QG (1979), 1 Cup UEFA (1977. Kỉ lục 1142 phút giữ sạch lưới.

Dino Zoff sinh ra và lớn lên trong 1 gia đình gốc Áo - Hung. Ngay từ nhỏ Dino đã có mơ ước muốn chơi bóng cho Inter hay Juve. Nhưng khi tròn 14 tuổi, ước mơ đó đã bị chặn lại 1 cách phũ phàng vì Dino không vượt qua được kì tuyển chọn của cả Juve lẫn Inter với cùng 1 lí do :”Quá bé ! MẸ của Dino bà Adelaide đã nhận được lời khuyên từ các nhà tuyển trạch: “Muốn cho con chơi bóng đá hãy cho nó ăn thật nhiều trứng vào! “

Nghe theo lời khuyên đó bà mẹ ra sức chăm bẵm cho cầu con trai và chỉ 5 năm sau Dino đã cao thêm 33 cm. Thời gian đó anh vừa chơi bóng cho đội tuyển làng Mairianese, vừa làm thợ sửa mô-tô. 19 tuổi chiều cao là 1m82 cùng phong độ chói sang tại một giải đấu cấp huyện khiến anh đã lọt vào mắt xanh của các nhà tuyển trạch đội bóng Udinese đã chơi ở Serie A có trụ sở cách đó không xa. Ngày 24/9/1961 Zoff đã có trận đấu ra mắt trong màu áo của Udinese trên sân của Fioerentina, tiếc thay, đó là sự khởi đầu kém cỏi vì anh để lọt lưới tới 5 bàn ! Đó là lú do khiến cho Zoff chỉ được ra sân 4 lần trong suốt 2 mùa bóng chơi cho đội áo sọc đen - trắng.

Không chiu nổi cảnh “lầm than” trên băng ghê dự bị. Dino quyết chịnh chuyển sang chơi bóng cho đội bóng ít tên tuổi Matova hè năm 1963 và thật bất ngờ ngay mùa bóng đầu tiên Zoff đã lọt vào danh sách các cầu thủ xuất sắc nhất giải. Năm 1966, Dino vinh dự được gọi vào đội tuyển chuẩn bị cho World Cup tổ chức tại Anh cùng những đông nghiệp lừng danh khác là Albertosi, Anzolin và Pizzaballa. Tuy nhiên, trước khi lên đường sang London, HLV trưởng Azzurri khi đó là Admondo Fabbri đã quyết định để Zoff ở nhà với lời giải thích :”Anh ấy rất giỏi nhưng chưa đủ độ chin cần thiết. Tin tôi đó đó sẽ là thủ môn xuất sắc nhất thế giới nhưng lại là một vài năm tới chứ không phải là bây giờ…”

Vậy là trong khi vừa theo dọi đội nhà thi đấu ở xứ sở xương mù qua tivi hè năm đó Dino “tranh thủ” cưới vợ cô dâu là Anna - Maria, bạn học thời phổ thông. Nhưng năm 1967 mới là năm hạnh phúc nhất với chàng trai trẻ này: Vợ đẻ con trai đặt tên là Marco và kí hợp đồng thi đấu với đội bóng lừng danh Napoli (trị giá kỉ lục 130 triệu Lire kèm thủ môn Bandoni). Đội bóng thành Naples cũng mừng không kém vì họ đã đánh bại kình địch AC Milan trong cuộc đua giành chữ kí của thủ môn tài năng nhất nước Ý lúc bấy giờ.

Về với Napoli, Zoff tỏa sáng rực rỡ và nhanh chóng chiếm vị trí chính thức trong đội bóng áo Thiên Thanh. Anh được bắt chính thức trong đội bóng Thiên thanh. Anh được bắt chính thức lần đầu cho Azzurri trong trận thắng Bunlgaria 2 - 0 tháng 4/1968. Đó chính là trận tứ kết Euro lần thứ 3 của ĐTQG Italia, sau đó họ vào tời trận thắng Nam Tư ở trận đá lại để lần đầu tiên bước lên bục vinh quang của bóng đá Cựu lục địa. Kể từ đó, chiếc áo số 1 của Azzurri đương nhiên thuộc về Dino Zoff và anh có vinh dự được sử dụng nó trong suốt 3 thập kỉ với 112 lần khoác áo ĐTQG, Zoff còn gây ấn tựợng khi thi đấu ở cấp CLB. Việc lập kỉ lục 570 trận thi đấu ở Serie A (trong đó có 330 trận dưới mầu áo của Juventus) cho thấy sự ổn định và khả năng duy trì phong độ cực tốt của Dino. Trong sự nghiệp, Zoff đã 6 lần đoạt Scudetto, 1 Cup UEFA và 2 Cup QG. Anh cũgn đã cùng Bianconeri 2 lần lọt vào tới trận chung kết cuối cùng của Cup C1 nhưng tiếc là đều thất bại: năm 1973 trước Ajax của huyền thoại Cruyff và năm 1983 trước Hamburg của “quái kiệt” Kevin Keegan.

Sau trận chung kết với Hamburg Dino Zoff quyết định chia tay với sân cỏ. Nhận xét về sự nghiệp cầu thủ của anh, HLV huyền thoại Enzo Beazot nói” Dino hội tủ đầy đủ những phẩm chất cần thiết của 1 thủ môn giỏi. Nhưng anh trở thành thủ môn vĩ đại nhờ tinh thần dũng cảm trong thi đấu. Hãy xem lối thi đấu xả than của anh tại Espana 82 thì mới hiểu được câu nói: Thủ môn là một nửa đội bóng ! Thủ môn như anh, phải vài chục năm bóng đá Italia mới có được 1 người!”

Sau này Zoff tiếp tục gắn bó với trái bóng tròn trên cương vị HLV. Dino Zoff từng dẫn dắt các đội Juventus, tuyển Olympic, Lazio và cả tuyển quốc gia Italia Dưới sụ chỉ đạo của ông, Azzurri đã đoạt ngôi Á quân Euro 2000, thành tích tốt nhất mà đội bóng áo Thiên Thanh có được từ sau Espana 1982.

JakeSatan
28-11-2004, 12:16
“ ÔNG VUA TRUNG TUYẾN ” RAYMOND KOPA VÀ “ KHẨU THẦN CÔNG ” JUST FONTAINE

Nước Pháp đã tự hào vì đã sản sinh ra hoàng đế Napoleon, một bậc thầy về nghệ thuật chiến trận. Và nền bóng đá Pháp cũng tự hào Raymond Kopa, một bậc thầy về nghệ thuật bóng đá.

Sinh ngày 13-10-1931 ở Noeux Les Mines của nước Pháp trong một gia đình thợ mỏ người Ba Lan, chàng trai mảnh khảnh có cái tên Ba Lan khá dài là Kopaszewski làm quen với trái bóng đỉnh cao khi mới… 11 tuổi trong đội hình CLB Olympique ở thành phố Lille. Thế nhưng người Pháp quen gọi cầu thủ vĩ đại của họ với cái tên ngắn Kopa, và cái tên đó đã ngự trị trong làng bóng đá châu Âu suốt thời kì cuối những năm 50, đầu những năm 60. Nói đến loch sử bóng đá Pháp, người ta thường nhắc đến cái tên ông Jules Rimet, vị chủ tịch đầu tiên của FIFA, người có công lớn trong việc tổ chức các giải bóng đá thế giới, và Raymond Kopa, người làm cho bóng đá Pháp đi ra khỏi chỗ vô danh.

Tài năng của Kopa được thế giới biết đến trong trận đấu giữa đội tuyển châu Âu và đội tuyển Anh năm 1955. Linh hồn của đội tuyển châu Âu chính là Kopa, 3 trong số 4 bàn thắng mà tuyển châu Âu ghi được đều do Kopa khởi xướng. Đó cũng chính là vai trò mà Kopa thường đảm nhận trong CLB cũng như đội tuyển Pháp. Ngoài khả năng bén nhạy trong các tình huống gho bàn, Kopa còn nổi lên với tư cách là người kiến thiết các đợt tiến công của đội. Chính trong đội hình CLB lừng danh Real Madrid, Kopa đã 3 năm liền đoạt cúp C1 trong các năm 1957,1958,1959.

Nhưng đỉnh cao vinh quang trong cuộc đời bóng đá của Kopa là vào năm 1958 tại Thụy Điển. Năm đó, đội tuyển Pháp tham dự giải VĐTG với khẩu thần công Just Fontaine. Pháp đã lần lượt vượt qua Paragoay, Nam Tư, Scotland, Bắc Ailen để vào bán kết và chỉ chịu nhường bước trước một Braxin sáng chói với Pele, Vava, Didi… Fontaine đã ghi đến 13 bàn, một kỉ kục tại giải VĐTG mà cho đến nay và chắc chắn trong nhiều năm tới sẽ chứa có cầu thủ nào phá vỡ. Người “ nạp đạn “ cho Fontaine chính là Kopa. Không những thế, Kopa còn giành được danh hiệu “ Vua trung tuyến ”, vượt lên trên danh thủ Braxin Didi và Kopa còn tự mình ghi được 3 bàn thắng!!! Cũng vào năm 1958 đáng nhớ ấy, Kopa được bầu chọn là cầu thủ số 1 châu Âu và nhận Quả bóng vàng. Sau 2 năm sáng lập ra giải thưởng danh giá nhất đối với 1 cầu thủ bóng đá, người Pháp mới trao được giải thưởng đó cho người đồng hương của mình. Đó là Kopa.

Cũng trong giải VĐTG lần 6 tại Thụy Điển, người đồng đội của Kopa là Just Fontaine đã được tặng một khẩu súng 2 nòng có khắc con số 13, tương đương với số bàn thắng ông đã ghi được sau 6 trận đấu. Lẽ ra Fontaine đã không có mặt ở Thụy Điển. Cuộc phẫu thuật năm 1957 đã ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ cũng như phong độ của Fontaine. Thế nhưng ông đã luyện tập như 1 tên tù khổ sai và kết quả là trên các sân cỏ Thuỵ Điển, cầu thủ mà trước giải chẳng mấy ai biết đến đã đều đa7-85n gieo rắc kinh hoàng cho các thủ môn đối phương. Có những trận như trận tranh giải Ba, Fontaine đã 4 lần bắt thủ môn CHLB Đức vào lưới nhặt bóng. Những cú sút cực mạnh bằng cả 2 chân của Fontaine luôn là nỗi ám ảnh cho mọi thủ thành đối phương. Bởi vậy mà chí 20 lần khoát áo đội tuyển Pháp, nhưng Fontaine đã ghi đến 27 bàn thắng , trong đó có 13 bàn chí riêng ở Mundial tại Thụy Điển. Hai vết thong ở chân đã buộc Fontaine phải rời sân cỏ rất sớm khi mới 27 tuổi. Thế nhưng kỉ lục mà Fontaine để lại thì vẫn là một tượng đài bền vững mà các lớp cầu thủ sau ông không dễ gì xô ngã !!!

vothan
29-11-2004, 15:45
Denis Law- Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Scotland Mọi Thời Đại




Trong thập niên 1960, khi Eric “The King” Cantona còn nằm trong nôi, Denis Law đã nổi danh là Ông Vua Của Old Trafford. Các fan hâm mộ điên cuồng vì Law, do mỗi khi ra sân, Law đều thi đấu bằng tất cả trái tim.
Chàng trai xứ Scot ấy luôn dũng mãnh tiến lên và không bao giờ lùi bước, chàng làm kinh hòang các thủ môn đối phương với 1 khả năng làm bàn thiên phú có thể sút bóng vào khung thành từ bất kỳ 1 góc độ nào. Có thể nói ở Law hội tụ đầy đủ những phẩm chất của 1 tiền đạo siêu hạng, ông sút tốt cả 2 chân, đánh đầu giỏi, kỹ thuật cá nhân tuyệt vời, cộng thêm vào đó là bản năng sát thủ, luôn xuất hiện đúng lúc đúng nơi. Người ta bảo rằng tầm nhìn của Law luôn vượt hẳn mọi người, do đó mà ông luôn là cầu thủ “thấy trước” được những cơ hội.

Tuy chiều cao chỉ ở mức trung bình và thân hình hơi mảnh khảnh, Denis Law mang trong mình 1 “trái tim sư tử” và 1 khả năng bật nhảy của chúa sơn lâm. Ông không ngại va chạm với những đối phương cao to lực lưỡng, và, cũng như Pele, thường xuyên bật cao hơn những hậu vệ to lớn hơn mình để đánh đầu ghi bàn. Luôn ra sân với chiếc áo tay dài được xắn cong điệu đàng nơi cổ tay, Law tạo cho mình 1 phong cách riêng biệt thật tao nhã và thanh lịch. Nhận xét về Law, đồng đội George Best thán phục rằng “anh ấy có thể ghi bàn ngay khi chỉ có 1 phần trăm cơ hội”. Nhưng không chỉ thế mà thôi, khả năng kiến thiết bóng của Law cũng xuất sắc không kém, biết bao những bàn thắng của Best là chính do Law dọn cỗ.

Denis Law sinh ngày 24-2-1940 tại Anberdeen, Scotland.Ông khởi đầu sự nghiệp vào năm 1956 tại Huddersfield.Sau Huddersfield, Law chuyển sang Italy thi đấu cho Torino. Đến năm 1962 thì ông đầu quân cho MU với giá chuyển nhượng kỷ lục nước Anh thời ấy là 115 000 bảng.Trong trận đầu tiên khoác áo Mu vào ngày 18-8, gặp WBA, Law đã ghi ngay 2 bàn thắng.Kể từ đó, Law trở thành tiền đạo không thể thiếu của theReds, các fan hâm mộ đặt cho ông biệt danh là The King. Trong 5 mùa giải đầu tiên, Law thi đấu 222 trận cho MU, ghi được 160 bàn, nhiều bàn trong số đó đẹp đến như không tưởng. Ông cùng với Bobby Charlton và George Best đã tạo thành cặp tam tấu huyền thoại, đưa Mu đoạt 2 cúp VDQG 1965, 1967, cúp FA năm 1963. (Đáng tiếc là Law lại không có mặt trong chiến dịch chinh phục cúp C1 năm 1968 do chấn thương đầu gối). Bộ tam tấu của Mu mỗi người đều dành được 1 quả bóng vàng châu Âu trong thập kỷ 60, Denis năm 64, Bobby năm 66, và George năm 1968.

Kết thúc mùa giải 1973,Denis Law về thi đấu cho Manchester City theo hợp đồng chuyển nhượng tự do. 1 năm sau, chính ông đã ghi bàn thắng duy nhất vào phút 85 bằng 1 cú đánh gót, đem lại thắng lợi cho City trong trận Derby thành Manchester, chính thức tiễn đưa…United xuống hạng. Sau khi phá lưới United, khuôn mặt Law trở nên rầu rĩ đến tội nghiệp, chứng tỏ 1 cảm tình sâu đậm dành cho đội bóng cũ sẽ không bao giờ phai. Trận đấu ấy cũng là lần cuối cùng Law ra sân tại giải VDQG Anh.

Denis Law kết thúc sự nghiệp cầu thủ sau khi cùng tuyển QG Scotland tranh tài tại World Cup 1974, tổng cộng Law khoác aó tuyển QG 55 lần, ghi 30 bàn thắng. Trận đấu đáng nhớ nhất của Law cho đội tuyển là vào năm 1967, khi Scotland đánh bại đối thủ truyền kiếp Anh, đương kim vô địch thế giới, 3-2 ngay tại Wembley. Trong suốt chiều dài lịch sử bóng đá Scotland, họa chăng chỉ có Kenny Dalglish là xứng đáng được đứng ngang hàng cùng Law mà thôi.

Sau đây là 1 vài con số thống kê về LAw trong thời gian ông thi đấu cho MU:(1962-1973)

Số trận đấu, số bàn thắng
Giai VDQG: 305 trận, 171 bàn
Cúp FA 44 trận, 34 bàn
League Cup 11 trận, 3 bàn
Cúp châu Âu: 33 trận, 28 bàn.
Tổng cộng: 393 trận, 236 bàn

Danh hiệu:
Cúp FA 1963
Vô địch quốc gia 1965, 1967

neverback
30-11-2004, 12:25
Fernando Redondo giã từ sân cỏ

http://vnexpress.net/Vietnam/The-thao/Chan-dung/2004/11/3B9D9016/redondo.jpg
Thời kỳ đỉnh cao, Redondo đã cống hiến cho Real Madrid.
Tiền vệ từng khoác áo Real Madrid, Fernando Redondo, vừa thông báo quyết định chia tay sân cỏ của mình, kết thúc sự nghiệp huy hoàng ở những đội bóng hàng đầu thế giới. Cựu tuyển thủ Argentina này không chốn nương thân kể từ khi rời AC Milan, sau thời gian dài bị chấn thương.

Đầu tiên, Redondo khẳng định rằng anh sẽ tìm kiếm thêm một cơ hội nữa khi thị trường chuyển nhượng mở cửa trở lại vào tháng 1 tới. Nhưng sau đó, cựu cầu thủ của Real Madrid đã suy nghĩ lại, và quyết định kết thúc sự nghiệp của mình để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình và bè bạn.

Redondo tâm sự trên đài phát thanh Rivadavia (Argentina): “Tôi hoàn toàn mãn nguyện với những gì đã thể hiện trên sân cỏ trong nhiều năm qua. Những đội bóng lớn, các trận cầu đỉnh cao và hàng loạt danh hiệu cao quý. Nhưng đã đến lúc tôi phải bù đắp cho gia đình và bạn bè những gì mà họ đáng được hưởng. Tôi rất biết ơn các HLV, đồng đội, những người đã luôn ở bên tôi. Tôi sẽ chẳng làm được gì nếu thiếu sự giúp đỡ của họ”.

Nói về các CLB đã qua, ánh mắt của Redondo ngời sáng khi nhắc tới Real Madrid. Tiền vệ người Argentina cho biết nếu được quay lại quá khứ, đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha vẫn là sự lựa chọn của anh. Redondo cũng thể hiện sự thất vọng trong khoảng thời gian thi đấu cho AC Milan bởi anh thường xuyên bị chấn thương và chỉ được vào sân một vài trận.

vnexpress.net

JakeSatan
30-11-2004, 16:44
FLORIAN ALBERT – QUÂN TỬ HÀO HOA BÊN BỜ DANUBE

Bóng đá Hunggary được biết đến khi “ đội tuyển vàng “ với Puskas, Kocsie, Chibo, Hidekuti… trong những năm 50 đã tung hoành trên các sân cỏ thế giới, làm các anh hào trong làng bóng đá như Braxin, Đức, Anh… phải nghiêng mình kính nể. Đặc biệt là ở giải VĐTG năm 1954, Hunggary đã thắng như chẻ tre, vào đến tận trận chung kết. Chính trong trận thư hùng với đội Đức ở Bern, đội Hunggary đã để thua 2 – 3trong một trận đấu được coi là bất ngờ lớn nhất trong lịch sử bóng đá thế giới. Thế nhưng dẫu sao thì Hunggary vẫn là đội hay nhất…

Đến thời kì những năm 60, bóng đá Hunggary bắt đầu xuống dốc. Một thế hệ trẻ cầu thủ đã ra đi, để lại những khoảng trống lớn trong đội tuyển. Nhưng cũng may là còn có Florian Albert.

Sinh ngày 15-9-1941 ở Hersersanto, trong suốt cuộc đời cầu thủ của mình, Albert chỉ gắn bó duy nhất với 1 CLB của Hunggary là Ferencvarosh. Rất nhiều các CLB nước ngoài, trong đó có cả những CLB sừng sỏ nhất châu Âu sẵn sàng tung ra cả núi tiền với hi vọng có được Albert trong đội hình nhưng Albert đều nói: Không! Albert thuộc lớp cầu thủ hào hoa, có kĩ thuật làm chủ trái bóng một cách siêu đẳng. So sánh về kĩ thuật cá nhân với các cầu thủ Braxin hay Achentina, Albert không hề thua kém mảy may. Hơn thế nữa, ở anh còn có tầm hoạt động rộng và khả năng bén nhạy ghi bàn. Trong 74 lần khoát áo đội tuyển quốc gia, Albert đã tự mình ghi được 30 bàn. Tại giải VĐTG lần thứ 7 tại Chile, Albert name trong số các cầu thủ dội bom của giải với 4 bàn thắng. Đến giải thế giới lần 8 tại Anh, Albert tả xung hữu đột, cố gắng vực day một đội Hunggary đang hồi suy thoái, thế nhưng một cánh én không thể làm nên mùa xuân. Hunggary bị loại ở tứ kết cho dù Albert vẫn được coi là 1 cầu thu xuất chúng. Một năm sau đó, châu Âu công nhận tài năng không thể chối cãi của Albert: anh được bầu chọn là cầu thủ số 1 châu Âu, nhận giải thưởng Quả bóng vàng. Cho đến nay, Albert vẫn là cầu thủ Hunggary duy nhất nhậ được giải thưởng này.

Năm 1969, Albert trong màu áo đội tuyển đấu với Đan Mạch, anh bị thong gãy chân và phải rời khỏi đội tuyển. Tuy vậy, nah vẫn tiếp tục chơi cho Ferencvarosh thêm 5 năm nữa. Cầu thủ hào hoa bên bờ Danube vẫn tiếp tục làm say mê hàng triệu người hâm mộ trái bòng tròn trên các sân cỏ châu Âu bằng phong cách thanh nhã và tài nghệ bóng đá tuyệt hảo của mình. Ngay cả sau khi đã rời sân cỏ, năm 1979, Florian Albert tiếp tục gắn bó cuộc đời mình với trái bóng tròn với tư cách là bình luận viên thể thao…

Xú Quận Mã
03-12-2004, 10:26
Ngày 30/10/1960 ở khu ngoại ô lụp xụp Villa Fiorito của Buenos Aires một thiên tài đã được sinh ra để trở thành người hùng của nhân dân Argentina và là thượng đế bóng đá trong lòng người hâm mộ thế giới.Được biết đến rất sớm, năm 10 tuổi cậu ta đã làm loá mắt các CĐV trên sân các SVĐ bằng những trò biểu diễn tung hứng bóng đầy nghệ thuật vào những lúc nghỉ giải lao giữa 2 hiệp đấu của các trận đấu bóng.Khi trọng tài có ý tạm dừng màn trình diễn của cậu bé để trận đấu được tiếp tục thì chính những CĐV đã la ó phản đối họ giữ dội.
Cùng thời với Maradona ở Argentina xuất hiện 1 thế hệ cầu thủ sinh năm 1960 được mệnh danh là "những củ hành tí hon" ,họ rất trẻ nhưng cũng rất tài năng và là niềm hy vọng của bóng đá Argentina.Thủ lĩnh của "những củ hành tí hon" chính là Maradona.Sau 11 trận đấu ở hạng nhất Diego đã được HLV Cesar Menotti gọi vào ĐT tham dự trận đấu với ĐT Hungari,và khi Maradona được vào sân ở hiệp 2 lập tức các CĐV đồng thanh reo vang: Maradoo,Maradoo... để chúc mừng ngôi sao trẻ.Tuy nhiên trong danh sách ĐT Argentina tham dự Mondial 78 lại không có Maradona.
Thế giới bắt đầu biết đến Maradona từ giải VĐ thanh niên thế giới 79 ở Tokyo và đỉnh cao sự nghiệp của Maradona là ở Mexico 86,tại đây chính nhờ tài năng chơi bóng như xiếc của Maradona mà ĐT Argentina đã vượt qua ĐT Anh với 2 bàn thắng không thể nào quên của chính Maradoo và đánh bại ĐT Đức trong 1 trận chung kết nghẹt thở.Argentina VĐTG lần thứ 2 và Maradona là cầu thủ xuất sắc nhất giải.Trên phương diện CLB Maradona đã từng chơi cho các CLB lớn như Boca,Barca nhưng hơn tất cả là 2 Scudetto và 1 cúp C3 cùng Napoli.Ở Napoli,Maradona còn hơn cả 1 vị thánh, anh đã biến 1 Napoli tầm thường thành đội bóng vô địch,phất cao ngọn cờ của những người phương Nam nghèo khó chống lại những kẻ nhà giàu phía Bắc.
Trong suốt sự nghiệp của mình - 27 năm chơi bóng - Maradona đã chơi 686 trận đấu và ghi được 350 bàn thắng.Nói về Maradona báo chí thế giới đã viết:"Bóng đá không có Maradona cũng như bầu trời đêm không có sao,như cuộc đời thiếu vắng nụ cười trẻ thơ,như tình yêu không có 2 người,như bãi biển thiếu vắng biển khơi","cái chân trái của Maradona là ngôi sao 5 cánh của những nốt nhạc".

vothan
03-12-2004, 11:39
Vinh danh Bryan Robson
MU.VNNói đến bóng đá Anh vào thập niên 1980 cũng tức là nói đến Bryan Robson. Anh được coi là tiền vệ số 1 của đảo quốc sương mù, là động lực thi đấu của độI bóng đỏ Manchester United. Đã có thờI Manchester United được mệnh danh là “one man team”, và One man ấy không ai khác chính là Robson.
Thành công hay thất bạI của “One man team” là phụ thuộc vào Robson, hễ anh ra sân thì Red Devils tràn đầy sức mạnh, mà nếu anh phảI ngồI ngoài đường pitch thì các đồng độI sẽ trở nên bế tắc. Đáng buồn 1 điểm rằng Bryan Robson thường hay bị chấn thương, và đó là 1 trong những lý do dẫn đến các kết qủa không mấy khả quan của MU trong thập niên 80.

Sinh ngày 11-1-1957 tạI Chester-le-Street, Durham, Bryan Robson khởI nghiệp cầu thủ cùng West Bromwich Albion năm 1973. Anh ra sân lần đầu trong màu áo West Brom năm 1975 và chỉ 1 năm sau thì đưa CLB này thăng hạng. Năm 1981, Robson chuyển sang Manchester United vớI cái giá kỷ lục nước Anh thờI đấy:1,7 triệu bảng. Không lâu sau khi chuyển đến MU, Robson được HLV Ron Atkinson tín cẩn trao cho chiếc băng thủ quân, và anh đã đeo nó trên tay suốt 12 năm sau đó. Trong suốt lịch sử MU, chưa có ai từng đeo băng độI trưởng trong 1 thờI gian dài đến vậy.

Ngay từ trận đấu ra mắt gặp Tottenham vào ngày 7 tháng 10 năm 1981, Bryan Robson đã trở thành nguồn cảm hứng của MU. Anh ghi tên mình vào lịch sử vớI tư cách là ngườI thủ quân đầu tiên tạI Anh quốc từng 3 lần giương cao cúp FA(1983,1985,1990)Tuy là tiền vệ trung tâm, Robson có bản năng săn bàn khá nhạy cảm và thường ghi được những bàn thắng quan trọng.Trong trận chung kết cúp FA năm 1983, anh ghi 2 bàn vào lướI Brighton; còn ở trận chung kết năm 1990 trước Crystal Palace, anh cũng góp 1 bàn vào chiến thắng chung cuộc. 1 kỷ niệm đáng nhớ khác của Robson là 2 lượt đấu vớI Barcelona tạI cúp C2 năm 1984, ở trận lượt đi MU thua 2-0, nhưng Robson đã tỏa sáng ghi 2 bàn, giúp Mu thắng lạI 3-0 ở lượt về.7 năm sau, Mu lại 1 lần nữa đả bạI Barcelona(2-1) tạI cúp C2, nhưng lần này là trong trận chung kết ở Rotterdam.

Tuy đã cùng MU đoạt được FA CUP lẫn cúp châu Âu, nhưng “phòng truyền thống” của Bryan Robson từ bao năm vẫn còn vắng bóng 1 danh hiệu VDQG. Rốt cuộc vào năm 1993, danh hiệu ấy cũng đã đến, mở đầu cho 1 thập kỷ hoàng kim tạI Old Trafford. Trong mùa bóng 92-93, vớI sức nặng tuổI tác trên vai, Robson đã không còn giữ được vị trí chính thức, nhưng hễ mỗI lần anh ra sân thì Steve Bruce đều phảI nhường lạI băng thủ quân.

Với độI tuyển quốc gia Anh, Bryan Robson thi đấu 90 trận(65 trận là độI trưởng), ghi được 26 bàn, tham dự 3 World Cup 1982, 1986,1990.Năm 1982, Robson lập kỷ lục cầu thủ ghi bàn nhanh nhất trong lịch sử World Cup khi lập công ở giây thứ 27 trong trận Anh gặp Pháp(kỷ lục này bị phá bởI Hakan Sukur của Thổ Nhi Kỳ tạI World Cup 2002). Lần đầu tiên Robson khoác áo tuyển Anh là trận gặp Ireland năm 1980, còn lần cuốI cùng là trận gặp Thổ Nhi Kỳ năm 1990.

Sau khi cùng MU đăng quang ngôi VDQG lần thứ 2 liên tiếp vào năm 1994, Bryan Robson từ gĩa Old Trafford để trở thành cầu thủ kiêm huấn luyện viên tạI Middlesbrough(Boro). Năm 1995, anh đưa Boro thăng lên ngoạI hạng. Năm 1997, vớI các ngôi sao như Juninho và Ravanelli trong độI hình, Boro lọt vào 2 trận chung kết: FA Cup và League Cup, nhưng đồng thờI cũng…rơi xuống lạI hạng nhất.Cũng trong năm 1997 này, Robson quyết định từ giã sân cỏ để chuyên tâm làm huấn luyện. Lần cuốI cùng anh ra sân là trong trận Arsenal-Boro, ở tuổI 40.Tổng cộng, Robson đã chơi tất cả 731 trận cho West Brom, MU, và Boro.

Sau 1 mùa bóng ở giảI hạng nhất, Robson lạI đưa Boro trở lạI ngoạI hạng. Tuy nhiên, kết quả thi đấu của Boro tạI Premier League không được khả quan cho lắm. Sau khi dẫn dắt CLB trụ hạng thành công vào năm 2001, Robson tuyên bố từ chức.Tháng 11 năm 2003, Robson ký hợp đồng làm HLV cho Bradford City.

Vài con số thống kê về Robson trong thờI gian thi đấu cho MU:


S ố trận đấu và số bàn thắng
Số trận đấu Bàn thắng
VDQG 326 74
FA Cup 33 10
League Cup 49 5
Cúp châu Âu 26 8
Total 434 97


Các danh hiệu
1994 F.A. Premier League
1993 F.A. Premier League
1991 Cúp C2
1990 F.A. Cup
1985 F.A. Cup
1983 F.A. Cup

JakeSatan
11-12-2004, 13:32
GARRINCHA – VINH QUANG VÀ TỦI NHỤC
Cuộc đời bóng đá của Garrincha, cầu thủ chạy cánh phải của Braxin là một sự pha trộn giữa tài năng, vinh quang tột đỉnh với sự nghèo túng và cùng quẫn. Ơû Braxin, tên của Garrincha được đặt ngang hàng với Pele.
Tên that là Manuel Fanciso dos Santos, nhưng cũng như bất kì cầu thủ Braxin nào được yêu thích, anh được khán giả Braxin đặt cho cái tên thân mật là Garrincha. Năm 1958, khi còn là một chàng trai trẻ, Garrincha đã đi Thuỵ Điển dự giải VĐTG với tư cách là cầu thủ dự bị, giống như Pele.
Hai cầu thủ chính trong đội hình bị chấn thương và sa sút phong độ tạo cơ hội cho cả Garrincha và Pele vào đá trong đội hình chính thức và rồi cả hai đều trở về từ Thuỵ Điển như những người anh hùng. Ơû giải VĐTG tiếp theo đó tại Chile, Pele sớm bị chấn thương, Garrincha đã cùng đồng đội vào đấu trận chung kết và đoạt chức vô địch lần 2. Dọc đường “chinh chíên” để đoạt cúp vàng, Garrincha đã ghi được 4 bàn, trong đó có những bàn thắng quýêt định cho Braxin. Trên sân cỏ Chile năm ấy, khán giả đã được chứng kíên Garrincha nhảy điệu Samba như thế nào. Anh là một trong những cầu thủ xúât sắc nhất giải năm ấy.
Garrincha có một đặc điểm: anh bị dị tật ở chân. Chân phải của anh ngắn hơn chân trái 8 cm và cong vòng ra phía ngoài như hình chữ C. Mỗi bước đi của anh giống như bị thọt. Không rõ đó có phải là nguyên nhân chính hay không nhưng tài lừa bóng của Garrincha quả là độc nhất vô nhị. Trên sân, Garrincha luôn bị các hậu vệ đối phương chăm sóc kĩ. Thế nhưng chính những hậu vệ thường là nạn nhân của Garrincha. Anh có thể tháot khỏi đám đông đeo bám với một khoảng rất hẹp. Các cầu thủ đối phương thường vô cùng phẫn nộ khi thấy bóng ngay sát chân mình mà không là gì được vì Garrincha rất thính nhạy trong việc nhận biết đâu là chân trụ của đối phương. Người ta đã kể lại 1 câu chuyện nửa hư nửa thực rằng: trong một trận đấu giữa CLB của Garrincha với tuyển Costa Rica, Garrincha đã lần lượt lừa bóng qua hậu vệ và cả thủ môn đối phương, anh không sút ghi bàn mà lại… quay lại và lần lượt lừa tiếp để đưa bóng về phần sân nhà của mình, sau đó anh lại lừa tíêp 1 lần nữa và lần này lưới mới chịu rung lên. Anh giải thích vì lần đầu, người thủ không chịu dang 2 chân ra mà anh lại thích đưa bóng qua háng thủ môn! Tài nghệ đến thế thì đối thù nào chịu nổi chứ!!!
Garrincha thành công trên sân cỏ nhưng that bại trong cuộc đời. Sau khi đoạt được những vinh quang tại Thuỵ Điển và Chile, Garrincha sang châu Âu để tìm kíêm vinh quang. Nhưng chỉ có sự thất bại ê chề mà thôi. Tiền bạc lần lượt rời bỏ Garrincha, sau 1 thời gian lăn loan ở châu Âu, Garrincha quay về Braxin và đá cho CLB Những nhà triệu phú, bao gồm những cầu thủ quá lứa lỡ thời, đi thi đấu ở các tỉnh lẻ của Braxin.
Tài nghệ lừa bóng của Garrincha từng làm say mê hàng triệu khán giả trên thế giới, giờ chẳng giúp gì cho anh nữa, Garrincha lâm vào cảnh nghèo đói và túng quẫn. Cầu thủ chạy cánh vĩ đại của Braxin đã bị lãng quên.
Garrincha mất ngày 2-11-1982 tại một bệnh viện từ thiện ở Rio de Janero với một chiếc vé xổ số trong túi. Cho đến phút cuối đời, anh vẫn mơ mình trúng số độc đắc để thành triệu phú. Garrincha đã ôm giấc mộng đó cùng với số phận ham hiu của mình d8i vào cõi hư vô…!!!

Xú Quận Mã
13-12-2004, 14:39
Giới hâm mộ yêu mến gọi Rivera là "Ngôi sao Bắc Đẩu",Rivera đã toả sáng không chỉ trên bầu trời Châu Âu mà ở cả hành tinh,anh cũng là 1 trong số ít các cầu thủ vinh dự có mặt trong 4 vòng chung kết Mondial và dành hàng loạt danh hiệu cao quý của FIFA.
Rivera sinh ngày 18-8-1943,chưa đầy 15 tuổi anh đã có mặt tại CLB QS Alessandria,và vào ngày sinh nhật lần thứ 17 của mình cũng là ngày anh đầu quân cho Milan.Chàng trai này có kỹ thuật cá nhân rất điêu luyện,1 ảo thuật gia trân sân cỏ.Anh trở thành tiền vệ tấn công nổi tiếng bậc nhất trên thế giới vào thập kỷ 60.Rivera đã 501 lần thi đấu trong các giải đấu hang cao nhất và ghi 122 bàn thắng,trong đó ở mùa giải VĐQG 1973,Rivera là vua phá lưới với 17 lần sút tung lưới đối phương,anh góp phần rất lớn giúp AC Milan đoạt cúp C1 năm 1963-lần đầu tiên của Milan và Calcio.6 năm sau,năm 1969 là chiếc cúp C1 thứ 2-vẫn với Milan.Trong 70 trận đã chơi ở các cúp Châu Âu anh đã ghi 26 bàn thắng.Và ở tuổi 26 Rivera đã vinh dự đón nhận danh hiệu Quả bóng vàng Châu Âu.Tong màu áo thiên thanh.anh đã có sự thăng tiến rất nhanh,chỉ sau 1 trận đấu ở đội trẻ Italia,ngày 31-5-1962,tại Brussel,lần đầu tiên khoác áo ĐT QG,Rivera đã ghi 1 bàn thắng vào lưới ĐTBỉ,năm 68 ĐT Italia và Rivera đã tuột khỏi tay chức vô địch Châu Âu trong gang tấc khi thất bại trước ĐT Namtư.2 năm sau tại World Cup,chính Rivera đã ghi bàn thắng loại ĐT Đức ở vòng bán kết nhưng không thể vượt qua được đội tuyển xuất sắc nhất trong lịch sử các kì WC của Zagallo và Pele.
Giã từ sân cỏ nhưng không giã từ bóng đá,Rivera trở thành 1 BLV bóng đá xuất sắc.Hình ảnh cầu thủ xuất sắc với lối chơi sắc sảo sẽ không phai mờ trong lòng người hâm mộ bóng đá thế giới,đặc biệt là các Milanista.

JakeSatan
13-12-2004, 17:13
Roy Keane - Đã là huyền thoại ngay từ bây giờ

Lâu lắm rồi, người ta mới lại thấy M.U mong manh đến thế và thắng lợi không còn đến dễ dàng như xưa, vì thế chiến thắng trước Newcastle là một bước tiến đặc biệt. Nó càng đặc biệt hơn khi trận đấu đó đánh dấu mốc son trong sự nghiệp của Quỷ đỏ đầu đàn Roy Keane...

Đây là trận đấu thứ 300 của anh trong màu áo M.U tại Premiership và là trận thứ 400 được ra sân trong đội hình chính thức trong suốt sự nghiệp cầu thủ kéo dài 15 năm qua. Một con số ấn tượng thường chỉ có ở những huyền thoại.

Những gì người ta nói về Roy Keane là một tài năng lớn của bóng đá CH Ireland sản sinh được trong lịch sử, là người kế thừa vai trò thủ lĩnh ở M.U từ tay Eric Cantona, kế thừa luôn cả cái đầu luôn bốc khói với tiếng là “kẻ ngang ngược”. Tất cả đều đúng, nhưng còn thiếu. Có ai biết được rằng một cầu thủ mà cách đây 20 năm còn là cậu bé đánh giầy tại CLB Cork Ramblers, cách đây vài năm đã từng từ chối những lời đề nghị hấp dẫn từ Inter, Lazio, Bayern Munich với mức ưu đãi cao ngất ngư, những món tiền lương khủng khiếp tới 100.000 bảng/tuần để ở lại Old Trafford để nhận “vẻn vẹn” 52.000 bảng/tuần (hiện tại là 92.000 bảng)? Mặt trái của một Roy Keane “quái thú” trên sân cỏ, trời chẳng sợ, đất chẳng dè, luôn sẵn sàng “tẩn” bất cứ kẻ nào dám “chọc tức” là một Roy Keane đầy nhiệt huyết, nhân hậu khi anh đã xây dựng hẳn một trường học bóng đá cho trẻ em nghèo tại quê hương và luôn tích cực làm từ thiện. Đằng sau một Roy Keane hào nhoáng với căn hộ trị giá tới 1,4 triệu bảng tại Hale (Altrincham), những chiếc xe hơi hàng trăm ngàn bảng với cuộc sống vương giả là một Tiến sĩ luật của trường Đại học Cork. Keane là như vậy, thật khó để tìm hiểu hết đến tận cùng như chính sự nghiệp sân cỏ của anh vậy.

Lúc này, dù không còn ở đỉnh cao phong độ, M.U không còn là thế lực tuyệt đối của nước Anh và châu Âu, nhưng Roy Keane vẫn là một tượng đài, một thủ lĩnh, một người anh tinh thần của M.U cả trong và ngoài sân cỏ. Mơ ước của “kẻ ngang ngược” là được kết thúc sự nghiệp tại Scotland trong màu áo Celtic, nhưng xem ra chiến tướng già này vẫn rất cần thiết cho Quỷ đỏ và người Manchester hy vọng cái mơ ước của Roy Keane sẽ còn lâu mới thành hiện thực.

Thông tin cá nhân

Tên đầy đủ: Roy Maurice Keane
CLB: Manchester United
Sinh ngày: 10/08/1971
Tại: Cork (CH Ireland)
Cao: 180cm
Nặng: 77Kg
Ký hợp đồng với M.U từ Nottingham Forest vào ngày 19/7/1993 với giá kỷ lục lúc đó: 3.750.000 bảng.
Đoạt được 17 chức VĐ ở mọi giải đấu cùng M.U từ năm 1993 đến nay.

theo baobongđa

JakeSatan
14-12-2004, 17:32
Samuel Etoo và tiếng gầm sư tử

Khi lần đầu tiên nhìn thấy chàng trai nhỏ bé Samuel Eto’o vùng vẫy thoải mái đến thế nào trước các anh bạn khổng lồ châu Âu tại Naranja Trofeo (dành cho các cầu thủ U17) được tổ chức tại Madrid, Fabio Capello, người lúc đó là HLV của Real Madrid đã phải thốt lên: “Nếu có ai hỏi tôi đâu là tương lai của bóng đá châu Phi thì câu trả lời là ở đây, là cậu bé này”.

Chỉ một câu nói đó thôi đã thay đổi số phận của Eto’o, từ cậu nhóc vẫn chưa tốt nghiệp Học viện bóng đá Kadji, thậm chí còn chưa được Cannon Yaoundé cho thử việc đã lên đường sang châu Âu, đến với Bernabeu của Real Madrid.

Đã 8 năm trôi qua kể từ ngày đầu tiên đó, Eto’o cũng không còn khoác áo Real mà giờ đây, anh đã là người của Barca và đang khiến các Madridista nhỏ lệ đau buồn. “Tại sao họ lại để Eto’o ra đi, tại sao đích đến của El León (sư tử, biệt danh của Eto’o) chẳng phải nơi nào khác lại chính là Nou Camp của Barca, kẻ thù muôn đời của Real Madrid”. Tiếc nuối cũng đúng thôi, tiếng gầm của “chú sư tử” Eto’o đang làm rung chuyển cả Tây Ban Nha, thậm chí là châu Âu, đang khiến các đối thủ của Barca khiếp vía.

Những bàn thắng của Eto’o đã chặn bước tiến của người khổng lồ Milan tại Champions League, đã giúp Barca chỉ còn cách vòng 2 chưa đến… nửa bước chân cũng như đã đưa Barca của Rijkaard lên ngôi đầu bảng tại Liga với cách biệt 7 điểm so với kẻ bám đuổi Real Madrid bằng sự khởi đầu tốt nhất trong lịch sử. Không những thế, với 9 lần sút tung lưới đối phương, Eto’o đang một mình băng băng trên con đường chinh phục danh hiệu Pinichi để đi vào lịch sử Barca như là cầu thủ thứ 9 làm được điều này.

Vài nét về sự nghiệp và thành tích
Sinh ngày: 10/03/1981, tại Nkon, Cameroon
Chiều cao: 1m80. Cân nặng: 75kg
Vị trí: tiền đạo
Các CLB đã qua: Canon Yaoundé, Leganés, Real Madrid, Espanyol, Mallorca, Barcelona.
Chơi tất cả 174 trận tại các giải VĐQG, ghi được 66 bàn thắng
Thành tích: Đoạt Cúp Nhà vua Tây Ban Nha 2003, Vô địch châu Phi (2002), Huy chương vàng Olympique 2000
Đoạt Quả bóng vàng châu Phi 2003

theo baobongđa

JakeSatan
15-12-2004, 17:05
Những “siêu” hat-trick
Các fan hâm mộ túc cầu giáo ắt hẳn khó quên được cú “siêu” hat-trick của Wayne Rooney lập trong trận M.U gặp Fenerbache ở vòng loại Champions League. Gọi đó là một “siêu” hat-trick vì cả 3 bàn thắng đều được anh ghi từ ngoài vòng 16m50. Nhưng trong lịch sử, Rooney không phải là cầu thủ duy nhất lập được thành tích này.

Chia sẻ vinh quang với anh còn có 4 cầu thủ khác. Đó là:

1. Đầu tiên và gần đây nhất sau Rooney là một cái tên xa lạ Lee Johnson. Đây là tiền đạo của đội bóng Yeovil, hạng Nhì ở Anh.

Trong trận vòng 1 Carling Cup diễn ra ngày 24/8 vừa qua giữa Yeovil và Plymouth, Yeovil đã thắng 3-2 nhờ cú “siêu” hat-trick của Johnson.

Từ khoảng cách trên 25m, Johnson cố gắng trả bóng về cho thủ môn đối phương trong một tình huống fair-play nhưng rốt cuộc bóng lại nằm gọn trong lưới.

Tuy nhiên, 2 bàn sau đó của Johnson thì hoàn toàn đẹp mắt từ những cú sút xa mạnh mẽ.

2. Thứ hai là David Farrell, một cái tên cũng không kém phần xa lạ so với Johnson. Tiền vệ này đang khoác áo Peterbroụgh, một đội bóng hạng Nhất tại Anh.

Tháng 5/2000, trong một trận đấu giành quyền lên hạng giữa Peterbrough và Barnet (khi đó cả 2 chơi ở giải hạng Ba), Farrell đã lập một hat-trick ngoạn mục.

Bàn đầu tiên là một cú sút từ khoảng cách 20m vào góc cao khung thành. Bàn thứ hai tương tự nhưng nhằm vào góc dưới và bàn thứ ba ngoạn mục hơn cả: một cú lốp bóng qua đầu thủ môn đối phương từ cách xa 30m.

3. Kế tiếp là cái tên quen thuộc hơn nhiều, Sinisa Mihajlovic. Cựu hậu vệ người Serbia & Montenegro này nổi tiếng với những cú sút phạt kinh hoàng bằng chân trái.

Ngày11/01/1998 ở khuôn khổ Seria A, Mihajlovic trong màu áo Sampdoria đã lập một “siêu” hat-trick khó ai lặp lại được: cả 3 bàn thắng đều từ những cú sút phạt ngoài vạch 16m50 vào lưới Parma (chung cuộc, Sampdoria thắng 5-2).

Thử tưởng tượng nếu David Beckham làm được điều này, báo chí Anh chắc hẳn phải thổi phổng đến tận mây xanh!

4. Nhưng “siêu” hat-trick đáng được tôn vinh nhất thuộc về ngôi sao người Brazill, Rivaldo. Hãy cùng trở lại ngày cuối cùng của mùa giải vô địch Tây Ban Nha (La Liga) năm 2000-2001 với trận đấu Barcelona gặp Valencia trên sân Nou Camp.

Là 2 đối thủ cạnh tranh trực tiếp suất dự Champions League còn lại, Barcelona buộc phải thắng, còn Valencia chỉ cần hoà.

Rivaldo hai lần đưa Barcelona dẫn trước, đầu tiên bằng một cú sút phạt tuyệt đẹp từ khoảng cách 25m, tiếp đó là một cú sút trái phá vào góc thấp khung thành đối phương sau khi lừa bóng qua 2 cầu thủ Valencia.

Trận đấu đi vào phút cuối cùng và chảo lửa Nou Camp nguội dần. Các fan Barcelona bắt đầu chán nản nghĩ đến viễn cảnh đội nhà vắng mặt ở Champions League năm sau.

Đột nhiên Frank de Boer treo bóng lên cầu may. Và trái bóng hướng về phía Rivaldo đang cách khung thành khoảng 18m. Rivaldo bất ngờ tung người thực hiện một cú móc bóng như trong mơ.

Khỏi phải nói không khí trên sân Nou Camp lúc đó. Đấy là lần duy nhất cho đến nay, khán giả tràn xuống sân Nou Camp ăn mừng.

Có thể nói bằng cú “siêu” hat-trick củ mình, Rivaldo đã vớt vát cho Barcelona cả một mùa bóng và giúp câu lạc bộ này tránh khỏi cảnh vỡ nợ nếu không được tham dự Champions League.

theo ANTĐ

JakeSatan
17-12-2004, 17:36
Gianfranco Zola - Niềm đam mê vượt lên trên tuổi tác

Những bước chạy không biết mệt mỏi, vẫn đôi chân khéo léo, uyển chuyển như ngày nào... Người ta thấy còn đó hình bóng một con người vĩ đại, một nhân cách lớn. Anh là Gianfranco Zola.

Chỉ đến với Cagliari trong những năm cuối của sự nghiệp song niềm đam mê của anh với trái bóng không hề suy giảm. Khi đã cảm nhận rằng mình không còn đủ sức tiếp tục chơi ở những đấu trường đỉnh cao, Zola đã quyết định rời Premier League sau 6 năm gắn bó với Chelsea, để về một CLB hạng trung của Italia. Thế nhưng, cùng với sự kỳ vọng của người dân đảo Sardegna sau 7 năm xa cách Serie A, Zola đã quyết định dốc sức giúp Cagliari trở lại với Serie A, và anh đã làm được điều đó. Mùa giải năm trước, anh đã ghi tổng cộng 13 bàn và kiến tạo 19 đường chuyền thành bàn để Cagliari đứng trong top đầu Serie B và thăng hạng ở mùa giải này.

Lẽ ra, Zola đã giã từ sự nghiệp sau khi hoàn thành ước nguyện đưa đội bóng quê hương trở lại với Serie A, nhưng vì CLB, anh vẫn quyết định thi đấu và cống hiến đến khi còn có thể. Giờ đây, Zola không còn sung mãn như những năm tháng còn chơi cho Chelsea nữa, nhưng bù lại, kinh nghiệm của anh vẫn là cái mà Cagliari cần đến.

Những cầu thủ như Zola không bao giờ thích hợp trong đội hình nhiều ngôi sao bởi lẽ anh là kiểu cầu thủ có tầm ảnh hưởng lên toàn bộ lối chơi của đội. Nếu không có tiền đạo lão tướng này, sơ đồ chiến thuật 4-3-1-2 của HLV Arrigoni sẽ hoàn toàn phá sản, và những chiến thắng ấn tượng từ đầu mùa giải sẽ không thể đến. Zola là vị trí trọng yếu nhất trong đội hình Cagliari bởi anh đóng vai trò là người phân phát bóng, là cầu nối cho những đợt tấn công của đội nhà, là người cung cấp “đạn” cho hai “khẩu đại pháo” Langella và Esposito ghi bàn. Cho đến nay, Cagliari không chỉ là đội bóng xếp thứ tư (vị trí giành suất dự Champions League mùa giải tới) mà còn là một trong những đội ghi được nhiều bàn thắng nhất (22 bàn sau 14 trận).

Không phải là mẫu trung phong săn bàn bẩm sinh song một tiền đạo chơi kiến tạo như anh luôn đóng vai trò trụ cột của đội bóng. Zola có thể sẽ chỉ còn chơi được cho Cagliari hết mùa giải năm nay, nhưng với một cầu thủ luôn hết mình vì đội bóng như anh, người ta sẽ còn nhớ mãi đến cái tên Zola và những năm tháng đẹp cuối sự nghiệp của anh tại vùng đảo quê hương.

Vài nét về Zola

Sinh ngày 5/7/1966 (38 tuổi)
Nơi sinh: Oliena; Quốc tịch: Italia
Chiều cao: 165cm, Cân nặng 67kg
Vị trí thi đấu: Tiền đạo tự do
Các CLB đã qua: Nuorese (1983-1986); Torres (1986-1989); Napoli (1989-1993); Parma (1993-1996); Chelsea (1997-2003); Cagliari (2003-nay)

JakeSatan
18-12-2004, 16:56
Raul Gonzalez Blanco: Duyên phận 10 năm
1 thập kỷ, quãng thời gian không hề ngắn đối với sự nghiệp của bất cứ một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp nào. Thứ Sáu ngày 29-10-2004, một ngày bình thường đối với bất kỳ ai nhưng với tiền đạo đội trưởng CLB Real Madrid, Raul Gonzalez, đó là một trong những ngày trọng đại nhất của cuộc đời - ngày mà tròn 10 năm trước đây, Raul ra sân lần đầu tiên trong màu áo trắng của đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha.


27 tuổi, 3 tháng 28 ngày, Raul đã có 10 năm chơi bóng cho Real Madrid và có lẽ cho đến cuối đời, tiền đạo này cũng không thể quên cái ngày 29-10-1994 ở Romareda, cái ngày mà Real giành chiến thắng 3-2 trước đối thủ Real Zaragoza và cũng ngày đó, chàng tiền đạo mới 17 tuổi được tung vào sân bên cạnh những huyền thoại của Real Madrid, Amancio, Juanito và Butragueno. Sau này, mỗi khi nhớ lại thời điểm đó, Raul không khỏi xúc động khi nói rằng: “Khi HLV gọi tôi khởi động chuẩn bị vào sân, có một cảm giác gì đó rất khác lạ lập tức xảy ra mặc dù tôi đã chuẩn bị kỹ càng cho điều đó. Đó là cảm giác mà tôi sẽ mang theo trong suốt cuộc đời này”.

Tuổi thơ gắn liền với nửa đỏ trắng của Thủ đô Madrid, chẳng mấy ai ngờ rằng rồi có một ngày, cậu bé Blanco sinh trưởng trong một gia đình hâm mộ đội bóng Atletico lại trở thành một trong những huyền thoại của sân Bernabeu. 501 lần ra sân trong màu áo Real Madrid, ghi được tổng cộng 240 bàn thắng cho đội bóng xuất sắc nhất thế kỷ 20, “Raul Madrid”, cái tên mà những người hâm mộ đặt cho Blanco, chàng hoàng tử bé của Club de Blanco đã phần nào nói lên những tình cảm mà Raul nhận được sau 10 năm cống hiến cho CLB. Một thập kỷ sống trong môi trường cạnh tranh có thể nói là khốc liệt nhất thế giới, Raul bằng khả năng của mình đã chứng tỏ được tầm quan trọng của mình trong lối chơi của Real. Trải qua không ít các đời HLV và cũng trải qua rất nhiều những thăng trầm, mọi chuyện không phải bao giờ cũng diễn ra “xuôi chèo mát mái” nhưng đúng như đánh giá của HLV đương nhiệm, Garcia Remon rằng: “Cách chơi của cậu ấy là một phần không thể thiếu trong lối chơi của toàn đội”.

Phái đối mặt với rất nhiều lời chỉ trích về phong độ yếu kém, quãng thời gian hơn 9 tháng không ghi bàn quả là quá dài đối với một người như Raul nhưng ngay cả khi Real có Ronaldo, Owen hay Morientes, Raul vẫn nhận được sự tin tưởng của ban huấn luyện và trong một vai trò mới, tiền đạo lùi, Raul lại tìm lại được sự nhạy cảm vốn có của mình mỗi khi đối mặt với khung thành đối phương. Chưa nhiều nhưng chỉ bằng từng đó, các Madridista có thể tin rằng, Raul của họ sẽ lại lập công đều đặn trở lại, giúp Real chiến thắng trên mọi mặt trận. Trong một lần trả lời phỏng vấn về người học trò của mình, cựu Giám đốc thể thao, Jorge Valdano - người đã không ngần ngại đề nghị Raul đặt bút ký vào bản hợp đồng có thời hạn đến ngày 30-6-2010, cho biết: “Real không muốn để Raul ra đi và tôi biết cậu ta cũng vậy, Real là tình yêu, là niềm đam mê và là đôi cánh cho Raul bay cao, bay xa như ngày hôm nay để rồi khi chia tay, cậu ấy sẽ là một huyền thoại nữa của Real Madrid”.

theo thethaovietnam

JakeSatan
20-12-2004, 08:51
Adriano, ngôi sao băng của Brazil
Huấn luyện viên Brazil - Carlos Alberto Parreira đã miêu tả về tiền đạo Adriano của Inter-Milan như một chú tuấn mã sung sức. Một điều chắc chắn đấy không phải đơn thuần do cái vóc dáng bề ngoài của chàng trai trẻ này nói lên điều đó.
Adriano là con nhà nòi và bắt đầu chập chững với trái bóng tròn trước tiên ở CLB Flamengo và sau đó là tại Parma - mảnh đất sản sinh ra những thiên tài bóng đá hàng đầu của Serie A. Nhưng quả thật để đạt được vinh dự đó không phải là dễ.
Hãy nhìn vào lai lịch của chàng trai trẻ này: vượt qua rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, chiến thắng cái nghèo đói và để rồi giờ đây trở thành một tiền đạo đáng gờm, sẵn sàng uy hiếp bất kỳ hàng hậu vệ kinh nghiệm nào.
Mới 22 tuổi nhưng thành tích của tiền đạo trẻ Inter thật đáng nể phục: 19 trận đấu ở Serie A và Champions League, Adriano ghi được 15 bàn thắng và hầu hết trong số đó là những bàn thắng cá nhân ngoạn mục.
Đây cũng chính là món quà đặc biệt dành cho các fans hâm mộ của Inter để nguôi ngoai đi nỗi đau về kẻ phản bội “vĩ đại” - 1 cầu thủ được đóng mác Brazil khác - Ronaldo khi anh dứt áo CLB ra đi.
Quả thực Inter đã khẳng định được sức mạnh về tài chính của mình khi ký kết những hợp đồng có trị giá nhất trong thị trường chuyển nhượng cầu thủ. Chủ trương của CLB này là luôn mua về những cầu thủ chưa thành danh và bán đi những tên tuổỉ lớn của mình khi họ hầu hết đang ở thời kỳ đỉnh cao của sự nghiệp.
Và Adriano dần trở thành một món lời được thuyên chuyển qua tay của những bộ óc đầy tính toán này. Nhìn vào chặng đường hơn 20 năm về trước mà Adriano đã trải qua thì có lẽ chẳng ngạc nhiên khi nhận thấy chàng trai trẻ này đã nỗ lực như thế nào để thích nghi và có thể “sống sót” trong 1 giải đấu khắc nghiệt như Serie A.
Sinh ra và lớn lên tại Vila Cruzeiro, một thị trấn nghèo ở Rio de Janeiro, bố của Adriano - Almir Ribeiro là một nhân viên văn phòng, còn mẹ là Rosilda. Adriano lọt lòng khi bà mới 17 tuổi. “Họ kiếm được rất ít tiền. Cuộc sống lúc bấy giờ thật khó khăn và tồi tệ” Adriano đã nói vậy trong cuộc phỏng vấn gần đây.
Khi còn là cậu nhóc 7 tuổi, Adriano vẫn hay chơi đùa với những đứa trẻ con cùng trang lứa trong thị trấn. Đã có lần Adriano được chứng kiến tận mắt một người bị bắn chết mà nạn nhân có vẻ liên quan đến cuộc ẩu đả có dính líu đến ma tuý. Chẳng bao lâu sau, phần lớn chính những cậu bạn niên thiếu của Adriano đã bị kết tội là thành viên của một băng đảng buôn bán ma túy.
Năm 10 tuổi, mất mát và đau đớn lại xảy đến với gia đình của Adriano. Bố Adriano bị bắn vào đầu vì một viên đạn lạc. Do không đủ tiền chi trả cho phẫu thuật, ông đành để viên đạn vẫn nằm lại trong đầu. Đến đầu năm sau ông đã chết vì bệnh tim.
Adriano quyết định từ bỏ thị trấn quê hương tồi tàn, gia nhập vào CLB trẻ của Flamengo. Do không có đủ tiền để trả vé xe buýt đi lại hàng ngày cho việc luyện tập, Adriano đã phải sử dụng 1 mánh khoé, đó là: mặc chiếc áo đồng phục của truờng để được giảm tiền vé.
Tại Flamengo, Adriano mặc dù được thi đấu trong đội hình 1 nhưng các fan hâm mộ chẳng một chút ấn tượng gì về anh ngoài những cái lỗi ngớ ngẩn và vụng về mà chàng thanh niên còn quá non nớt này gây ra.
Nhưng Emerson Leao, huấn luyện viên của đội tuyển Brazil lúc đó đã sớm phát hiện ra tài năng tiềm tàng của Adriano và đã lập tức đưa anh vào Selecao tháng 11/2000. Lúc đó Adriano mới có 18 tuổi.
Việc chuyển đến đá cho Inter vào cuối mùa giải năm 2001 của anh không gây sự chú ý của công chúng: một chàng trai còn quá trẻ và chưa hề đuợc biết đến trong một số lượng lớn những gương mặt mới.
Nhưng ngay lập tức Adriano đã gây được ấn tượng lớn trong 1 trận đấu giao hữu trước mùa bóng với Real Madrid và anh đã ghi bàn thắng từ một quả sút phạt sấm sét.
Điều này cũng đủ để đảm bảo rằng Adriano sẽ bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình ít ra là với Inter chứ không phải là một CLB xoàng xoàng nào khác. Nhưng chỉ sau có 8 trận đấu với 1 bàn thắng duy nhất, Adriano đã sớm bị cho Fiorentina mượn.
CLB của thành phố Florence này đang trong thời kỳ vật lộn cho cuộc chiến trụ hạng và phá sản thì quả thật đấy không hề là nơi lý tưởng cho một chàng tiền đạo trẻ tuổi còn chưa dạn dày trận mạc này. Thế nhưng với 6 bàn thắng trong 15 trận đấu đã chứng tỏ một điều tương lai của anh là ở Serie A. Tuy nhiên không phải với Inter.
Sau đó Adriano lại được bán cho Parma. Adriano càng đá càng hay khi ở những mùa giải tiếp theo, anh ghi 8 bàn thắng trong số 9 trận đầu mùa giải. Nhưng rồi con đường sự nghiệp bất ngờ gián đoạn vì vết chấn thương đầu gối.
Khi Adriano đang dần dần hồi phục thì Parma lâm vào khủng hoảng tài chính và dù muốn hay không CLB này phải bán đi những tài sản quý giá nhất mà họ có. Vào thời điểm bấy giờ không thiếu những CLB săn lùng chữ ký của chàng tiền đạo trẻ này nhưng vì Inter nhanh chân hơn đã thương lượng đuợc với người đại diện của Adriano để rồi cuối cùng toại nguyện khi được sở hữu đuợc chữ ký của anh.
Kể từ khi bắt đầu gây dựng lại với Inter, Adriano luôn được gọi về thi đấu cho ĐTQG Brazil và chính anh đã ghi bàn thắng quyết định giúp Brazil đoạt Copa America và giành danh hiệu cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 7 bàn thắng.

JakeSatan
24-12-2004, 19:57
Francesco Totti: Cậu bé vàng thành Roma
Sinh ra và trưởng thành tại Porta Metronia (Rome), Francesco Totti hiện nay là một trong những cầu thủ tài năng và có kỹ thuật tốt nhất ở Italia. Nhiều người coi anh là hậu duệ thực sự của Roberto Baggio mang áo số 10 trong đội quân Azzurri, và anh đã rất xứng đáng với số áo này.
Tuy nhiên, trước khi có được những thành công và danh tiếng như thế, Francesco đã trải qua những ngày tháng rất khó khăn tại cùng ngoại ô Rome. Chính anh cũng đã từng nghĩ rằng có lẽ môn thể thao này không dành cho anh. Tuy nhiên bóng đá đã là một phần quan trọng với tuổi thơ của Totti. Chính điều này đã khiến anh có được những thành công như hiện nay.
Totti thực sự là người cầm cờ đối với đội bóng. Anh đã cùng với Roma vượt qua những giai đoạn thăng trầm của CLB. Anh đã từ chối tất cả những lời mời hấp dẫn của các CLB hàng đầu Italia và thế giới để ở lại với Roma.
Chàng thủ quân này bắt đầu sự nghiệp của mình tại Roma với đội tuyển trẻ từ năm 1989. Chính HLV Boskov đã cho anh cơ hội ra mắt lần đầu tiên tại Serie A ở mùa bóng 1992/93 khi anh mới 16 tuổi. Ngày 28/3/1993 anh đã giúp Roma đánh bại Brescia 2-0 ngay trên sân khách. Bàn thắng đầu tiên của Totti ghi cho Roma là vào năm 1994 trong trận gặp Foggia. Tuổi còn rất trẻ nhưng ngay trong lần ra mắt đầu tiên Totti đã gây được một ấn tượng rất tốt với HLV, anh nhanh chóng được giữ vai trò vai trọng trong đội hình CLB. Mùa giải 1997/98 đã ghi nhận một bước đột phá mới trong sự nghiệp của Totti. Anh đã ghi được tất cả 14 bàn thắng trong 30 trận đấu. Thành tích này đã đưa anh lọt vào mắt của giới chuyên môn và các CĐV Italia.
Tuy thế, đến mùa giải 1999/2000 Totti mới thực sự trở thành một trong những cầu thủ xuất sắc nhất Italia. Cùng với Totti, Azzurri đã vào tới trận chung kết Champion League. Kể từ đó, sự nghiệp của anh mỗi ngày một sáng lạn hơn.
Mặc dù hiện tại có thể hiện tại anh chưa đạt được tất cả những gì anh xứng đáng được nhận, nhưng anh đã là và chắc chắn sẽ là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất Italia trong vòng 30 năm qua, cả trong màu áo AS Roma cũng như ĐTQG Italia.

Lý lịch trích ngang

Tên đầy đủ Francesco Totti

Position:Tiền đạo

CLB As Roma

Ngày sinh27/09/1976

Nơi sinh Rome (Italy)

Chiều cao 172 cm

Cân nặng 68 kg

cuonglongzero
27-12-2004, 15:05
hôm bữa lên mạng thấy có cái về các huyền thoại của MU từ trước đến giờ nên post để bà con tham khảo
chú ý là đây không phải bài của tui đâu nhé
bi giờ tui post vài chú nếu thấy hay thì mọi người cho ý kiến post tiếp còn dở thì thôi:
King Eric,ông vua Pháp của người Anh
(MU.VN) Nhắc đến Manchester United , người ta nghĩ ngay đến sân vận động Old Trafford, nghĩ đến David Bechkham, nhưng đối với những người đã từng xem Man United chơi bóng vào giữa những năm 90, thì nguời đuợc nhớ đến nhiều nhất là Eric Cantona
Là một cầu thủ đầy tài năng, nhưng cũng đầy cá tính, Cantona luôn thích làm theo những gì mình nghĩ, và kết quả là anh luôn để lại tiếng xấu tại mỗi CLB mà anh đã chơi cho họ, năm 1993 nhận án treo giò 3 tháng, Cantona đã quyết định vậy là quá đủ, anh sẽ từ giã bóng đá. Có lẽ sau này những người hâm mộ CLB MU sẽ phải cám ơn M.Plantini rất nhiều, chính ông đã khuyên anh hãy sang nuớc Anh.

Leeds United là CLB đầu tiên mà Eric dừng chân, với sự có mặt của Eric, Leeds đã giành chức vô địch giải ngoại hạng Anh năm đó, chỉ sau 1 mùa bóng ở Leeds, Cântona đã chuyển về chơi cho CLB Manchester United với 1 bản hợp đồng được kí trong thời gian kỉ lục: 3 ngày, kể từ khi phía Manchester đưa ra đề nghị tới khi hợp đồng hoàn tất. Và chính tại nơi đây 1 huyền thoại về 1 ông vua người Pháp trên đất Anh đã đuợc viết nên.

Với sự góp mặt của Cantona, Manchester đã đoạt đuợc tất cả những gì mà 1 đội bóng mơ uớc chức vô địch ngoại hạng , cúp Fa.Chính anh là người có cú volê tuyệt vời vào luới Liverpool trong trận chung kết cúp Fa năm 97.Nhưng chính cá tính và cái tôi trong Cantona quá lớn đã dẫn đến sai lầm lớn nhất trong đời cầu thủ của anh. Ngày 25/1/1995 trong trận đấu gặp Crystal Palace một CĐV mà sau này được xác định danh tính là Matthew Simmons, đã chạy thẳng xuống chỗ rào chắn và buông ra một câu chửi tục tằn. Bị xúc phạm, Cantona đã bay người qua rào chắn và tung ra cú kung-fu vào chính ngực kẻ vừa xúc phạm mình. 1 phán quyết rất nhanh đuợc đưa ra ngay sau đó. Chủ toạ phiên toà tại Croydon lạnh lùng tuyên bố tống giam Cantona 14 ngày.

Trở lại sau án phạt Cantona đã trở thành 1 con người khác hẳn , ít nói và điềm tĩnh hơn , anh đã không còn phản ứng với những quyết định của trọng tài dù đôi khi , những quyết định luôn mang lại cho anh những thua thiệt, và chắc hẳn không ai có thể quên đuợc mùa giải khi anh quay lại sau án treo giò đó, khi đó Newcaslte duới bàn tay dẫn dắt kì diệu của HLV Kevin Keegan đang bỏ xa MU với 13 điểm trong khi chỉ còn 5 vòng đấu nữa là mùa bóng kết thúc, chức vô địch tưởng như đã nằm trọn trong tay họ, thế nhưng dưới sự dẫn dắt của Cantona, từng bước từng bước Manchester dần đuổi kịp, và vào cái ngày cuối cùng của mùa bóng Manchester đã kịp vượt qua Newcastle để giành ngôi vô địch, không gì vui hơn thế.

Nhưng vào 1 ngày buồn cuối năm 1997, Cantona đột ngột tuyên bố từ giã sân cỏ trong sự ngỡ ngàng của người hâm mộ, anh từ giã sân cỏ khi ,mình đang ở dỉnh cao nhất của phong độ trong đời cầu thủ , khi nhận đuợc tin này, thị trường chứng khoán Luân Đôn như bị chấn động mạnh , cổ phiếu của Man sụt giảm 1,67 bảng Anh, hay nói cách khác, chỉ trong nháy mắt, Man đã mất đi 7 triệu bảng . Nhiều nguyên nhân đã được đưa ra để lý giải nhưng có lẽ do thất bại của tuyển Pháp tại Euro 96 là nguyên nhân chính của quyết đinh này, mùa hè năm 96 đội bóng dường như đã có tất cả nhưng họ lại thiếu 1 cầu thủ có vai trò thủ lĩnh, đủ sức dốc đội bóng lên những lúc cần thiết, Amie Jacquet có lẽ hiễu rõ điều này nhưng bản tính cố chấp của ông ta đã không cho phép ông gọi Eric trở lại đội tuyển quốc gia

Mặc dù để lại nhiều tai tiếng, cũng không giành được danh hiệu cao quý với đội tuyển quốc gia, nhưng sau naỳ cậu bé Raphel Cantona,con trai anh, có thể hoàn toàn tự hào về người cha của cậu , một trong số những cầu thủ Pháp tài hoa nhất những năm cuối thế kỉ 20, và những Fan hâm mộ của Manchester United sẽ không bao giờ quên hình ảnh King Eric với chiếc cổ áo dựng đứng kiêu hùng duới ánh sáng rực rỡ trên sân Old Trafford

cuonglongzero
27-12-2004, 15:09
DUNCAN EDWARDS – TÀI HOA BẠC MỆNH
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG:
Họ và tên đầy đủ : Duncan Edwards
Ngày sinh:01/10/1936
Quốc tịch : Anh
Nơi sinh: Dudley
Vị trí : Tiền vệ
Số lần khoác áo ĐTQG: 18
Các CLB đã thi đấu: 177 lần khoác áo cho CLB duy nhất là MU, ghi được 21 bàn thắng, đoạt chức VĐQG 2 năm liên tiếp 1956, 1957.

Mất ngày 21/2/1958
Huyền thoại của Manchester United và đội tuyển Anh đã ra đi vĩnh viễn tại bệnh viện Rechts der isar ( Munich, Đức) sau 15 ngày vật lộn với những vết thương trầm trọng do tai nạn máy bay hôm 6/2/1958 gây nên. Lúc đó Duncan Edwards mới hơn 21 tuổi nhưng tài năng đã được khẳng định trong đội ngũ những “những chàng trai huyền diệu của Sir Matt Busby”, các chuyên gia hàng đầu thế giới khi đó đánh giá Duncan là ngôi sao sáng nhất không chỉ của bóng đá Anh mà còn của thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều các cầu thủ ở các thế hệ khác nhau của MU đều khẳng định Ewards xứng đáng đứng trên Best, Bobby Chrlton và Law trong danh sách những huyền thoại của Manchester United.

Ông là một mẫu cầu thủ hoàn hảo: cao lớn mạn mẽ, có tốc độ cực tốt dựa trên nền thể lực sung mãn, chơi tốt cả hai chân, không chiến rất giỏi và đặc biệt là có thể chơi hay bất cứ vị trí nào: hậu vệ, tiền đạo và luôn toả sáng ở vị trí tiền vệ. Duncan bắt đầu xuất hiện ở đội 1 của MU hôm 4/4/1953( trận gặp Cardiff City trên sân Old Trafford) khi chưa tròn 16 tuổi, và 8 tháng sau ông đã được chính thức kí hợp đồng cầu thủ chuyên nghiệp. Lần đầu tiên khoác áo đội tuyển Anh là khi mới 18 tuổi 183 ngày và đó chính là tuyển thủ trẻ thứ 2 của Xứ sở sương mù trong thế kỷ 20 ( kỷ lục của ông chỉ bị thần đồng Michael Owen phá sau hơn 40 năm, vào tháng 2/1998). Hôm đó, đội tuyển Anh đã thắng đối thủ truyển kiếp với tỷ số “không tưởng” 7-2

Người ta bảo, khi xem Duncan chơi bóng rồi thì chẳng muốn xem người khác thi đấu nữa. Khả năng kiểm soát bóng bằng đôi chân của ông thật khéo léo, nói đúng hơn là siêu việt! Những đường chuyềnamaux mực đã được thu băng làm giáo trình giảng dạy ở nhiều trường bóng đá ở Anh quốc; những cú sút luôn làm các thủ môn đối phương kinh hoàng bởi sức mạnh và sự chính xác đến kinh ngạc; riêng khả năng đọc thế trận của Duncan thì có một không hai: nhanh nhạy và chuẩn xác cao độ.

Trong phần lớn các trận đấu dưới màu áo MU, Duncan chơi ở vị trí tiền vệ và từ khu vực giữa sân này ông có thể dễ dàng chỉ huy hàng phòng ngự đội nhà đồng thời luôn sẵn sàng gây giông bão về phía khung thành đối phương bằng những đường chuyền dài chuẩn sác hoặc những cú dốc bóng táo bạo. Nhớ lại trận đấu cuối cùng của ông trong giải VĐQG Anh, đó là lần MU thắng Arsenal 5-4 ngay tại Highury, Duncan đã ghi bàn thắng quyết định bằng một sự tinh tế, nhạy cảm hiếm có: Thấy đồng đội Dennis Viollet đi bóng rất nhanh xuống sát góc phải khu cấm địa đối phương, từ giữa sân Duncan băng lên như một cơn lốc đón đường chuyền rồi dùng gót gẩy bóng qua tay thủ môn đội “pháo thủ” Jack Kelsey vào lưới. Một tuyệt tác! Danh thủ Terry Venables, khi dó mới 15 tuổi và đã có may mắn được chứng kién trận đấu đó, nhớ lại: “Jack Kelsey là huyền thoại của Highburym người đã mang lại rất nhiều chiến thắng cho Arsenal nhờ khả năng cứu bóng tuyệt vời, nhưng cũng đành bất lực trước pha xử lý tài tình đó của Duncan. Bàn thắng của Duncan làm tôi nhớ suốt đời. Thật mạnh mẽ, mà cũng đậm chất nghệ thuật!”

Trong tang lễ tang Duncan Edwards, HLV trưởng đội tuyển Anh khi đó, ông Walter Winterbottom, đã phát biểu:” Tính cách và tinh thần của Duncan Edwards góp công lớn trong công cuộc phục hưng bóng đá Anh!”. Sir Matt Busby thì nhận xét:” Duncan là một chàng trai dũng cảm, trung thực và cống hiến. Và có lẽ, điều cốt yếu nhất trong anh là chất Nghệ Sỹ vĩnh cửu. Chỉ có một Duncan Edwards duy nhất là mãi mãi!”.

Đôi dòng về tai nạn máy bay hôm 6/2/1958:
Ngày 6/2/1958, chiếc chuyên cơ chở toàn bộ các cầu thủ và quan chức đội bóng MU, một số nhà báo cà cổ động viên, đã rơi xuống đất sau khi gặp bão tuyết sau 3 lần cất cánh không thành ở sân bay Munich. Máy bay chở đội bóng Anh quốc quá cảnh qua đây để tiếp nhiên liệu trong chuyến trở về quê hương từ Belgrade, nơi MU đã đè bẹp đội chủ nhà Red Star Belgrade trong khuôn khổ Cúp C1 châu Âu. 23 trong tổng số 43 hành khác trên chuyến bay đã vĩnh viễn ra đi.

JakeSatan
27-12-2004, 16:20
chú gì đó ơi, có topic về mấy cha siêu sao rùi ấy, cứ vô đó mà post, lập thêm topic thì hao đất quá đó

JakeSatan
29-12-2004, 17:06
Romario quyết định từ giã sân cỏ
Romario, tiền đạo cùng tuyển Brazil giành chức vô địch World Cup 1994, mới tuyên bố anh sẽ giải nghệ vào năm tới. Tay săn bàn 38 tuổi này dự định chơi trận cuối cùng để chia tay người hâm mộ tại sân Maracana (Brazil).
Được khoác lên mình chiếc áo vàng xanh từ năm 1985, nhưng Romario chỉ thực sự nổi tiếng khi anh giúp tuyển Brazil giành chức vô địch World Cup 1994 ở Mỹ. Cũng trong năm đó, anh giành danh hiệu Cầu thủ hay nhất thế giới. Romario cũng rất nổi tiếng ở châu Âu khi thi đấu cho PSV (Hà Lan), Barcelona (Tây Ban Nha). Năm 1998, tiền đạo cao 1m69 này không được tham dự World Cup bởi một chấn thương nặng ở chân.
Ở Brazil, Romario sau đó vẫn toả sáng, và các CĐV nước này từng biểu tình đòi HLV Luiz Felipe Scolari đưa anh vào đội tuyển tham dự World Cup 2002. Tuy nhiên, Romario cuối cùng vẫn phải làm khán giả ở giải đấu đó, đành nhìn tuyển Brazil đăng quang chức vô địch thế giới lần thứ 5 ở Nhật Bản qua truyền hình. Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của Romario kết thúc ở đội bóng thuộc bang Rio de Janeiro - Fluminese.
Một trong những CĐV trung thành nhất của Romario là huyền thoại Tostao - người cùng tuyển Brazil giành Cup thế giới năm 1970. Ông cho rằng Romario là trung phong hay nhất mọi thời đại mà nền bóng đá Brazil từng sản sinh ra. Trong màu áo tuyển Brazil, Romario đóng góp 70 bàn thắng sau 87 lần ra sân, và chỉ xếp sau Vua bóng đá Pele ( 95 bàn sau 114 trận).
Trong hơn 20 năm gắn bó với trái bóng tròn, Romario đã nếm đủ vị ngọt bùi cay đắng của một cầu thủ chuyên nghiệp. Anh nổi tiếng với những pha đi bóng xuất thần và những bàn thắng đẹp, nhưng cũng nổi đình đám bởi những scandal ngoài sân cỏ. Romario hiện là cha của 5 đứa trẻ, và có tới 4 cô vợ. Hiện tại, anh chỉ muốn được ở nhà chăm sóc cô vợ Isabela đang mang bầu đứa trẻ thứ hai.

Đôi nét về Romario

Tên đầy đủ: Romario da Souza Faria
Biệt danh: Baixinho Romario (Thằng lùn)
Ngày sinh: 29/1/1966, tại Jacarezinho, Rio de Janeiro, Brazil
Chiều cao: 169cm
Cân nặng: 72Kg
Những CLB danh tiếng đã qua: Vasco de Gama, Flamengo, Valencia, Barcelona, PSV Eindhoven và Fluminese.
Danh hiệu quan trọng nhất: vô địch World Cup 1994.

cuonglongzero
29-12-2004, 19:19
Johnny Carey- Quý Ông Bóng ĐáJohnny Carey là 1 trong những thủ quân vĩ đại trong lịch sử Manchester United, 1 Roy Keane của những thập niên 1940 và 50. Với phong cách đa năng, Carey có thể chơi tốt ở cả 3 tuyến, tuy vị trí sở trường của ông là hậu vệ. Trong màu áo đội tuyển quốc gia ...
Carey là người duy nhất có cơ hội thi đấu cho cả 2 miền Nam-Bắc Ireland. Johnny Carey, tên thật là John, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1919 ở Dublin, thủ đô Ireland. Năm 17 tuổi, khi đang chơi cho đội bóng địa phương St James’ Gate, tài năng của Carey đã lọt vào mắt xanh nhà tuyển trạch MU Billy Behan. Billy Behan ngay lập tức báo cáo phát hiện mới cho cấp trên là trưởng ban tuyển trạch Louis Rocca, và rồi Rocca đã đem Carey về Old Trafford với 1 cái giá phải chăng là 250 bảng. Ngày 25/9/1937, Carey lần đầu tiên thi đấu cho MU, trong trận gặp Southampton.

Vị trí ban đầu của Carey tại MU là tiền vệ trung tâm, chơi lệch về bên trái. Tại vị trí ấy, ông phải cạnh tranh cùng đàn anh là Stan Pearson. Pearson cùng Carey luân phiên thi đấu trong đội hình chính thức của MU cho đến khi đệ nhị thế chiến bùng nổ năm 1939. Trong thời kỳ chiến tranh, Carey nhập ngũ, phục vụ tại các mặt trận Trung Đông và Italy. Tại các mặt trận ấy, ông cũng tham gia thi đấu cho 1 số CLB bóng đá địa phương. Sau ngày thế chiến kết thúc, tháng 10 năm 1945, ông trở lại khóac áo MU, lần này ở vị trí trung vệ, tuy đôi khi cũng được đẩy sang 2 cánh.


Thuộc hàng ngọai hạng so với những hậu vệ cùng thế hệ, Carey không chỉ có khả năng phán đóan vị trí tốt mà còn sở hữu 1 lối chơi fair play, “sạch sẽ” vào bậc nhất. Do lối chơi rất đẹp này mà Carey được các cổ động viên đặt cho biệt hiệu Quý Ông John. Trong sự nghiệp kéo dài 16 năm, với tư cách thủ quân, ông đã đưa MU đến với chức vô địch cúp FA năm 1948, và danh hiệu VDQG năm 1952. Về sự nghiệp quốc tế, ông có tổng cộng 27 lần khoác áo tuyển Cộng Hòa Ireland (3 bàn thắng) và 9 lần khoác áo tuyển Bắc Ireland. Năm 1947, ông được vinh dự đeo băng đội trưởng đội Các Ngôi Sao Châu Âu trong trận đấu gây quỹ cho UEFA giữa đội này và tuyển Anh. Đặc biệt, năm 1949, Carey trở thành cầu thủ MU đầu tiên được Hiệp Hội Ký Giả (FWA) trao tặng danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất nước Anh.


Sau 344 trận thi đấu cho MU, ghi 18 bàn thắng, Carey từ giã bóng đá vào tháng 5 năm 1953. Tháng 8 cùng năm, ông gây kinh ngạc khi quyết định giữ vai trò huấn luyện Blackburn Rovers, sau khi từ chối lời mời làm HLV trưởng ở Old Trafford. Carey sau đó lần lượt nắm quyền huấn luyện Everton, Leyton Orient, và Nottingham Forest, trước khi quay trở lại Blackburn vào năm 1968. Năm 1971, sau khi bị Blackburn sa thải, Carey chính thức nghỉ hưu. Ngày 22 tháng 2 năm 1995, ông qua đời ở tuổi 76.

Vài thông số về Johnny Carey trong thời kỳ thi đấu cho MU

Số trận đấu/Bàn thắng

VDQG: 306/17
Cúp FA: 38/1
Tổng cộng:344/18

Danh hiệu:

1948 FA Cup
1952 VDQG

cuonglongzero
29-12-2004, 19:22
Cỗ Máy Săn Bàn Dennis Viollet
Tại mùa bóng 1959/1960, Dennis Viollet 32 lần phá lướI đốI phương chỉ trong 36 trận ra sân. Từ thuở MU ra đờI vớI cái tên Newton Heath cho đến thờI điểm ấy, chưa ai ...
đạt đến kỷ lục ghi bàn này. Và từ thờI điểm ấy cho đến nay, 44 năm trôi qua, kỷ lục này vẫn sừng sững vì chưa ai phá nổi. Những Vua Phá LướI gần đây nhất của MU là Dwight Yorke và Ruud Van Nistelrooy, chỉ lần lượt ghi được có 18 và 25 bàn, so vớI con số 32 thì còn thua kém nhiều lắm.

Dennis Viollet sinh ngày 20-9-1933 tạI Manchester, và trưởng thành ngay tạI lò đào tạo trẻ của MU, thế hệ Busby Babes. Năm 1953, ông được thăng lên độI lớn để thay thế tiền đạo lão tướng Stan Pearson, và thi đấu trận ra mắt gặp Newcastle vào ngày 11-4. Trong mùa giảI ấy, Viollet được xếp đá cặp cùng Tommy Taylor. Kể từ đó, 2 ngườI hợp thành 1 cặp “bài trùng hủy diệt”, gieo rắc kinh hoàng trên sân cỏ Anh và châu Âu trong suốt 5 năm, cho đến ngày Tommy Taylor tử nạn. Hiệu suất ghi bàn của Taylor là 0,5 bàn 1 trận, còn của Viollet là 0.6; không nghi ngờ gì, họ chính là cặp tiền đạo ăn ý và hiệu quả nhất trong lịch sử United, ngay đến cặp Cole-Yorke những năm cuốI thập niên 1990 cũng không sánh bằng.

Nhìn dáng điệu nhỏ nhắn gầy ốm của Viollet, ban đầu các hậu vệ đốI phương đều ra vẻ coi thường, và chính sự coi thường này bắt họ phảI trả giá thật đắt. Nhưng ngay cả khi không chủ quan đi nữa thì cũng khó mà ngăn cản được Viollet. VớI khả năng kiểm soát bóng nhanh nhạy và tốc độ nhanh như “ánh sáng”, ông dễ dàng xuyên thủng các hàng phòng thủ, như 1 lưỡI gươm đâm xuyên mọI chướng ngạI, để lạI các trung vệ địch “hít bụI” ở sau lưng. Điểm yếu duy nhất của Viollet là đánh đầu không giỏI, nhưng 1 khi đã có đốI tác là “NgườI Hùng Trên Không” Tommy Taylor(*) ở bên cạnh thì điểm yếu đó cũng không đáng quan tâm. 1 trong những pha dàn xếp quen thuộc giữa 2 tiền đạo này là khi bóng được chuyền bổng vào vùng cấm địa, Taylor sẽ bật cao không chiến cùng các hậu vệ, dùng đầu găm bóng xuống cho Viollet ghi bàn. Chính vì Taylor bổ sung cho nhược điểm của Viollet và ngược lạI, nên khi kết hợp vớI nhau thì cả 2 tạo thành 1 cặp bài trùng vô cùng hoàn hảo.

Cặp bài trùng Viollet-Taylor góp công rất lớn đưa United đến 2 chức vô địch quốc gia liên tiếp vào các năm 1956 và 1957. Khi đã thống trị đấu trường quốc nộI, giấc mộng vinh quang của họ bắt đầu hướng ra châu Âu. Trong trận tứ kết cúp C1 năm 1958 giữa MU và Red Star Belgrade, Viollet là 1 trong những cầu thủ ra sân tạI Nam Tư, và chính ông ghi 1 bàn trong kết quả hòa 3-3 của trận ấy. Có ai ngờ chuyến trở về từ đất nước Đông Âu cũng đánh dấu luôn sự chia cắt âm dương giữa 2 tiền đạo ăn ý nhất nước Anh. Taylor qua đờI, còn Viollet sống sót vớI thương tích nặng.

Ban đầu, ai cũng ngỡ thương tích Munich sẽ chấm dứt luôn sự nghiệp của Viollet, nhưng ông ra sức cố công tập luyện và cuốI cùng trở lạI được sân cỏ. Đến đây, lạI nảy sinh 1 nghi ngờ mớI: không có Taylor thì Viollet sẽ thi đấu sao đây, có còn hiệu quả được như xưa? Nhưng mốI nghi ngờ nhanh chóng bị đập tan khi Viollet lên ngôi Vua Phá LướI giảI VDQG Anh mùa 1959-60, vớI kỷ lục ghi bàn đã nêu trên. Nếu xét về tổng số bàn thắng trong thờI kỳ thi đấu cho MU, thì còn nhiều ngườI hơn Viollet, như George Best và Denis Law chẳng hạn, Law thậm chí có lần còn lập kỷ lục ghi 5 hat-trick chỉ trong 1 mùa, nhưng nếu chỉ xét về số bàn thắng trong riêng 1 mùa bóng thôi thì Viollet giữ vị trí độc tôn.

Tuy nhiên, thật đáng ngạc nhiên là trong cặp bài trùng Viollet-Taylor thì chỉ có Taylor là được trọng dụng tạI độI tuyển quốc gia. Có lẽ là do Viollet không phù hợp vớI lốI chơi lật cánh đánh đầu truyền thống chăng? 2 năm sau khi Taylor qua đờI, Viollet mớI lần đầu tiên được khoác áo tuyển Anh, và số lần khoác áo độI tuyển của ông cũng chỉ dừng ở con số 2. Chỉ 2 trận thôi, nhưng cũng kịp ghi 1 bàn thắng.

Sau kỷ lục độc nhất vô song ở mùa giảI 1960, phong độ của Viollet có phần kém sút. Điều này cũng dễ hiểu, bởI vì đỉnh cao chính là “đêm trước” của sự xuống dốc, và 1 khi tinh hoa đã phát tiết cả rồI thì sẽ chẳng còn gì nữa. Năm 1962, trong công cuộc tái thiết MU, ngài Matt Busby đẩy Viollet sang Stoke City. Sau đó, ông chuyển sang Ireland thi đấu cho Linfield, trước khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ và trở thành HLV cho NASL tạI Mỹ. Viollet qua đờI vào tháng 3 năm 1999, hưởng thọ 65 tuổi. Nhắc về ông, cựu đồng đội Bobby Charlton ca ngợi “Kỷ lục của anh vẫn còn đó, và đấy chính là cách tốt nhất để tưởng nhớ anh”

Vài thông số về Viollet trong thờI gian ở MU:

Số trận đấu/ Số bàn thắng:

VDQG 259/159
FA Cup 18/5
League Cup 2/1
Cúp Châu Âu 12/13
Tổng cộng 291/178

Các danh hiệu:

1956: VDQG
1957:VDQG

cuonglongzero
29-12-2004, 19:24
Thợ Mỏ Một Đời Vì Sắc Đỏ
Đó chính là trung vệ Bill Foulkes, người từ địa vị công nhân mỏ than đã trở thành 1 thành viên trong thế hệ Busby Babes. Foulkes là tấm gương cho sự trung thành với màu cờ sắc áo. Trong suốt 20 năm sự nghiệp, ông chỉ duy nhất thi đấu cho MU mà thôi.William Anthony Foulkes, thường gọi Bill, sinh ngày 5 tháng 1 năm 1932 tại St.Helens, Lancashire, trong 1 gia đình công nhân.

Do gia cảnh khó khăn nên ngay từ khi còn niên thiếu, Foulkes đã phải xin vào làm thợ mỏ than để kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Năm 1950, ông ký hợp đồng với MU với tư cách cầu thủ nghiệp dư. Trong suốt thời gian tập sự tại Old Trafford, Foulkes vừa chơi bóng vừa tiếp tục công việc trong hầm mỏ. Ông không dám bỏ mỏ than vì sợ sẽ bơ vơ không nghề nghiệp nếu rủi mà không được MU tuyển chọn vào đội hình. Năm 1951, khi đã được chính thức đưa vào danh sách cầu thủ chuyên nghiệp, Foulkes vẫn cẩn trọng chưa rời mỏ. Ông chỉ chính thức từ bỏ vai trò công nhân vào năm 1952, khi đã cảm thấy hoàn toàn yên tâm rằng nghề bóng đá có thể nuôi sống được mình.

Trong trận đầu tiên khóac áo MU, ngày 13/12/1952 gặp Liverpool, Foulkes được bố trí chơi bên cánh phải. Nhưng đến khoảng giữa mùa bóng ấy, ông được huấn luyện viên đưa vào trong đá trung vệ, vị trí ông giữ mãi cho đến cho tới ngày treo giày. Cao to và mạnh mẽ, Foulkes như 1 bức tường thép đứng tấn trước vòng cấm địa, thân thể Foulkes rắn chắc như đá tổ ong nơi mỏ than ông từng lao động bao năm. Cứ như nhận xét của nhiều người, thì với lối chơi đầy thể lực, Foulkes lẽ ra nên chơi… bóng bầu dục thay vì bóng đá. Dù là trên không hay dưới đất, nếu tiền đạo đối phương mà khôn ngoan thì ít ai dám trực diện va chạm cùng ông.

Là 1 trong những người sống sót sau thảm họa Munich, Bill Foulkes giữ vai trò thủ quân của 1 MU mới sau năm 1958. Ông cùng Quỷ Đỏ giành 4 danh hiệu VDQG vào các năm 1956, 1957, 1965, và 1967. Người hậu vệ kiên cường này cũng từng tham gia 3 trận chung kết cúp FA, 2 lần thất bại vào các năm 1957 và 1958, nhưng chiến thắng năm 1963 (hạ Leicester 3-1). Thành tích cao quý nhất của Foulkes dĩ nhiên là danh hiệu vô địch châu Âu cấp CLB, cúp C1 năm 1968. Trong giải đấu năm đó, chính ông là người ghi bàn quyết định giúp MU vượt qua Real Madrid để vào tranh chung kết cùng Benfica. Tuy nhiên, chiến tích cùng câu lạc bộ của Foulkes thì nhiều như thế, nhưng cùng đội tuyển quốc gia thì lại chẳng có gì. Bill Foulkes, Dennis Viollet, và Steve Bruce là 3 huyền thọai của MU không có duyên với tuyển Anh. Steve Bruce không được tuyển lần nào, Dennis Viollet 2 lần, còn Foulkes thì ở giữa, tức 1 lần duy nhất.

Sau chiến thắng tại Cúp C1, Foulkes dự định giã từ bóng đá. Ông cảm thấy mình không còn mục tiêu nào nữa để phấn đấu, vả lại tuổi 36 cũng đã quá cao. Có điều do chưa ai qua mặt nổi Foulkes, nên ngài Matt Busby đã ra sức thuyết phục ông ở lại thêm 2 năm nữa. Nể Busby, Foulkes tiếp tục thi đấu đến năm 1970. Cho đến ngày từ giã sân cỏ, ông thi đấu cho Mu tổng cộng 679 trận, trong đó chỉ có 3 trận ra sân từ băng ghế dự bị. Đặc biệt trong các mùa bóng 1957-58, 59-60, 63-64, 64-65, Foulkes xuất phát trong TẤT CẢ CÁC TRẬN MU chơi trong mùa. Chơi với một 1 mật độ dày đặc như thế mà lại không hề chấn thương, thể lực của Foulkes phải nói là…kinh khủng.

Sau khi treo giày, Bill Foulkes được bổ nhiệm làm HLV đội trẻ tại MU. Những năm sau đó, ông phiêu lưu huấn luyện khắp nơi, từ Mỹ cho đến Na Uy, Nhật Bản. Năm 1992, Foulkes trở lại Anh và từ đó trở đi không còn họat động nhiều trong lĩnh vực bóng đá.

Vài thông số về Foulkes trong thời gian thi đấu cho MU:

Số trận đấu/Số bàn thắng

VDQG 563 7
FA Cup 61 0
League Cup 3 0
Cúp châu ÂU 52 2
Tổng cộng 679 9

Danh hiệu

1968 Cúp C1
1967 VDQG
1965 VDQG
1963 F.A. Cup
1957 VDQG
1956 VDQG

cuonglongzero
29-12-2004, 19:27
Chàng Thợ Mỏ Một Đời Vì Sắc Đỏ
Đó chính là trung vệ Bill Foulkes, người từ địa vị công nhân mỏ than đã trở thành 1 thành viên trong thế hệ Busby Babes. Foulkes là tấm gương cho sự trung thành với màu cờ sắc áo. Trong suốt 20 năm sự nghiệp, ông chỉ duy nhất thi đấu cho MU mà thôi.William Anthony Foulkes, thường gọi Bill, sinh ngày 5 tháng 1 năm 1932 tại St.Helens, Lancashire, trong 1 gia đình công nhân.

Do gia cảnh khó khăn nên ngay từ khi còn niên thiếu, Foulkes đã phải xin vào làm thợ mỏ than để kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Năm 1950, ông ký hợp đồng với MU với tư cách cầu thủ nghiệp dư. Trong suốt thời gian tập sự tại Old Trafford, Foulkes vừa chơi bóng vừa tiếp tục công việc trong hầm mỏ. Ông không dám bỏ mỏ than vì sợ sẽ bơ vơ không nghề nghiệp nếu rủi mà không được MU tuyển chọn vào đội hình. Năm 1951, khi đã được chính thức đưa vào danh sách cầu thủ chuyên nghiệp, Foulkes vẫn cẩn trọng chưa rời mỏ. Ông chỉ chính thức từ bỏ vai trò công nhân vào năm 1952, khi đã cảm thấy hoàn toàn yên tâm rằng nghề bóng đá có thể nuôi sống được mình.

Trong trận đầu tiên khóac áo MU, ngày 13/12/1952 gặp Liverpool, Foulkes được bố trí chơi bên cánh phải. Nhưng đến khoảng giữa mùa bóng ấy, ông được huấn luyện viên đưa vào trong đá trung vệ, vị trí ông giữ mãi cho đến cho tới ngày treo giày. Cao to và mạnh mẽ, Foulkes như 1 bức tường thép đứng tấn trước vòng cấm địa, thân thể Foulkes rắn chắc như đá tổ ong nơi mỏ than ông từng lao động bao năm. Cứ như nhận xét của nhiều người, thì với lối chơi đầy thể lực, Foulkes lẽ ra nên chơi… bóng bầu dục thay vì bóng đá. Dù là trên không hay dưới đất, nếu tiền đạo đối phương mà khôn ngoan thì ít ai dám trực diện va chạm cùng ông.

Là 1 trong những người sống sót sau thảm họa Munich, Bill Foulkes giữ vai trò thủ quân của 1 MU mới sau năm 1958. Ông cùng Quỷ Đỏ giành 4 danh hiệu VDQG vào các năm 1956, 1957, 1965, và 1967. Người hậu vệ kiên cường này cũng từng tham gia 3 trận chung kết cúp FA, 2 lần thất bại vào các năm 1957 và 1958, nhưng chiến thắng năm 1963 (hạ Leicester 3-1). Thành tích cao quý nhất của Foulkes dĩ nhiên là danh hiệu vô địch châu Âu cấp CLB, cúp C1 năm 1968. Trong giải đấu năm đó, chính ông là người ghi bàn quyết định giúp MU vượt qua Real Madrid để vào tranh chung kết cùng Benfica. Tuy nhiên, chiến tích cùng câu lạc bộ của Foulkes thì nhiều như thế, nhưng cùng đội tuyển quốc gia thì lại chẳng có gì. Bill Foulkes, Dennis Viollet, và Steve Bruce là 3 huyền thọai của MU không có duyên với tuyển Anh. Steve Bruce không được tuyển lần nào, Dennis Viollet 2 lần, còn Foulkes thì ở giữa, tức 1 lần duy nhất.

Sau chiến thắng tại Cúp C1, Foulkes dự định giã từ bóng đá. Ông cảm thấy mình không còn mục tiêu nào nữa để phấn đấu, vả lại tuổi 36 cũng đã quá cao. Có điều do chưa ai qua mặt nổi Foulkes, nên ngài Matt Busby đã ra sức thuyết phục ông ở lại thêm 2 năm nữa. Nể Busby, Foulkes tiếp tục thi đấu đến năm 1970. Cho đến ngày từ giã sân cỏ, ông thi đấu cho Mu tổng cộng 679 trận, trong đó chỉ có 3 trận ra sân từ băng ghế dự bị. Đặc biệt trong các mùa bóng 1957-58, 59-60, 63-64, 64-65, Foulkes xuất phát trong TẤT CẢ CÁC TRẬN MU chơi trong mùa. Chơi với một 1 mật độ dày đặc như thế mà lại không hề chấn thương, thể lực của Foulkes phải nói là…kinh khủng.

Sau khi treo giày, Bill Foulkes được bổ nhiệm làm HLV đội trẻ tại MU. Những năm sau đó, ông phiêu lưu huấn luyện khắp nơi, từ Mỹ cho đến Na Uy, Nhật Bản. Năm 1992, Foulkes trở lại Anh và từ đó trở đi không còn họat động nhiều trong lĩnh vực bóng đá.

Vài thông số về Foulkes trong thời gian thi đấu cho MU:

Số trận đấu/Số bàn thắng

VDQG 563 7
FA Cup 61 0
League Cup 3 0
Cúp châu ÂU 52 2
Tổng cộng 679 9

Danh hiệu

1968 Cúp C1
1967 VDQG
1965 VDQG
1963 F.A. Cup
1957 VDQG
1956 VDQG

cuonglongzero
29-12-2004, 20:02
xiin lổi nhan
tui post tiếp nhưng mà không được không hiểu vì sao nữa

cuonglongzero
31-12-2004, 10:55
Billy Meredith-Phù Thủy Trên Đường Biên
(MU.VN) Ryan Giggs trước nay vẫn nổi danh với biệt hiệu "chàng phù thủy xứ Wales".Tốc độ nước rút, cùng với phong cách kỹ thuật lắt léo của Giggs đã đưa anh lên vị trí 1 trong những cầu thủ chạy cánh kinh điển trong lịch sử bóng đá thế giới. Tuy nhiên,"chàng phù thủy xứ Wales" đầu tiên của Manchester United đã tung hòanh trên đường biên hơn 60 năm trước khi Giggs cất tiếng khóc chào đời. "Phù thủy" ấy chính là Billy Meredith.

Meredith là 1 danh thủ lắm tài nhiều tật, phong cách chơi của ông tương tự Ryan Giggs hay George Best, nhưng tính cách thì lại giống với... Eric Cantona.Biệt danh của ông là "Lão gầy", do thân hình khá thư sinh, mảnh dẻ.Có điều đừng thấy Meredith có vẻ ốm yếu mà coi thường, tốc độ của "Lão gầy" ấy nhanh như tên lửa. 1 khi ông đã tăng tốc thì luôn xé nát đường biên của đối phương, và 1 khi ông chuyền bóng thì đó đều là những đường kiến thiết lợi hại chết người.

William Henry Meredith, thường gọi Billy, sinh ngày 30-7-1874 tại Black Park, xứ Wales, khởi nghiệp cầu thủ tại Northwich Victoria, sau đó chuyển sang Wrexham.Năm 1894, ông về thi đấu cho Manchester City và bắt đầu gây dựng tên tuổi tại đây.Meredith cùng với City 2 lần vô địch giải hạng nhì vào các năm 1899 và 1903.Năm 1904 đánh dấu kỷ niệm đáng nhớ của Meredith khi ông, với tư cách thủ quân, dẫn dắt City giành chức vô địch Cúp FA cao qúy.Đáng buồn thay, chỉ 1 năm sau,Meredith bị Liên Đoàn Bóng Đá Anh buộc tội đã mua độ 1 cầu thủ Aston Villa.Mặc dù luôn khẳng định mình vô can, ông và tòan đội Manchester City vẫn bị cấm thi đấu 1 năm. Sau khi hạn treo giò chấm dứt, ông gây chấn động làng bóng đá Anh, khi chuyển từ City sang đội bóng kỳ phùng địch thủ MU. Lần đầu tiên Meredith khóac áo MU là trong trận đấu gặp Aston Villa vào ngày 1-1-1907.

Dưới quyền chỉ đạo của HLV Ernest Mangall, Billy Meredith là nguồn cảm hứng đưa United đến vinh quang.Năm 1908,ông cùng MU giành được chức VDQG đầu tiên trong lịch sử, năm 1909 là cúp FA đầu tiên.Năm 1911, Meredith lại gíup MU VDQG lần thứ 2.

Trong thời gian ở MU, Meredith không chỉ tích cực trên sân cỏ mà còn hăng hái tham gia các họat động bảo vệ quyền lợi của giới cầu thủ. Năm 1907, ông trở thành 1 trong những sáng lập viên của Công Đòan Cầu Thủ Anh, 1 tổ chức bị Liên Đòan Bóng Đá(FA) đặt ra...."ngòai vòng pháp luật".Dưới sức ép của FA, nhiều cầu thủ đã phải từ bỏ Công Đòan, nhưng Meredith vẫn "vững như bàn thạch", ông cùng với đồng đội Charlie Roberts là 2 tên tuổi đi đầu trong những cuộc tranh đấu. 2 ông lại cùng nhau lập ra "Hội Ngọai Hạng", gồm những cầu thủ United không muốn tuân theo các luật lệ của FA. Công sức của Meredith rốt cuộc đã đơm hoa kết quả vào năm 1910, khi FA buộc phải công nhận sự có mặt hợp pháp của Công Đòan Cầu Thủ.

Khi đệ nhất thế chiến bùng nổ vào năm 1914, sự nghiệp của Meredith bị gián đọan.Ông trở lại sân cỏ vào năm 1918, lúc chiến tranh đã kết thúc. Ở tuổi 44, dĩ nhiên Meredith không bao giờ tìm lại được phong độ xưa.Năm 1921, ông trở về thi đấu cho CLB cũ Manchester City.Năm 1924,ở tuổi gần 50, ông lập kỷ lục cầu thủ già nhất từng thi đấu trong 1 trận bán kết cúp FA. Cùng năm ấy,ông giã từ bóng đá, sau 1 sự nghiệp kéo dài hơn 30 năm, với gần 200 bàn thắng.

Với đội tuyển xứ Wales, Meredith thi đấu tổng cộng 48 trận, ghi được 11 bàn. Lần cuối cùng ông chơi cho xứ Wales là vào năm 1923, khi đã hơn 48 tuổi, lập kỷ lục cầu thủ già nhất trong màu áo 1 đội tuyển quốc gia.

Những năm cuối đời, Meredith dường như nhận được những năng lực lạ kỳ từ 1 cõi hư vô nào đó.Khi thảm họa Munich xảy ra vào tháng 2 năm 1958, Meredith cho biết mình đã nghe thấy tiếng máy bay rơi, dù lúc ấy ông đang ở Anh.Vài tháng sau, Meredith cũng trút hơi thở cuối cùng.

Vài thông số của Meredith trong thời gian khóac áo MU:

Số trận/Số bàn thắng
VDQG 303/35
FA Cup 29/0
tổng cộng 332/35
(Thời của Meredith chưa có League Cup)
Danh hiệu:
1908: VDQG
1909: FA Cup
1911: VDQG

cuonglongzero
31-12-2004, 11:01
Mark Hughes-Chuyên gia ngả bóng bàn đèn !Nhắc đến các tiền đạo hàng đầu trong kỷ nguyên bóng đá hiện đại vương quốc Anh, không ai có thể bỏ qua được Mark Hughes, chuyên gia của những cú volley “ngả bàn đèn” ngọan mục.
Hughes không phải là mẫu tiền đạo chuyên săn bàn, song khả năng kiến thiết bóng của ông thuộc vào lọai nhất hạng. Kỹ thuật cá nhân của Hughes cũng không quá xuất sắc, nhưng khả năng cầm, che, và giữ bóng thì khó ai sánh bằng. Hughes là 1 mắt xích cực kỳ quan trọng trong lối chơi phản công nhanh của MU vào cuối những năm 1980 đầu 1990. Mỗi khi các hậu vệ áo đỏ cướp được bóng, họ thường chuyền lên cho Hughes, ông giữ vai trò cầm banh, thu hút hàng thủ đối phương, để các đồng đội có thời cơ băng lên chiếm giữ những vị trí xung yếu. Ngòai sân cỏ, Hughes là người trầm tĩnh, điềm đạm, nhưng trong khi thi đấu thì cũng dũng mãnh chẳng kém chi ai, có những cầu thủ như Hughes thì các trận đấu sẽ chẳng bao giờ nhàm chán.

Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1963 tại Wrexham, Wales, Mark Leslie Hughes được đào tạo ngay chính tại đội trẻ của Manchester United. Năm 1983, Hughes được thăng lên đội 1, thi đấu trận đầu tiên vào ngày 26 tháng 10 gặp Port Vale. 2 năm sau, MU giành chức vô địch cúp FA, còn bản thân Hughes được nhận danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất nước Anh do Hiệp Hội Các Cầu Thủ Nhà Nghề (PFA) trao tặng. Danh hiệu này hết sức xứng đáng, do Hughes đã thi đấu xuất sắc và ghi được cả thảy 17 bàn trong mùa 1985/1986.( trong suốt những năm còn lại của sự nghiệp, số bàn thắng trong 1 năm của ông không bao giờ đạt được con số này 1 lần nữa). Các CLB lớn của Châu Âu tranh nhau chữ ký của Mark Hughes, và chính Hughes cũng mong muốn được phiêu lưu tại 1 môi trường mới. Năm 1986, ông chuyển sang Barcelona với giá 2 triệu bảng.

Dường như có 1 cái “dớp” cho các ngôi sao của MU, rằng hễ họ mà rời Old Trafford thì sẽ không còn giữ được phong độ, Mark Hughes cũng không là ngọai lệ. Mùa bóng đầu tiên của ông tại Nou Camp là 1 thảm họa, thi đấu 28 trận chỉ ghi vỏn vẹn được 4 bàn. Sang đến mùa 1987-1988, ông chơi cho Bayern Munich theo hợp đồng cho mượn, thành tích có khá hơn chút ít, với 18 trận và 6 bàn, nhưng so với thời kỳ còn ở MU thì vẫn là quá kém cỏi. Thất vọng vì Hughes, Barcelona rao bán ông sau mùa bóng 1988, và người đầu tiên xếp hàng chờ mua, không ai khác, chính là…ngài Alex Ferguson. Tiền chuyển nhượng lần này là 1 triệu 6, như vậy tổng cộng Hughes rớt giá 400 000 bảng.

Trở lại Old Trafford, Mark Hughes như cá lại về sông, ông lại tiếp tục phong độ chói sáng, với những đường chuyền sắc sảo, và những cú “ngả bàn đèn” tuyệt vời. Phong độ ấy đã đem lại cho Hughes 2 danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Nước Anh của PFA vào các năm 1989 và 1991. Fan MU mê say các bàn thắng đẳng cấp của Hughes, trong số đó có cú sút từ góc cực hẹp trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1991, đem về thắng lợi cho MU trước Barcelona, cú lốp bóng từ khỏang cách 25 mét tại trận gặp Manchester City năm 1989, và pha volley kinh điển vào phút cuối cùng, gỡ hòa cho Quỷ Đỏ trước Oldham trong trận bán kết cúp FA năm 1994.

Từ đầu thập niên 1990 trở đi, Mark Hughes cùng MU giành hàng lọat danh hiệu: Cúp FA 1990(Hughes ghi bàn trong trận chung kết MU-Crystal Palace 1-0), cúp C2 và Siêu Cúp châu Âu 1991, League Cup 1992. Từ khi Eric Cantona đến Old Trafford, những thành tích lại càng nhiều thêm , với 2 chức VDQG năm 1993 và cú đúp năm 1994. Tuy không mấy ưa nhau, nhưng trên sân cỏ thì Hughes và Cantona luôn là 1 cặp bài trùng ăn ý. Cặp bài trùng tan rã vào năm 1995, khi ngài Alex Ferguson quyết định trẻ hóa đội hình và đẩy Mark Hughes, lúc ấy phong độ vẫn rất cao, sang Chelsea.

Suốt trong 1 thập kỷ, Mark Hughes là 1 tượng đài ở Old Trafford, chính vì vậy quyết định bán ông đã gây nên không ít ngạc nhiên, và cả phẫn nộ, cho các fan hâm mộ. Nhưng rồi thời gian đã chứng tỏ quyết định này không gây tổn hại gì đến cả 2 phía, MU vẫn tiếp tục thành công mà không có Hughes, còn Hughes cũng vẫn tỏa sáng tại Chelsea, những bàn thắng của ông có ít đi, nhưng khả năng cầm bóng và kiến tạo vẫn còn đó. Tại Chelsea, Hughes giành thêm 2 cúp FA, và trở thành cầu thủ duy nhất tại Anh 4 lần đọat cúp này. Rời Chelsea năm 1998, ông lần lượt thi đấu cho Southampton (98-00), Everton (00-01) và Blackburn(01-02), trước khi giã từ sân cỏ ở tuổi 39. Trong những năm cuối đời cầu thủ, Hughes chủ yếu giữ vai trò dự bị chiến lược.

Điều đáng tiếc nhất trong đời Mark Hughes là chưa bao giờ được tham dự 1 giải đấu lớn như World Cup hay Euro, do đội tuyển xứ Wales quá yếu. Ông khóac áo Wales suốt 17 năm, từ 1983 đến 2000, thi đấu 72 trận và ghi được 16 bàn thắng. Từ năm 1999 đến 2004,Mark Hughes cũng đảm nhận luôn cương vị HLV đội tuyển xứ Wales.Tháng 9 năm 2004, ông ký hợp đồng dẫn dắt CLB Blackburn Rovers.

Vài thông số về Hughes trong thời kỳ thi đấu cho MU:

Số trận đấu/Số bàn thắng
VDQG 336 120
FA Cup 45 17
League Cup 37 16
Cúp châu Âu 30 9
Tổng cộng 448 162

Danh hiệu:

1985 FA Cup
1990 FA Cup
1991 Cúp C2
1991 Siêu Cúp Châu Âu
1992 League Cup
1993 VDQG
1994 VDQG
1994 FA Cup

cuonglongzero
31-12-2004, 11:05
David Beckham- Sự Kết Hợp Giữa Ngôi Sao Bóng Đá Và Biểu Tượng Thương Mại
Không phải giỏi nhất, nhưng David Beckham là cầu thủ nối tiếng nhất, và cũng giàu có nhất trong thế giới bóng đá hiện đại. Trong các vận động viên thể thao, không có ai được thần tượng hoá đến cuồng nhiệt như anh, không có ai được nhắc đến hằng ngày trên mặt báo như anh.
Mỗi lần anh thay đổi kiểu tóc, mỗi lần anh đi shopping, tất cả đều trở thành những sự kiện thu hút sự chú ý… trên toàn cầu. Tại Manchester United, David Beckham không chỉ đơn thuần là 1 cầu thủ, anh đã trở thành 1 biểu tượng thể thao, cũng như 1 biểu tượng thương mại cực kỳ ăn khách trên khắp 5 châu. Khuôn mặt điển trai hấp dẫn, hôn ước với cựu thành viên Spice Girls Victoria Adams, cùng lối sống rất xa xỉ kiểu siêu sao khiến anh đã lừng danh lại càng thêm nổi tiếng. Nhưng nổi tiếng quá cũng có cái hại, và trong mắt không ít người, Beckham đã trở thành 1 nhãn hiệu tiếp thị hơn là 1 cầu thủ bóng đá, những họat động quảng cáo, những cuộc tiệc tùng chưng diện đôi khi đã làm lu mờ cả các thành tích thể thao của anh. Cũng chính vì Beckham ở trên đỉnh cao danh vọng, nên bất kỳ 1 sai lầm hay thất bại nào của anh cũng trở thành mục tiêu xoi mói, mổ xẻ, “bé xé ra to”. Có thể nói những lời ngợi ca dành cho anh thì quá nhiều, mà chỉ trích thì cũng không phải ít. Nhưng thôi, hãy cứ bỏ ngoài tai những chuyện thị phi, và chỉ chú tâm đến lãnh vực chuyên môn, đến 1 Beckham cầu thủ.

Vâng, không cần tới những ánh hào quang hậu trường, Beckham vẫn là 1 trong những cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử MU. Ở vị trí tiền vệ cánh phải, khả năng kiến thiết bóng của anh phải gọi là…trên cả tuyệt vời. Những đường chuyền dài do Beckham thực hiện chính xác đến từng ly, và những cú lật bóng bên biên phải của anh luôn nguy hiểm chết người. Ở thời kỳ hoàng kim tại MU, Beckham được coi là cầu thủ tạt bóng số 1 trên thế giới, mỗi lần anh tạt bóng là mỗi lần khung thành đối phương chao đảo. Bất kể là Cole, Yorke, Nistelrooy, hay 1 tiền đạo nào khác của MU, ai cũng đều muốn chơi cùng Beckham, vì mỗi đường chuyền của Beckham thường tìm đến rất đúng chỗ của tiền đạo, chứ không bắt họ phải di chuyển để bắt kịp. Tỷ lệ chuyền bóng thành bàn của Beckham là cao nhất ở nước Anh.Bên cạnh đó, với không ít người, Beckham cũng là cầu thủ đá phạt hay nhất thế giới. Những cú sút xoáy vòng, đưa bóng vọt qua hàng rào phòng thủ đối phương rồi rơi đúng vào góc thượng khung thành là 1 “sản phẩm độc quyền” của anh. Rất, rất nhiều lần anh đã ghi những bàn thắng tuyệt đẹp như thế.

Dĩ nhiên, là cầu thủ thường chẳng có ai hoàn hảo, điểm yếu của Beckham là kỹ thuật cá nhân không cao. Tuy thế, cũng không nên quá cầu toàn, có được kỹ năng chuyền bóng và sút phạt như anh cũng đã là quá đủ cho 1 tiền vệ.

David Robert Joseph Beckham sinh ngày 2 tháng 5 năm 1975 tại Leytonstone, London. Năm 1986, ở tuổi 11, anh giành giải nhất trong cuộc thi năng khiếu bóng đá nhi đồng mang tên Bobby Charlton Soccer Skills, và do đó lọt vào tầm ngắm của các nhà tuyển trạch Manchester United. Năm 12 tuổi, anh đã được ngài Alex Ferguson đánh giá là 1 ngôi sao tương lai. Có điều, do bị gia đình buộc phải học xong trung học, mãi đến năm 1991, Beckham mới ký hợp đồng tập sự cùng MU. Ngày 23 tháng 9 năm 1992 đánh dấu lần đầu tiên anh được chơi ở đội lớn, khi ra sân với tư cách cầu thủ dự bị trong trận gặp Brighton. Tuy nhiên, phải đợi tới 2 năm sau, Beckham mới lần đầu được ra quân trong đội hình chính thức của Quỷ Đỏ, trong trận gặp Galatasaray vào tháng 11-1994.

Sau trận ra quân ấy, Beckham chuyển tới Preston NE theo hợp đồng cho mượn. Anh thi đấu 5 trận tại đây trước khi trở về Old Trafford vào tháng 4-1995. Trận gặp Leeds cùng tháng chính là trận đầu tiên anh chơi đủ 90 phút ở giải ngoại hạng. Sang đến năm 1996, sau sự ra đi của Andrei Kanchelskis, Beckham được ngài Ferguson tín nhiệm giao trấn giữ hành lang phải, mặc dầu vị trí ưa thích của anh là tiền vệ trung tâm. Anh đã hoàn thành xuất sắc trách nhiệm, và góp công đưa MU giành cú đúp VDQG cùng cúp FA. Trong trận bán kết cúp FA gặp Chelsea, chính Beckham là người ghi bàn gỡ hoà.

Beckham thật sự vươn lên hàng ngũ siêu sao trong mùa 1996-1997, sau bàn thắng “không tưởng” từ cú lốp bóng… 55m tung lưới Wimbledon. Cho đến nay, đây vẫn là bàn thắng đẹp nhất trong sự nghiệp của anh. Mùa bóng tiếp tục với Beckham cùng những màn trình diễn tuyệt vời và những cú sút xa ngoạn mục. Phần thưởng cho anh là danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất Nước Anh, cùng chức VDQG lần thứ 2 liên tiếp. Cũng năm 1997, anh bắt đầu quen Victoria Adams, nhờ Adams, Beckham bắt đầu nổi tiếng trong ngành công nghiệp giải trí, và nhờ Beckham, Adams được biết đến nhiều hơn trong lãnh vực thể thao. Danh tiếng của cả hai đều được nâng cao nhờ mối tình lãng mạn.

Sau mùa bóng 1998 đầy thất vọng, Beckham đạt đến đỉnh cao phong độ của mình. Chưa bao giờ anh lại chơi hay đến như mùa 1998-99, và từ đó đến nay, phong độ ấy vẫn chưa lập lại. Danh hiệu Vua Đá Phạt Của Beckham được khẳng định với hàng loạt các cú sút siêu đẳng vào lưới Leicester, Aston Villa, Barcelona, Brondby, và Everton. Những bàn thắng quan trọng của MU trước Inter Milan, Liverpool, và Barcelona đều xuất phát từ những đường kiến thiết của anh. Đích thân Beckham cũng ghi những bàn quan trọng từ các pha bóng sống, chẳng hạn như bàn thắng trong trận bán kết cúp FA với Arsenal, hay trong trận quyết định ngôi VDQG với Totteham. Trong lần gặp gỡ không thể nào quên với Bayern Munich ở chung kết Champions League, cả 2 bàn thằn Quỷ Đỏ ghi được đều xuất phát từ các quả phạt góc do Beckham thực hiện. Năm 1999 kết thúc với Beckham và MU trên đỉnh cao của thế giới, cùng 4 danh hiệu VDQG, Cúp FA, Champions League và Cúp Liên Lục Địa. Beckham là ứng viên nặng ký cho danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Thế Giới của FIFA và Xuất Sắc Nhất Châu Âu của France Football, nhưng đáng tiếc là 2 lần đều phải về nhì, sau Nghệ Sỹ Sân Cỏ Rivaldo.

Mùa 1999-2000 khởi đầu thất vọng cho Beckham. Bất hoà với HLV Ferguson làm dậy lên những tin đồn về việc chuyển nhượng của anh sang Barcelona, Inter Milan, và thậm chí cả Arsenal. Nhưng sau khi giảng hoà cùng ngài Alex, Beckham lại trở về với phong độ vốn có, và những quả đá phạt chết người lại được tung ra vào lưới Croatia Zagreb, Leicester, West Ham và Southampton. Trong những năm cuối ở MU, những đường chuyển của Beckham bớt phần sắc sảo, nhưng bù lại, anh ghi bàn nhiều hơn. Đặc biệt trong mùa 2001-02, anh ghi được đến 16 bàn, trong đó có cú sút xa 30m tuyệt đẹp vào lưới Deportivo, và cú lốp bóng 25m qua đầu David James của West Ham. Trong năm 2001, lần thứ 3 liên tiếp Beckham giành danh hiệu VDQG cùng MU.

Nhưng rồi những chuyện hậu trường có lẽ đã làm Beckham xao lãng mất bóng đá. Hết lo xuất bản tự truyện, xuất hiện trên truyền hình, anh lại lao vào đóng quảng cáo cho Adidas và Pepsi. Trong những chuyến du đấu cùng MU ở châu Á, Beckham được chào đón không thua gì The Beatles, nhưng phong độ anh đã không còn được như xưa. Trong nửa cuối mùa 2001-02, HLV Ferguson nhiều lần để anh trên ghế dự bị. Rồi những chấn thương lỉên tiếp vào các năm 2002, 2003 khiến Beckham càng ít xuất hiện trong màu áo đỏ hơn. Thêm vào đó, mâu thuẫn giữa anh và Ferguson lại bùng nổ. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào tháng 2-2003, khi ngài Alex sút chiếc giày vào mặt Beckham sau trận Mu thua Arsenal 0-2. Câu chuyện này lập tức trở thành tâm điểm của báo giới, và ai cũng dự đoán việc Beckham rời Old Trafford chỉ còn là vấn đề thời gian. Quả nhiên đến tháng 7 cùng năm, Beckham chuyển đến Real Madrid với giá 24.5 triêu bảng. Mùa bóng đầu tiên của anh tại Madrid không thành công lắm.

Trong màu áo đội tuyển Anh, cho đến nay Beckham đã chơi được 71 trận, ghi 13 bàn, tham gia 2 kỳ World Cup 1998-2002, 2 kỳ Euro 2000-2004. Kể từ tháng 1-2001, anh giữ vai trò thủ quân đội tuyển quốc gia. Tuy luôn được tín nhiệm, nhưng đáng buồn thay, Beckham thường gây thất vọng ở những giải đấu lớn. Tại World Cup 1998, anh bị chỉ trích khá nhiều sau khi nhận thẻ đỏ vì đánh nguội Diego Simeone của Argentina, ở Euro 2004 thì sút hỏng 2 cú phạt đền, góp phần lớn giúp…Anh về nước. Điểm sáng trong sự nghiệp quốc gia của Beckham là khi anh sút phạt ghi bàn gỡ hoà 2-2 trước Hy Lạp, đưa Anh vào thẳng vòng chung kết World Cup 2002, và sau đó lại ghi bàn duy nhất vào lưới Argentina tại vòng chung kết này.

Vài thông số về Beckham trong thời gian thi đấu cho MU:

Số Trận Đấu/Bàn Thắng
VDQG 237/62
FA Cup 22/6
League Cup 10/1
Cúp Châu Âu 79/15
Tổng cộng 348/84

Danh hiệu

1992 Cúp FA Trẻ
1996 VDQG
1996 F.A. Cup
1997 VDQG
1999 VDQG
1999 F.A. Cup
1999 Champions League
1999 Cúp Liên Lục Địa
2000 VDQG
2001 VDQG
2003 VDQG

cuonglongzero
31-12-2004, 11:20
Tấm Gương Tận Tụy Brian McClairCó thể Brian McClair không là 1 thiên tài như George Best hay Denis Law, cũng không phải là mẫu người đầy sức mạnh như Peter Schmeichel hay Steve Bruce. Tuy nhiên, tinh thần thi đấu tận tụy ...
cống hiến không mệt mỏi, cùng với sự trung thành với màu áo đỏ đã bù lại cho sự thiếu hụt tài năng thiên phú của McClair, và tên tuổi anh xứng đáng được đứng ngang hàng với các huyền thọai khác tại Old Trafford

McClair sinh năm 1963 tại Airdrie-Scotland, anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá với tư cách cầu thủ tập sự tại Aston Villa vào năm 1980, đến tháng 8 năm 1981 thì về Scotland đá cho Motherwell. Vốn là người hiếu học, McClair vừa thi đấu vừa theo học khoa Toán ở đại học Glasgow.

Tháng 6 năm 1983, McClair chuyển sang Celtic với giá chuyển nhượng 75,000 bảng.Tại đây, anh giành được cúp Quốc gia năm 1985 và Cúp Vô địch quốc gia năm 1986; cùng năm này anh còn được bầu là "cầu thủ xuất sắc nhất Scotland". Thành tích ghi 99 bàn trong 145 trận tại Scotland khiến McClair lọt vào mắt xanh của HLV Alex Ferguson. Mùa hè năm 1987,Ferguson bỏ ra 850,000 bảng rước McClair về Old trafford.Ngay mùa giải đầu tiên tại CLB mới, McClair đã ghi ngay 24 bàn thắng, trở thành cầu thủ đầu tiên ghi được hơn 20 bàn thắng trong 1 mùa giải cho MU kể từ thời huyền thoại George Best.Kể từ đấy, McCLair hợp với McHughes trở thành cặp tiền đạo chủ lực của The Reds.Sau khi Eric Cantona chuyển đến Nhà Hát Những Giấc Mơ, McClair nhường chỗ cho tiền đạo người Pháp và lui về đá tiền vệ công.

Những năm tháng tại MU trôi qua 1 cách huy hoàng với McClair,anh giành được 1 cúp C2, 2 cúp FA,4 chức vô địch Anh. McCLair cũng là người ghi bàn duy nhất trong trận MU-Nottingham 1-0 ở chung kết League Cup năm 1992.(đây là League Cup duy nhất Mu có được trong "triều đại Ferguson").Về thành tích cá nhân, McClair 2 lần được bầu là Cầu thủ Xuất sắc Nhất Mu Trong Năm, vào các mùa 1988 và 1992. Tuy nhiên, trong những năm cuối tại Old Trafford, anh không còn cạnh tranh nổi với tài năng trẻ Andy Cole và phải ngồi ghế dự bị.

Trong màu áo tuyển quốc gia Scotland, McClair thi đấu 27 trận, ghi 2 bàn. Anh từng tham dự EURO 1992, giải mà Scotland đã xuất sắc đè bẹp đương kim á quân CIS 3-0.

Năm 1998, McClair rời Mu để trở về Motherwell, rồi sau đó lại cùng với Brian Kidd nắm quyền huấn luyện Blackburn Rovers.Sau khi bị sa thải vì...đưa Blacburn xuống hạng, năm 2001, McClair trở về Old Trafford với chức vụ HLV đội hình dự bị của MU.Anh cùng với Mike Phelan và Ricky Sbragia là những phụ tá hiện nay cho sir Alex.

Vài thông số về McClair:

Số trận thi đấu và bàn thắng cho MU:
VDQG 296 trận,88 bàn
FA Cup 38 trận,14 bàn
League Cup 44 trận,19 bàn
Europe cup 17 trận,5 bàn
Tổng cộng:395 trận,126 bàn

Các danh hiệu:
1997 F.A. Premier League
1996 F.A. Premier League
1996 F.A. Cup
1994 F.A. Cup
1994 F.A. Premier League
1993 F.A. Premier League
1992 League Cup
1991 Cúp C2
1990 F.A. Cup

Footballdatabase
31-12-2004, 16:48
có bác nào thích thì em có thể cung cấp tài liệu tiếng Anh cho các bác dịch nhiều lắm. Tiện đây em cũng xin hỏi luôn là có bác nào có Profile về cầu thủ Việt Nam. Các cầu thủ hiện đang thi đấu cho các CLB ở giải V-league. Hay các cựu cầu thủ đã từ giã sân cỏ ? Không biết có bác nào có không. Nếu có thì có thể liên lạc với em qua cái YIM trên kia. Tất cả tài liệu mà các bác cung cấp sẽ được dùng vào những việc có ích trong tương lai rất gần đây. Rất mong sự đóng góp của mọi người.

JakeSatan
31-12-2004, 17:37
Maicon, hoàng tử sân Louis đệ Nhị
Giới chuyên gia và báo chí gọi anh là Cafu mới của bóng đá. HLV Didier Deschamps đã không lầm khi muốn có anh bằng được trong đội hình của mình để thay thế cho Hugo Ibarra, trấn giữ hành lang phải của đội bóng Công quốc Monaco. Anh chính là Maicon Douglas Sisenando, thường gọi là Maicon.


Maicon sinh ra trong gia đình có truyền thống chơi bóng và dường như anh sinh ra là để chơi ở vị trí… hậu vệ phải. Khi còn là cầu thủ, cha Maicon cũng chơi ở vị trí này. Marlon, người em song sinh của Maicon cũng từng chơi bóng nhưng khi lớn lên, anh lại quyết định theo nghề luật sư. Maicon khởi nghiệp tại Cruzeiro năm 1999, trước khi được BLĐ CLB cho đội bóng thành phố quê hương anh Criciuma mượn 1 năm. Khi trở lại Cruzeiro, Maicon bắt đầu có những thành công đáng kể và nổi lên nhờ vào tốc độ, kỹ thuật và khả năng tư duy chiến thuật của mình. Thế nhưng cũng trong thời gian này, Cruzeiro còn có người chạy cánh xuất sắc khác là Maurinho, chính anh này được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất Brazil năm 2003.

Cơ hội chỉ thực sự đến với Maicon khi Maurinho bị chấn thương đeo đẳng suốt mùa giải 2004. Mặc dù chỉ ra sân có 8 trận của đầu mùa giải nhưng Maicon vẫn nhận được sự tín nhiệm của HLV Parreira và được tham gia Copa America 2004. ĐT Brazil của Maicon chơi không ấn tượng bằng Argentina nhưng nhờ có may mắn, họ đã được đứng lên bục vinh quang. Sau Copa America, Maicon nhận được rất nhiều lời đề nghị từ các đại gia châu Âu. Quá ấn tượng với những gì mà Monaco đã thể hiện tại Champions League mùa giải năm ngoái cũng như khâm phục tài năng của HLV Deschamps, hậu vệ 23 tuổi này đã chọn đội bóng Công quốc để thi thố tài năng. “Tôi nhận được không ít lời mời từ Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Nhưng với tôi, Monaco là sự lựa chọn hàng đầu. Monaco là một tập thể đoàn kết, thi đấu đẹp mắt và có nhiều cầu thủ giỏi”.

Ngay từ những ngày đầu mới đến Monaco, Maicon đã bị ấn tượng bởi cách huấn luyện của Deschamps, sự thân mật của các đồng đội mới và cách đón chào rất nồng nhiệt của các CĐV dành cho mình. “Không khí tại đây thật dễ chịu. Khi Monaco thắng lợi vang dội (đè bẹp Gorica với tổng tỷ số 9-0 tại vòng sơ loại Champions League) cũng như khi chúng tôi bại trận (thua Caen 0-1 tại vòng 3 Ligue I và Liverpool 0-2 tại vòng bảng Champions League), Didier (Deschamps) đều có những cách động viên, an ủi riêng để giúp chúng tôi “thắng không kiêu, bại không nản”. Ông ấy quả là một người tuyệt vời”.

Đáp lại lòng yêu mến của tất cả, Maicon đã có những khởi đầu rất thành công trên đất Pháp. Trong trận đấu gặp Istres tại vòng 2 Ligue I, ngoài đường chuyền như dọn cỗ cho Kallon ghi bàn thắng mở tỷ số cho Monaco, Maicon còn tự mình ghi 1 bàn thắng rất đẹp mắt. Chính khả năng công thủ toàn diện của Maicon đã góp phần làm nên chiến thắng quý giá cho Monaco tại trận đấu muộn nhất vòng 6 Ligue I ngay trên sân Công viên các Hoàng tử, qua đó, lần đầu tiên kể từ đầu mùa giải, đội bóng Công quốc leo lên đứng đầu BXH (13 điểm). “Maicon được các CĐV xứ Công quốc xem như một hoàng tử. Những buổi tập của chúng tôi luôn có rất nhiều khán giả đến theo dõi. Tốc độ và kỹ thuật của cậu ấy khiến cả Monaco đều hài lòng”, Deschamps hết lời ca ngợi cậu học trò cưng.

Vài nét về Maicon

Tên đầy đủ:
Maicon Douglas Sisenando
Ngày sinh: 26/7/1981
Nơi sinh: Criciuma
Quốc tịch: Brazil
Cao: 1,84m. Nặng: 77kg
Vị trí thi đấu: Hậu vệ
Các CLB đã qua: Cruzeiro (1999, 2001-tháng 7/2004), Criciuma (2000-2001), Monaco (từ tháng 7/2004)
Thành tích: VĐQG Brazil 2003 (Cruzeiro), Cúp QG Brazil 2003 (Cruzeiro), VĐ Copa America 2004.

cuonglongzero
31-12-2004, 21:01
Denis Irwin-Người Cork Trầm Lặng12 năm ở Old Trafford, Denis Irwin cần cù bền bỉ bên đường biên trái. Trầm lặng không phô trương, điềm tĩnh không ồn ào, nhưng những gì anh đóng góp cho Quỷ Đỏ quả là vô giá. Trong số những huyền thọai MU hiện đã giã từ sân cỏ, Irwin cũng là người có bảng thành tích phong phú nhất, với 15 danh hiệu các lọai.



Denis Joseph Irwin sinh ngày 31-10-1965 tại Cork, Cộng Hòa Ireland, cùng quê với Roy Keane. Năm 18 tuổi, anh bắt đầu sự nghiệp tại Leeds United, trước khi chuyển sang Oldham Athletic vào năm 1986. Sau 4 mùa giải đóng vai trụ cột trong hàng phòng vệ Oldham, Irwin đến Old Trafford năm 1990 với giá chuyển nhượng 650 000 bảng. Ngày 25 tháng 8 năm 1990 đánh dấu lần đầu tiên anh ra sân trong màu áo MU, ở trận gặp Coventry.

Trong mùa bóng đầu tiên ở MU, Irwin chơi vị trí hậu vệ cánh phải. Năm 1991, anh được đẩy sang cánh trái để nhường chỗ cho tân binh Paul Parker. Từ đó trở đi, hành lang trái trở thành độc quyền của Irwin. Anh lên xuống nhịp nhàng, thủ tốt mà công cũng hay. Có thể nói Irwin là 1 trong những hậu vệ cánh có khả năng tham gia tấn công tốt nhất ở châu Âu, với tốc độ nhanh, khả năng xoay trở khéo léo, những đường chuyền dài thông minh và các cú tạt bóng đầy nguy hiểm. Thêm vào đó, Irwin cũng thường xuyên thực hiện những cú sút từ xa cực mạnh, trước khi David Beckham “ra ràng”, chính anh là chuyên gia đá phạt của MU. Là hậu vệ, nhưng Irwin ghi được không ít những bàn thắng đẹp, chẳng hạn như bàn thắng từ cú sút xa 25 mét trong trận thắng Coventry 1-0 năm 1993, từ pha sút phạt siêu đẳng trong trận gặp Liverpool cũng năm 1993, hay từ pha lừa bóng điệu nghệ và dứt điểm trong trận gặp Wimbledon tại vòng 5 cúp FA năm 1994.

Không như nhiều cầu thủ khác, phong độ của Denis Irwin lúc nào cũng ổn định, không lên xuống thất thường. Quan trọng hơn, trước những trận đấu lớn, anh lúc nào cũng vẫn điềm tĩnh, ung dung. Cứ lặng lẽ mà tiến bước, Irwin gặt hái cùng MU hết danh hiệu này đến danh hiệu khác, khởi đầu từ cúp C2 và Siêu Cúp châu Âu năm 1991, League Cup năm 1992, cho đến 2 cú đúp các năm 1994 và 1996, cùng với 2 chức VDQG các năm 1993 và 1997.

Mùa bóng 1998-1999, ở tuổi 33, Irwin càng chứng tỏ mình là chỗ dựa vững vàng cho Quỷ Đỏ. Khi sức ép tăng cao, anh đứng ra đảm nhận những trách nhiệm khó khăn, quyết định nhận trở lại nghĩa vụ thực hiện các quả penalty. Trong 5 trái phạt đền MU được hưởng mùa đó, Irwin đá 4 trái, và lần nào cũng thành công. Sai lầm duy nhất của Irwin trong mùa 98-99 là chiếc thẻ đỏ trong trận bán kết cúp FA, khiến anh không được tham gia trận chung kết gặp Newcastle United. Nhưng chiến thắng huy hòang tại giải VQDG và Champions League dĩ nhiên là quá dư để bù đắp cho niềm nuối tiếc nho nhỏ ấy.

Sau vinh quang 1999, phong độ của Irwin vẫn được duy trì, có điều thể lực sút giảm không cho phép anh thi đấu với mật độ dày đặc như trước. Trong mùa 1999-00, nhiều trận anh không ra sân, nhường vị trí cho hậu vệ trẻ người Pháp Mikael Silvestre. Năm 2000, anh quyết định từ giã đội tuyển quốc gia Ireland để dành sức thi đấu cho United, nhưng cùng với tuổi tác, sự có mặt của anh trên sân cũng thưa hơn, và vai trò chuyên gia đá penalty cũng dần dần được anh trao lại cho Paul Scholes. Irwin lần thứ 500 khóac áo MU trong trận đấu gặp Leicester tại Old Trafford vào đúng ngày lễ Thánh Patrick (Thánh bảo hộ dân tộc Ireland) năm 2001.(*) HLV Alex Ferguson tôn vinh Irwin trong trận đấu ấy bằng cách đặc cách trao cho anh chiếc băng thủ quân vốn thuộc về Roy Keane.

Irwin 1 lần nữa đeo băng đội trưởng MU vào ngày 12 tháng 5 năm 2002, trong trận đấu chia tay của anh tại Old Trafford. Ở tuổi 36, anh vẫn chưa muốn nghỉ ngơi, nên chỉ 2 tháng sau đã tiếp tục ký hợp đồng với đội hạng nhất Wolverhampton Wanderers, CLB anh hâm mộ thời còn thơ ấu. Chỉ sau 1 năm, lão tướng Irwin đã góp công lớn đưa Wolverhampton thăng lên ngọai hạng. Thi đấu ở ngọai hạng được 1 mùa, Wolves rớt trở lại hạng nhất. Có lẽ với độ tuổi gần tứ tuần như Irwin thì hạng nhất là nơi thích hợp hơn cho anh.

Ở đội tuyển quốc gia Ireland, với phong độ luôn luôn ổn định, Irwin là lựa chọn số 1 ở vị trí hậu vệ trái trong suốt 10 năm. Sau lần đầu chơi cho Ireland trong trận gặp Morocco năm 1990, anh có tổng cộng 56 lần khóac áo tuyển quốc gia, ghi được 4 bàn thắng, từng tham dự World Cup 1994.

Vài thông số về Irwin trong thời gian chơi cho MU

Số trận đấu/số bàn thắng



VDQG 356/22
FA Cup 42/7
League Cup 28/0
Cúp châu Âu 73/4
Tổng cộng 499/33

Các Danh Hiệu:

2001 VDQG
2000 VDQG
1999 Cúp Liên Lục Địa
1999 Champions League
1999 F.A. Cup
1999 VDQG
1997 VDQG
1996 F.A. Cup
1996 VDQG
1994 F.A. Cup
1994 VDQG
1993 VDQG
1992 League Cup
1991 Siêu Cúp Châu Âu
1991 Cúp C2

(*)Chú thích: Bảng thông số ở dưới không tính đến các trận Charity Shield, Siêu Cúp châu Âu, hay cúp Liên Lục Địa, nên tổng số trận của Irwin chỉ dừng ở con số 499.

cuonglongzero
31-12-2004, 21:05
Cole “Hắc Đế”Không ai có thể quên được bộ đôi Cole và Yorke, nhân tố chính làm nên cú ăn ba lịch sử của Manchester United năm 1999. Tuy nhiên, trong khi sự nghiệp của Yorke ở MU chỉ như 1 ngôi sao băng, Cole đã tỏ ra vững vàng hơn trong suốt thời gian thi đấu tại Old Trafford, và xứng đáng có được chỗ đứng trong danh sách các huyền thọai.

Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1971 tại Nottingham, Anh, Andrew Alexander Cole gia nhập đội quân Arsenal năm 1989. Sau 2 năm “ngồi chơi xơi nước” trên ghế dự bị ở Highbury, Cole được HLV George Graham đem cho Fulham mượn trong 1 thời gian ngắn, rồi sau đó bán đứt cho Bristol City với giá 500 000 bảng vào năm 1992. Thi đấu khá thành công ở Bristol, Cole lọt vào tầm ngắm của Newcastle United. Tháng ba năm 1993, HLV Kevin Keegan của Newcastle bỏ ra 1 triệu 750 ngàn bảng rước anh về đội. Trong khỏang thời gian còn lại của mùa 1992-1993, Cole kịp thi đấu 12 trận, ghi 12 bàn, góp công lớn đưa Newcastle thăng lên ngọai hạng.

Mùa bóng tiếp theo, cầu thủ 22 tuổi Andy Cole trở thành người hùng tại CLB mới. Anh lên ngôi vua phá lưới giải VDQG với 34 bàn thắng, và ẵm luôn giải Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất Nước Anh. Lúc bấy giờ, Cole được coi như tương lai của Anh Quốc, hễ nhắc đến bóng đá Anh tức là nhắc đến Shearer và Cole. Tháng 1 năm 1995, Alex Ferguson gây chấn động thị trường chuyển nhượng khi chi 7 triệu bảng để đem anh tới Old Trafford. Cuộc chuyển nhượng này đã gây ra không ít sóng gió cho Newcastle, do các fan hâm mộ phẫn nộ trước sự ra đi của thần tượng. Ngày 22 tháng 1 năm 1995, Cole lần đầu ra sân trong màu áo Quỷ Đỏ, ở trận gặp Blackburn.

Điểm mạnh đáng chú ý ở Andy Cole là tốc độ cao và khả năng xoay trở nhanh nhẹn trong tư thế xoay lưng về phía khung thành đối thủ. “Tầm ngắm” của Cole đặc biệt chính xác, những năm ở đỉnh cao phong độ, tỷ lệ sút bóng thành bàn của anh thuộc lọai cao nhất châu Âu. Khi còn ở Newcastle, phong cách Andy Cole có phần “vị kỷ”, chỉ chăm chú ghi bàn mà ít chịu chuyền bóng hay kiến tạo, nhưng sau những năm tháng trui rèn cùng Eric Cantona trên hàng tiền đạo MU, lối chơi của Cole dần dần mang nhiều tính đồng đội hơn. Tính đồng đội ấy đạt đến đỉnh cao trong những pha phối hợp với Dwight Yorke mùa 1998-99.

Trong năm đầu tiên trong màu áo đỏ, Andy Cole ngay lập tức ghi danh vào sách kỷ lục với tư cách cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất cho MU trong 1 trận đấu thuộc khuôn khổ giải ngọai hạng Anh (Premier League). 1 mình anh ghi được 5 bàn thắng trong trận gặp Ipswich Town vào ngày 4 tháng 3 năm 1995(*). Đáng tiếc, cuối mùa bóng ấy, MU lại trắng tay không đọat được danh hiệu nào.

Những năm đầu tại Old Trafford đã diễn ra không như ý Andy Cole. Lần trắng tay năm 1995 được bù đắp bằng cú đúp VQDG-Cúp FA vào mùa tiếp theo. Nhưng trong chiến thắng kép này, Cole lại chẳng đóng góp được gì nhiều, vì sau khi khỏi bệnh phổi bị nhiễm hồi đầu mùa, anh lại bị…gãy chân. Khi Cole trở lại với phong độ đỉnh cao vào mùa 1997-98, thì trớ trêu thay, MU để tuột hết danh hiệu vào tay Arsenal và 1 lần nữa trắng tay.

Mùa bóng đáng nhớ nhất trong đời Cole bắt đầu khi HLV Alex Ferguson sắm cho anh người đá cặp mới là Dwight Yorke vào năm 1998. Thật sự Cole và Yorke đều là những mẫu tiền đạo có thể tác chiến độc lập, khi chơi đơn lẻ họ vẫn rất xuất sắc, nhưng nếu kết hợp cùng nhau thì lại càng hiệu quả bội phần. Chứng kiến Yorke-Cole phối hợp trong mùa 1998-99, có cảm tưởng như họ sinh ra để đá cặp cùng nhau. Với sự đồng điệu đến tuyệt vời, dường như người này chỉ cần dùng trực giác cũng biết được người kia đang ở đâu, chứ không cần phải quan sát cho mất công. Sự đồng điệu ấy làm nền tảng cho những đường bật tường, những pha chuyền bóng đan xen nhanh như cắt giữa 2 tiền đạo da đen. Bóng vừa rời chân Yorke đã đến chân Cole, rồi thoắt 1 cái lại về chân Yorke, khiến hậu vệ đối phương không còn biết phải kèm ai.

Sự ăn ý giữa Yorke và Cole đã đem về cho MU cú ăn ba đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến nay, Cúp VDQG, cúp FA, và Champions League, đó là còn chưa kể Cúp Liên Lục Địa. Bộ đôi tiền đạo này đã ghi tổng cộng 53 bàn tại tất cả các giải trong mùa, trong đó 24 bàn thuộc về Andy Cole. Trong 24 bàn này, có lẽ Cole sẽ nhớ nhẩt cú lốp bóng tinh tế trong trận đấu quyết định chức VQDG giữa MU và Tottenham tại Old Trafford. (Quỷ Đỏ thắng 2-1)

1 thực tế là những giây phút huy hòang thường rất ngắn ngủi. Chính vì Cole và Yorke đã quá ăn ý ở mùa bóng lịch sử, họ không bao giờ còn có được sự đồng điệu cao độ như thế nữa. Trong năm tiếp theo, cả hai vẫn phối hợp tốt với nhau, nhưng không còn quá kết dính. Tuy thế, mùa bóng 1999-00 lại là mùa Andy Cole ghi được những bàn thắng đẹp nhất trong đời cầu thủ. Đó là cú tung người móc bóng ngọan mục trong trận tiếp Leicester, là 4 bàn thắng tuyệt đẹp trong trận gặp “cố nhân” Newcastle United, là cú tung người volley trên không ở cự ly gần trong trận với Watford, là pha bóng ngả bàn đèn ở trận đối đầu Marseille, hay là lần xoay người lốp bóng nhanh như cắt trong trận gặp Coventry. 22 bàn thắng trong tất cả các giải của Andy Cole góp phần giúp MU bảo vệ thành công ngôi VDQG.

Sự nghiệp của Cole bắt đầu đi xuống sau chấn thương đầu gối vào giữa mùa 2000-01, nhưng anh vẫn đủ sức giữ được vị trí chính thức trên hàng tiền đạo MU, đá cặp cùng “lão tướng hồi xuân” Sheringham, chứ không sa sút phong độ trầm trọng như Yorke.1 trong những màn tỏa sáng cuối cùng của Cole là cú hattrick vào lưới Anderlecht trong khuôn khổ Champions League. Tuy nhiên, sự có mặt của Ruud Van Nistelrooy tại Old Trafford từ tháng 8-2001 đã khiến Cole mất chỗ trên hàng công. Ngày 29 tháng 12 năm 2001, Cole chuyển sang thi đấu cho Blackburn Rovers với giá 7.5 triệu bảng. Sau 1 thời gian thi đấu tương đối thành công, và dành được 1 League Cup cùng Blackburn, Cole đến với Fulham vào tháng 7 năm 2004.

Cho đến nay, đã ở tuổi 33, Andy Cole vẫn chưa được tham dự 1 giải đấu lớn nào trong màu áo đội tuyển quốc gia, và có lẽ là sẽ chẳng bao giờ. Tuy 1 thời được đánh giá là tương lai của nước Anh, ngang hàng với Alan Shearer, nhưng trong khi Shearer đã trở thành huyền thọai trong đội tuyển từ lâu, Cole vẫn không bao giờ được các HLV ưu ái. Tổng cộng anh chỉ được khóac áo tuyển quốc gia 15 lần, ghi được 1 bàn thắng. Có bất công chăng?

Vài thông số về Andy Cole trong thời gian thi đấu cho MU:

Số Trận Đấu/Bàn Thắng

VDQG 161/93
FA Cup 19/9
League Cup 2/0
Cúp châu Âu 43/19
Tổng cộng 225/121

Các danh hiệu:
2001 VDQG
2000 VDQG
1999 Cúp Liên Lục Địa
1999 Champions League
1999 F.A. Cup
1999 VDQG
1997 VDQG
1996 F.A. Cup
1996 VDQG

(*)Chú thích: Andy Cole giữ kỷ lục Premier League, còn kỷ lục mọi thời đại thuộc về George Best. Best ghi 6 bàn trong trận MU-Northampton Town, vòng 5 cúp FA, ngày 7-2-1970

cuonglongzero
31-12-2004, 21:07
Ernest Mangnall-Người Khởi Đầu 1 Huyền Thọai
Alex Ferguson và Matt Busby dĩ nhiên là những HLV huyền thọai của Đội Quân Áo Đỏ, nhưng nếu như bỏ qua Ernest Mangnall thì cũng là không được công bằng. Mangnall là HLV vĩ đại đầu tiên của Manchester United ...
là người đưa MU đếnvới những buổi bình minh đầu tiên trong lịch sử. Chính trong thời kỳ Mangnall, Old Trafford, Nhà Hát Những Giấc Mơ, đã được xây nên.

James Ernest Mangnall sinh năm 1866 tại Belmont, Bolton, con trai của ông bà Joseph và Anne. Thủơ nhỏ, ông theo học tại Bolton Grammar School và tham gia thi đấu cho đội bóng đá của trường. Cùng với bóng đá, 1 niềm đam mê khác nữa của ông là đua xe đạp. Theo tư liệu thăm dò dân số năm 1881 của Anh Quốc, vào thời điểm ấy, Mangnall sống cùng cha mẹ và cô em gái Augusta tại số 45, đường Coe, Great Bolton.

Sau những khỏang thời gian ngắn thi đấu cho Old Boys và Lancashire County, Mangnall trở thành giám đốc điều hành của CLB quê nhà Bolton Wanderers. Ngày 17 tháng 12-1899, ông chuyển sang Burnley trên tư cách HLV kiêm chủ tịch. Ở cương vị chủ tịch, Mangnall đã có công lèo lái giúp Burnley trụ vững trước những khó khăn chồng chất về tài chính. Ngày 30 tháng 9 năm 1903, ông trở thành HLV của Manchester United, thay thế cho James West.

Điểm mạnh của HLV Mangnall là 1 khát vọng mạnh mẽ, luôn vươn tới chiến thắng. Ông có biệt tài khích lệ cầu thủ và biệt nhãn trong việc săn tìm những tài năng mới. Nhờ tài cầm quân của Mangnall mà MU từ 1 CLB hạng nhì đã vươn lên thành 1 đại gia của bóng đá Anh. Đội hình thời ông vẫn được đánh giá là xuất sắc nhất trong lịch sử MU thời kỳ tiền-Busby. Tuy nhiên, nói đến thành công của Mangnall không thể không kể công sức của J.H.Davies, 1vị Mạnh Thường Quân đam mê bóng đá. Nếu không nhờ những số tiền tài trợ hào phóng của Davies thì Mangnall khó mà gầy dựng nên được 1 đôi hình mạnh mẽ, càng khó hơn để xây nên sân Old Trafford.

Vừa đặt chân về United, Magnall lập tức mua thêm nhiều tài năng mới: Harry Moger, Alex Bell, Dick Duckworth, và đặc biệt là Charlie Roberts từ Grimsby với giá 400 bảng. Lối chơi đầy cảm hứng của Charlie Roberts đã đưa MU thăng lên hạng nhất vào năm 1906. Ngòai niềm vui thăng hạng, năm 1906 này cũng đánh dấu 1 niềm vui khác, rất riêng tư, của Mangnall: ông lập gia đình cùng cô Eliza Sharpe Hobson vào ngày 12 tháng 7.

1906 là 1 năm đánh dấu niềm vui cho United và nỗi buồn cho đội bóng cùng thành phố City. Do vi phạm điều lệ, 5 thành viên ban lãnh đạo Manchester City bị Liên Đoàn cách chức, 17 cầu thủ của City cũng bị cấm vĩnh viễn, không bao giờ được thi đấu trong màu áo xanh nữa. Lợi dụng dịp may hiếm có, Mangnall nhảy ngay vào cuộc và ký liền hợp đồng với 5 cầu thủ City vừa bị đuổi, trong đó có “phù thủy xứ Wales” Billy Meredith. Tuy nhiên, do Meredith còn mang thêm cả án treo giò vì mua độ nên mãi đến năm 1907, ông mới khóac áo MU lần đầu tiên.

Tài năng của 1 mình Charlie Roberts chưa đủ giúp MU vươn lên thành ông lớn, nhưng mọi chuyện thay đổi với sự góp mặt của Billy Meredith. Roberts-Meredith lúc bấy giờ được coi là cặp cầu thủ xuất sắc nhất tòan Anh Quốc, cũng có nghĩa là xuất sắc nhất thế giới. Đội hình MU được Mangnall dựng nên xoay quanh họ. Đội hình này nhanh chóng chứng tỏ sức mạnh áp đảp bằng chức VDQG năm 1908, danh hiệu đầu tiên của MU ở 1 giải đấu hạng cao nhất. Để tưởng thưởng cho chức vô địch, ban lãnh đạo MU đài thọ cho các cầu thủ 1 chuyến du đấu tại Áo-Hung, nơi Qủy Đỏ đã đè bẹp liên quân Vienna Sport-Vienna FC 4-0, Ferencvaros 6-2 và 7-0. Ban lãnh đạo cũng nhất trí về việc xây dựng 1 SVD mới trong năm 1909, bởi 1 đội vô địch như MU thì không còn thích hợp với cái sân Clayton tuềnh toàng nữa. Ngày 19-2-1910, sân bóng mới, Old Trafford, chính thức khánh thành. Ngẫu nhiên thay, đúng vào ngày hôm ấy, 1 cơn gió lốc mạnh đã cuốn sập 1 phần khán đài sân Clayton.

Chuỗi ngày tươi đẹp của Mangnall cùng MU tiếp tục với cúp FA năm 1909 và lần thứ 2 VDQG vào mùa 1910-11. Dĩ nhiên đời không chỉ hoa hồng mà còn nhiều sóng gió, 4 tháng sau danh hiệu FA Cup 1909, tòan đội MU của ông bị Liên Đoàn treo giò vô thời hạn vì tội dám ủng hộ Công Đòan Cầu Thủ(*). Mangnall tuy thế đã không lùi bước, ông cùng Billy Meredith và các học trò khác cương quyết tranh đấu, cho đến khi Liên Đòan phải xuống nước và rút lại quyết định.

Năm 1912, cảm thấy đội quân do mình gây dựng đã đến ngày rệu rã, Mangnall từ chức tại Old Trafford để sang nắm quyền huấn luyện Manchester City. Ông gắn bó vói City suốt 12 năm, và đã góp công xây dựng nên cầu trường Maine Road. Tháng 1 năm 1932, Mangnall từ trần.

Vài thông số về Mangnall trong thời kỳ huấn luyện MU:

Giải VDQG(hạng nhất): Thi đấu 228 trận, 109 thắng, 47 hòa, 72 bại, ghi 378 bàn, thua 333 bàn.
Giải VDQG(hạng nhì): 106 trận, 72 thắng, 19 hòa, 15 bại, ghi 236 bàn, thua 91 bàn.
Cúp FA: 39 trận, 19 thắng, 9 hòa, 8 thua, ghi 73 bàn, thua 47 bàn.

Danh hiệu:

VDQG 1908
FA Cup 1909
VDQG 1911

cuonglongzero
31-12-2004, 21:12
Teddy Sheringham-Người Chơi Bóng Bằng Đầu
Khi đến Manchester United năm 1997, Sheringham là 1 kẻ trắng tay. 4 năm sau, khi rời Old Trafford, anh trở thành 1 “phú ông” giàu có với đủ mọi danh hiệu, trong đó có cú ăn ba độc nhất vô nhị vào mùa bóng 1999.

Nếu cứ xét riêng từng kỹ năng thì Sheringham chẳng qua chỉ là 1 tiền đạo trung bình. Kỹ thuật của anh bình thường, tốc độ không quá cao, thể lực cũng không có gì đặc biệt, khả năng đánh đầu tuy có xuất sắc, nhưng cũng không phải là 1 chuyên gia không chiến như Alan Shearer hay Oliver Bierhoff. Nhân tố đưa Sheringham lên hàng ngôi sao chính là trí óc, là lối chơi cực kỳ ranh mãnh, thông minh của anh. Là mẫu tiền đạo “tiêu cực” lười di chuyển, nhưng mỗi khi di chuyển thì Sheringham luôn tìm đến đúng điểm nóng, lẻn qua sự săn sóc của các hậu vệ đối phương, để chớp thời cơ ghi bàn. Trong tất cả các tiền đạo tôi từng được chứng kiến, có thể nói Sheringham là người có nhạy cảm vị trí tuyệt vời nhất. Những người không thích Sheringham vẫn hay chỉ trích những bàn thắng của anh là…rùa, thường được ghi trong những tư thế dễ dàng không người kèm, hoặc từ đá bồi, nhưng cứ thử nghĩ lại sẽ thấy, nếu không có bản năng sát thủ và trí thông minh đọc trước được thể trận, thì muốn luôn luôn có mặt đúng lúc đúng nơi để đá bồi liệu có được hay chăng? Chính do khả năng đọc trận đấu tốt mà Sheringham cũng đảm nhiệm tuyệt vời vai trò kiến thiết bóng, bất cứ ai đá cặp với Sheringham đều không thể chê được những đường chuyền dọn cỗ của anh.

Edward Paul Sheringham sinh ngày 2 tháng 4 năm 1966 tại Highams Park, London, Anh quốc. Năm 17 tuổi, anh gia nhập CLB hạng nhì Millwall trong tư cách cầu thủ tập sự. Trong 2 năm 1984 và 1985, Sheringham lần lượt thi đấu cho Aldershot Town (hạng 4, Anh) và Djurgardens (hạng 2,Thụy Điển) theo những hợp đồng cho mượn. Tại Djurgarden, Sheringham đã giúp CLB giành cúp Vô địch Hạng nhì khu vực miền Bắc, bản thân anh đoạt giải vua phá lưới với 13 bàn.Trở lại Milwall trong mùa 1985-86, anh chiếm được vị trí chính thức trong suốt 6 mùa bóng sau đó, và trở thành tiền đạo xuất sắc nhất trong lịch sử CLB. Tổng cộng Sheringham thi đấu cho Milwall 220 trận tại giải VDQG , ghi 93 bàn. Đặc biệt, vào năm 1991, anh giành danh hiệu Vua Phá Lưới giải hạng nhì với 33 bàn.

Dĩ nhiên, 1 tài năng như Sheringham không thể ở mãi giải hạng nhì. Năm 1991, anh chuyển đến Nottingham Forest, thi đấu cùng với đồng đội tương lai tại MU là Roy Keane. Đầu mùa 1992-93, Nottingham bán anh cho Tottenham Hotspur với giá 2.1 triệu bảng. Trong mùa 1992-93 này, Sheringham đã trở thành Vua Phá Lưới đầu tiên của Giải Ngoại Hạng Anh (Premier League). Anh ghi được tất cả 22 bàn thắng, 1 cho Nottingham và 21 cho Tottenham. Từ vị trí huyền thoại tại Milwall, Sheringham bắt đầu trở thành huyền thoại của White Hart Lane.Trước khi chuyển tới MU, Sheringham đã chơi cho Spurs 166 trận ở giải Ngoại Hạng, ghi 76 bàn.

Cho đến năm 1997, tuy không thiếu những danh hiệu cá nhân, Sheringham vẫn chưa có trong tay 1 chiếc cúp nào, không kể chiếc cúp "tỉnh lẻ" tại Thụy Điển năm 1985. Do thế, anh quyết định rời Tottenham để đến với "ông lớn" Manchester United, theo 1 hợp đồng trị giá 3,5 triệu bảng. Trận đấu ra mắt của Sheringham tại MU diễn ra vào ngày 10-8-1997, với đối thủ chính là...Spurs. Nhiều fan hâm mộ MU tỏ ra không hài lòng khi Quỷ Đỏ đem về 1 cầu thủ 31 tuổi xem ra đã gần hết đát, nhưng họ không ngờ được rằng chính những năm tại Old Trafford mới là buổi hoàng kim trong sự nghiệp của Sheringham.

Số phận Sheringham cũng khá trớ trêu. Chính vì khát khao danh hiệu mà anh mới tìm đến MU. Nhưng trong mùa bóng đầu tiên khoác chiếc áo đỏ, anh lại phải chứng kiến MU trắng tay, để rơi cúp VDQG lẫn FA vào tay Arsenal. Những fan không thích Sheringham được dịp ra tay, họ hát vang trên khán đài "ôi Teddy, Teddy, đến MU rồi cũng chẳng thắng được Cúp...đếch nào". Quả thật, Sheringham thi đấu không mấy thành công trong mùa đó, có lẽ vì áp lực quá lớn trong vai trò thay thế Eric Cantona.

Mùa bóng 1998-1999 đánh dấu năm huy hoàng của bộ đôi Yorke-Cole, và Sheringham đành yên phận với trong vai dự bị. Sau những trận khởi đầu kém cỏi, càng về cuối giải, Sheringham thi đấu càng hay mỗi khi được ra sân. Trong chiến tích ăn 3 lịch sử có công rất lớn của anh. Trong trận chung kết cúp FA giữa MU và Newcastle, chính Sheringham ghi bàn mở tỷ số, và cũng chính anh ghi bàn gỡ hoà 1-1 vào phút 90 và đánh đầu chuyền bóng cho Solskjaer nâng tý số 1 phút sau đó trong trận chung kết cúp C1 với Bayern Munich. Sheringham là thế đấy, bao nhiêu năm không có nổi 1 danh hiệu, để rồi đùng 1 cái, làm ngay 1 loạt cả chức VDQG, cúp FA, lẫn Champions League. Những kẻ ghét Sheringham nay không thể tiếp tục ghét anh được nữa, câu hát của họ trở thành "ôi, Teddy, Teddy, anh đến Mu và đã thắng tất cả".

Sheringham vẫn tiếp tục đóng vai trò 1 siêu dự bị trong mùa bóng 1999-2000, vẫn tiếp tục ghi những bàn thắng quan trọng khi được tung ra sân.Nhưng sang đến mùa tiếp theo, khi Cole và Yorke đã sa sút phong độ, Sheringham được đưa trở lại đội hình chính. Như 1 ngôi sao bừng sáng mãnh liệt trước lúc tắt, anh đã thi đấu 1 năm để đời, ghi được 15 bàn thắng tại giải VDQG và 21 bàn trong tất cả các giải, dẫn dắt Mu lần thứ 3 liên tiếp vô địch nước Anh. Những khoảnh khắc đánh nhớ của anh năm ấy là cú hattrick vào lưới Southampton, bàn thắng thứ 6 trong trận hạ nhục Arsenal 6-1, và chiến thắng quan trọng trước Dinamo Kiev tại cúp Châu Âu. Phong độ đáng ngạc nhiên của Sheringham đã thuyết phục mọi người, và cả 2 danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Nước Anh mùa 2000-01, 1 của Hiệp Hội Ký Giả và 1 Của Hiệp Hội Cầu Thủ, đều thuộc về anh.

Nhận thấy rằng mình đã đạt đến đỉnh cao nhất tại MU, Sheringham quyết định rời đội trước khi bước qua bên kia sườn dốc, anh trở về CLB cũ Tottenham. Đến tháng 6 năm 2003, anh chuyển sang đội mới thăng ngoại hạng Portsmouth. Tuy phong độ không còn như xưa, nhưng với lối chơi thông minh sắc sảo, Sheringham vẫn đảm nhiệm thành công vai trò thủ lãnh Portsmouth, và giúp đội trụ hạng trong mùa bóng đầu tiên ở Premier League. Ở tuổi 38, anh vẫn còn 1 niềm đam mê tràn đầy.

Với đội tuyển quốc gia Anh, Sheringham thi đấu 51 trận, ghi 11 bàn, từ năm 1993 đến 2002, tham dự các World Cup 1998 và 2002, Euro 1996. Trong khoảng 1993-1998, Sheringham hợp cùng Alan Shearer tạo nên cặp tiền đạo chính thức của tuyển Anh, và cũng là 1 trong những cặp tiền đạo ăn ý nhất châu Âu. Kể từ năm 1998, Sheringham mất vị trí chính thức trong tuyển về tay Michael Owen, nhưng vẫn thi đấu rất thành công trong vai dự bị chiến lược. Sự nghiệp quốc tế của anh chấm dứt sau World Cup 2002.

Vài thông số về Sheringham trong thời gian thi đấu cho MU:


Số Trận Đấu/Bàn Thắng

VDQG 73/31
FA Cup 4/5
League Cup 1/1
Cúp châu Âu 20/9
Tổng cộng 98/46

Danh hiệu

1999 FA Cup
1999 VDQG
1999 Cúp C1
1999 Cúp Liên Lục Địa
2000 VDQG
2001 VDQG

cuonglongzero
31-12-2004, 21:18
Nobby Stiles-Nhà Vô Địch...Sún RăngCó 2 hình ảnh mà ngườI ta còn nhớ mãi trong ngày khảI hoàn của bóng đá Anh tạI World Cup 1966. Hình ảnh thứ nhất ghi nhận cảnh độI trưởng Bobby Moore đang ngồI trên vai các đồng độI, giương cao chiếc cúp Nữ Thần Vàng. Thứ hai là vũ điệu chiến thắng và nụ cườI… toe toét không răng của Nobby Stiles.

Tướng tá thấp lùn và cửa miệng sún răng tạo cho Nobby Stiles 1 dáng vẻ hài hước, nhưng trên sân cỏ thì ông lại chẳng khôi hài chút nào. Stiles nổI danh như 1 trong những trung vệ cứng rắn và “lì lợm” bậc nhất vào những năm 1960-1970. Khả năng đọc trận đấu của ông rất nhanh và nhạy bén, với tuyệt chiêu là những cú chuồI bóng cực kỳ mãnh liệt, còn sở trường là kèm ngườI, bắt chết trụ cột đốI phương. Nói về kỹ năng kèm ngườI thì có lẽ trong lúc đương thờI, Stiles chỉ chịu kém có Berti Vogts của Tây Đức mà thôi.

Norbert Stiles, tên thân mật là Nobby, sinh ngày 18-2-1942 tạI Collyhurst, Manchester, cùng “quê” vớI Brian Kidd. Những ngày thơ ấu, Stiles đã là 1 fan cuồng nhiệt của MU, và không tuần nào lạI vắng mặt nơi hậu đài Stretford(*). Thuở còn là học sinh, ông khoác áo độI bóng các trường Manchester và Lancashire. Tháng 12 năm 1957, Stiles ký hợp đồng tập sự vớI MU. Năm 18 tuổi, ông được thăng lên độI chính, và thi đấu ra mắt vào ngày 1-10-1960 trong trận gặp Bolton.

Những ngày tháng huy hoàng của Nobby Stiles bắt đầu vào mùa xuân năm 1965, khi ông lần đầu tiên được thi đấu trong màu áo tuyển Anh, ở trận hòa 2-2 vớI đốI thủ truyền kiếp Scotland tạI Wembley. Cùng năm ấy, Stiles và MU giành ngôi vô địch quốc gia. Năm tiếp theo, 1966, lạI đến cùng vớI những vinh quang chói lọI hơn thế nữa, khi ông được bảo vệ màu cờ sắc áo trong giảI World Cup tổ chức ngay chính quê hương mình. Trận đấu để đờI của Stiles tạI World Cup 1966 là ở vòng bán kết, khi ông được giao trách nhiệm bắt chết siêu tiền đạo Eusebio của Bồ Đào Nha. Nhiệm vụ khó khăn này đã được hoàn thành 1 cách hoàn hảo, vì Stiles gần như dập tắt hết mốI nguy hiểm tiềm tàng đến từ Eusebio, bằng cách đá cho “Con Báo Đen” té ngã “lên bờ xuống ruộng”. Vượt qua thử thách Bồ Đào Nha, tuyển Anh tiếp tục hạ gục Tây Đức 4-2 trong trận chung kểt vớI 1 hattrick độc nhất vô nhị của Geoff Hurst. Chính sau trận đấu ấy, vũ điệu hoan ca của Nobby Stiles được truyền đi toàn thế giới.

Vinh quang của Nobby Stiles dường như gắn liền vớI cầu trường Wembley, đó là nơi ông lần đầu khoác áo độI tuyển vào năm 1965, lên ngôi vô địch hoàn cầu vào năm 1966. Đến năm 1968, đó lại là nơi Stiles giương cao cúp C1 châu Âu, sau khi MU dũng mãnh đè bẹp Benfica 4-1. 1 lần nữa Stiles lạI đụng độ “Con Báo Đen” Eusebio trong 1 trận chung kết, và 1 lần nữa ông giành thắng lợi. Trong khoảng giữa 2 chiếc cúp cao quý 1966 và 1968, Stiles còn cùng MU vô địch quốc gia năm 1967.

Cúp C1, Cúp Thế GiớI đều đã có cả, thế thì lẽ ra Nobby Stiles không còn phảI khao khát bất kỳ 1 danh hiệu nào khác. Thế nhưng, cho đến nay, ông vẫn lấy làm tiếc rằng chưa bao giờ được tham dự 1 trận chung kết cúp FA. Stiles vắng mặt trong trận chung kết năm 1963 giữa MU và Leicester, và kể từ đó ông không còn cơ hộI nào nữa.

Sau World Cup 1970, Nobby Stiles rờI độI tuyển quốc gia Anh, để lạI sau lưng 28 trận đấu quốc tế và 1 bàn thắng.(ghi trong trận Anh thắng Tây Đức 1-0 ngày 23-6-1966). Năm 1971, khi MU đang lâm vào suy thoái, Stiles chuyển sang thi đấu cho Middlesbrough vớI giá 20 000 bảng. 2 năm sau, ông lạI chuyển đến Preston North End vớI tư cách cầu thủ kiêm huấn luyện viên. Từ giã sân cỏ năm 1974, ông tiếp tục huấn luyện Preston North End đến năm 1981, sau đó phiêu lưu sang tận Canada để dẫn dắt Vancouver Whitecaps. Năm 1984, Stiles trở về nước làm trợ lý huấn luyện, sau đó là huấn luyện viên trưởng của West Bromwich Albion. Từ năm 1989 đến năm 1993, ông phụ trách công tác đào tạo cầu thủ trẻ, và đã góp công đào tạo nên những Ryan Giggs, David Beckham, và Gary Neville tạI MU. Năm 2000, Nobby Stiles vinh dự được nữ hoàng Elizabeth II phong tặng tước hiệu OBE (Officer of the British Empire, tức Sỹ Quan Đế Chế Anh).

Vài thông số về Nobby Stiles trong thờI gian thi đấu cho MU:

Số trận đấu/ Số bàn thắng

VDQG: 311/17
FA Cup:38/0
League Cup:7/0
Cúp châu Âu:36/2
Tổng cộng: 392/19

Danh hiệu:
1965: VDQG
1967: VDQG
1968: Cúp C1 châu Âu

Chú thích:(*) Về hậu đài Stretford, xem thêm bài “Old Trafford-Mộng Hý Trường Hay Nhà Hát Những Giấc Mơ” xem tại "Old Trafford" trên Homepage.


Ảnh: Nobby Stiles(áo trằng), bật cao cản phá cú đánh đầu của "Báo Đen" Eusebio(Trận Anh-Bồ Đào Nha, bán kết World Cup 1966)

cuonglongzero
31-12-2004, 21:24
còn đây là hình của Nobby Stileshttp://fcmanutdvn.com/uploads/imgposts/u5_t1086804824_fDPP.jpg

cuonglongzero
01-01-2005, 09:00
Cứ theo cái lẽ được này mất nọ thông thường thì 1 cầu thủ nhỏ con tuy nhanh nhẹn nhưng không thể giỏi đánh đầu, còn những anh chàng cao quá thì tuy đánh đầu giỏi nhưng lại vụng về, lóng ngóng. Gary Pallister thì không thế, với chiều cao 1m93, khả năng cầm bóng của anh vẫn khéo léo như thường. Ở Pallister hội tụ đầy đủ những tố chất cần có của 1 trung vệ: chặn phá bóng bổng tốt, dĩ nhiên, và tốc độ cũng nhanh chẳng kém gì tiền đạo. 1 điểm đáng nhấn mạnh nữa là Pallister có kỹ thuật chuồi banh rất tốt, dù thế tuy thường xuyên chuồi mà ít khi bị thẻ.

Sinh ngày 30 tháng 8 năm 1965 tại Ramsgate, câu lạc bộ đầu tiên Pallister khóac áo là đội bóng nghiệp dư Billingham Town. Năm 1985, Pallister chuyển đến Middlesbrough, CLB anh hâm mộ từ thời thơ ấu. Boro tỏ vẻ chưa tin tưởng chàng hậu vệ 20 tuổi này nên chẳng bao lâu đã đem anh cho Darlington mượn. Sau 1 năm trui rèn ở Darlington, Pallister trở nên cứng cáp hơn, và khi trở về lại Ayresome Park, anh đã chiếm ngay được vị trí chính thức. Trong suốt 4 mùa bóng tiếp theo tại Boro, Pallister đã gây dựng tên tuổi như 1 trong những trung vệ hàng đầu nước Anh. Để giữ chân Pallister, 1 doanh nhân địa phương đã phải đứng ra bỏ tiền túi trả lương cho anh, mức lương quá cao mà Boro trong thời kỳ khó khăn tài chính không thể kham nổi.

Tuy nhiên, 1 CLB như Boro thì tuy có ưu đãi cũng vẫn không thể giữ mãi ngôi sao. Năm 1989, Pallister đến Old Trafford với giá chuyển nhượng 2.3 triệu bảng, cái giá kỷ lục cho 1 hậu vệ khi đó. Lần đầu tiên anh chơi cho MU là vào ngày 30 tháng 8 năm 1989 trong trận gặp Norwich. Giá trị chuyển nhượng quá lớn có lẽ đã tạo áp lực cho Pallister, và anh đã ra mắt không được thành công. Nhưng rồi, cùng với thời gian, Pallister thích nghi với môi trường mới, để hợp cùng Steve Bruce tạo nên 1 cặp trung vệ thép huyền thọai trong suốt 6 năm tiếp theo. Trong suốt lịch sử của MU, có lẽ cũng chưa bao giờ có cặp trung vệ nào lại hiệu quả và ăn ý với nhau đến thế. Tài năng của Pallister được tôn vinh vào năm 1992 với danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Nước Anh do PFA trao tặng. Anh là 1 trong số những hậu vệ rất hiếm hoi có được vinh dự này.

1 điểm không hay của Pallister là…khá lười tập luyện. Nhắc về người đồng đội cũ, Ryan Giggs nhớ lại “Anh ấy đá tập thật là tệ, lúc nào cũng kêu ca, và nhiều khi chỉ đứng không, chẳng chịu làm cái gì cả”. Nhưng dù có như thế cũng không sao, vì mỗi khi ra sân, Pallister đều thi đấu tốt. Trong thời gian thi đấu cho MU, mỗi mùa bóng, trừ mùa 1994-95, Pallister đều đạt được ít nhất 1 danh hiệu. Năm 1990 là cúp FA, 1991: Cúp C2 và Siêu Cúp Châu Âu, 1992: League Cup, 1993: VDQG, 1994: Cú Đúp, 1996: Cú Đúp, 1997: VDQG. Tổng cộng, Pallister gặt hái đến 10 danh hiệu cùng MU, 1 bảng thành tích chỉ thua có Dennis Irwin mà thôi. Kể từ năm 1992 cho đến năm 1998, Pallister cũng có 22 lần khóac áo tuyển quốc gia Anh, đáng tiếc là không lần nào được tham dự World Cup.

Gánh nặng tuổi tác, cộng với chấn thương lưng dai dẳng có lẽ đã khiến Pallister không còn theo kịp mật độ thi đấu dày đặc tại Old Trafford. Tháng 7 năm 1998, anh trở lại đội bóng cũ Middlesbrough theo 1 hợp đồng 2.5 triệu bảng. Pallister thi đấu cho Boro thêm 3 mùa bóng, trước khi giã từ sân cỏ vào năm 2001.


Vài thông số về Pallister trong thời gian khóac áo MU:

Số trận đấu/Bàn thắng

VDQG 314 12
FA Cup 38 2
League Cup 36 0
Cúp châu Âu 39 1
Tổng cộng 427 15

Danh hiệu:

1997 VDQG
1996 F.A. Cup
1996 VDQG
1994 F.A. Cup
1994 VDQG
1993 VDQG
1992 League Cup
1991 Siêu Cúp châu Âu
1991 Cúp C2
1990 F.A. Cup

cuonglongzero
01-01-2005, 09:21
Không gì thích hợp hơn khi dùng cụm từ "Thế Hệ Bi Hùng" để chỉ về đội quân Busby Babes của thập niên 1950. "Hùng" là bởi lối chơi hừng hực sức trẻ, với đỉnh điểm là 2 chức VDQG Anh, còn "Bi" là hàm ý nhắc đến kết thúc bi thảm của đội quân ấy tại đường băng Munich.
Nói về Busby Babes tức là nói về Duncan Edwards, Tommy Taylor, Bobby Charlton,... và dĩ nhiên không thể thiếu người đội trưởng Roger Byrne.

Roger William Byrne sinh tại Gorton, Manchester, nhằm ngày 8-2-1929, cùng năm với thủ thành huyền thoại người Liên Xô Lev Yashin, và cũng như Yashin, lựa chọn đầu tiên của Byrne không phải là bóng đá. Trong khi Lev Yashin bước vào làng thể thao trong khung gỗ của bộ môn khúc côn cầu,Roger Byrne khởi nghiệp trên sân bóng bầu dục. Tuy nhiên, trước sức cám dỗ của bóng đá, đến năm 20 tuổi, Byrne bỏ ngang bóng bầu dục để tham gia đội trẻ MU.
Tại MU, khả năng của Byrne nhanh chóng được ngài Matt Busby công nhận. Ngày 24/11/1951, ông ra mắt trong đội hình chính MU, trong trận đấu với kỳ phùng địch thủ Liverpool. Tuy đánh giá cao Byrne, ngài Busby lại phân vân không biết nên xếp ông vào đâu để tận dụng hết sở trường, do thế mà Byrne lần lượt được thử nghiệm ở các vai trò tả biên, tiền vệ trái, và hậu vệ trái. Năm 1952, khi cùng Mu đăng quang ngôi vô địch quốc gia Anh, vị trí của Byrne là tả biên, và Matt Busby quyết định trao cho ông vị trí ấy vĩnh viễn. Éo le thay, bản thân Byrne lại chẳng ưa cái vai tả biên cho lắm, ông nổi cáu và đòi được chuyển nhượng. Rốt cuộc, ngài Busby phải nhượng bộ, từ đó trở đi chỉ sử dụng Byrne ở vai trò hậu vệ trái mà thôi.
Mạnh mẽ, nhanh nhẹn,và lại cầm bóng tốt, Roger Byrne là 1 mẫu hình hậu vệ cánh kinh điển. Tốc độ cao cho phép ông lên xuống nhịp nhàng nơi biên trái, phòng thủ thì chắc chắc mà tham gia tấn công cũng đầy hiệu quả. Vừa khéo léo lại vừa năng nổ, có ý thức chiến thuật cao và khả năng chọn vị trí chính xác, Byrne khiến cho những huyền thoại chuyên chạy cánh như Stanley Matthews và Tom Finney cũng phải kiềng mặt. Vốn không có năng khiếu bẩm sinh, những kỹ năng kể trên của Roger Byrne là do ông cố công cần cù luyện tập, người xưa có câu "có chí thì nên" quả không ngoa.
Cả trong lẫn ngoài sân cỏ, Roger Byrne luôn tỏ ra là 1 người thông minh, trực tính, và đầy sức thu hút. Tính tình vốn thẳng thắn, ông không bao giờ ngại nêu lên chính kiến của mình, ngay cả khi phải đương đầu với ngài Busby. Nhưng ngài Busby không lấy đó làm phiền, mà ngược lại, còn tín nhiệm trao cho Byrne chiếc băng thủ quân, sau khi đội trưởng Johhny Carey treo giày vào năm 1954. Tuy chỉ già hơn vài tuổi so với các Busby Babes khác, nhưng Byrne luôn được toàn đội kính trọng và coi như 1 người anh lớn.
Đỉnh cao sự nghiệp của Roger Byrne đến vào các năm 1956 và 1957, khi ông dẫn dắt MU giành liên tiếp 2 chức VDQG, 1 lần hạng nhì cúp FA (1957). Đến năm 1958, Byrne cũng đã 33 lần khoác áo đội tuyển quốc gia (0 bàn thắng). Nếu như không có thảm họa Munich, ông sẽ đeo băng đội trưởng tuyển Anh ở World Cup Thụy Điển, sát cánh bên các đồng đội Duncan Edwards và Tommy Taylor.
Nếu như...vâng, nếu như không có Munich!!...Không ai quên được cái ngày tang tóc ấy, 6-2-1958, 2 ngày trước sinh nhật 29 tuổi của Roger Byrne. Khi chiếc phản lực cơ G-ALZU sắp nỗ lực cất cánh lần 3 tại đường băng, Byrne buồn bã thốt lên "Chúng ta rồi sẽ chết cả". Câu nói ấy đã trở thành định mệnh.
Nếu tính từ khi chuyển lên đội 1 của MU, sự nghiệp của Roger Byrne chỉ kéo dài vỏn vẹn hơn 6 năm, nhưng như thế cũng đã là đủ. Bruce Lee chỉ cần 5 bộ phim để vang danh Hollywood, và Roger Byrne cũng chỉ cần 6 năm để được ghi công như 1 thủ quân huyền thọai.

Vài thông số về Byrne trong thời thi đấu cho MU:

Số trận đấu/Số bàn thắng

VDQG 245/ 17
FA Cup 18/ 2
Cúp châu Âu 14/ 0
Tổng cộng: 277/ 19

Danh hiệu:

1952: VDQG
1956:VDQG
1957:VDQG

cuonglongzero
01-01-2005, 09:48
Không 1 danh hiệu nào khác thích hợp vớI Norman Whiteside hơn 2 chữ Thần Đồng. Ở lứa tuổI 17-18, Whiteside đã nắm giữ trong tay hàng loạt kỷ lục: Cầu thủ trẻ nhất trong độI hình chính Manchester United kể từ sau huyền thoạI Duncan Edwards, cầu thủ trẻ nhất ghi bàn tại các trận chung kết League Cup và FA Cup, cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử Cúp Thế GIới.


Sinh tạI North Belfast, Bắc Ireland, vào ngày 7 tháng 5 năm 1965, Whiteside được phát hiện và đưa về Old Trafford bởI nhà tuyển trạch tài năng trẻ Bob Bishop, ngườI trước đó từng đem đến cho MU George Best và Sammy McIlroy. Tuy tuổI hãy còn măng sữa, Whiteside đã mang biệt danh là “Norman lớn”, do ở sức mạnh và sự dẻo dai của anh. LốI chơi của Whiteside hoàn toàn dựa vào thể lực. Có thể nói 1 cách không quá đáng rằng anh là mẫu cầu thủ thích va chạm và chơi rắn, 1 lốI chơi có phần thô bạo, nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ luật cho phép. Nói đến Whiteside, ngài Alex Ferguson còn nhớ mãi trận MU-Arsenal năm 1986, ông nhắc lạI “Trận ấy Norman lớn đá cho đốI phương té lên té xuống suốt 90 phút mà không hề bị phạt 1 lần nào”. Chỉ câu nói này cũng đủ tóm tắt phong cách của Whiteside.

Do sảI chân không dài nên tốc độ của Whiteside không được cao, chính vì vậy mà anh lạI càng tận dụng lợI thế sức mạnh. MỗI khi tranh cướp bóng, Whiteside đều cố gắng hất văng đốI phương để chiếm lấy khoảng không gian phía trước, lấy đó làm lợI thế trước khi bước vào đua tốc độ. Tuy là vậy, nhưng nhược điểm vẫn là nhược điểm chứ không thể nào khắc phục hoàn toàn. Nếu không có điểm yếu này thì, theo lờI của ngài Alex Ferguson, Whiteside sẽ trở thành 1 trong những cầu thủ vĩ đạI nhất của lịch sử bóng đá liên hiệp Anh.

Ngày 24-4-1982, khi mớI 16 tuổI 353 ngày, Norman Whiteside lần đầu xuất trận trong màu áo đỏ MU, gặp đốI thủ Brighton. Chỉ 2 tháng sau, Whiteside được tuyển vào độI hình Bắc Ireland tham dự World Cup ở Tây Ban Nha, và ở độ tuổI 17 dư 41 ngày, anh đã phá kỷ lục của Pele (17 tuổI 235 ngày) để trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử Cúp Thế Giới. Không chỉ thế, Whiteside còn là 1 trong những ngôi sao của World Cup 1982, anh thi đấu tỏa sáng, giúp cho “chú lùn” Bắc Ireland lọt vào đến tận tứ kết. ChuỗI ngày huy hoàng của Whiteside trảI dài sang năm 1983, thời điểm anh nêu kỷ lục cầu thủ trẻ nhất từng ghi bàn trong lịch sử chung kết FA Cup, khi phá lướI đốI phương trong trận chung kết tái đấu giữa MU và Brighton (4-0). Trước đó 1 tháng, Whiteside cũng lập kỷ lục cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong 1 trận chung kết League Cup, đáng tiếc là chung cuộc Mu vẫn thất bạI ở cúp này.

Những năm tiếp theo, Thần Đồng Whiteside tiếp tục tỏa sáng trong cả 2 màu áo :United và Bắc Ireland. Năm 1985, anh cùng MU lần thứ 2 đăng quang ngôi vô địch FA Cup. Trận chung kết năm ấy, Quỷ Đỏ phảI đương đầu vớI 1 Everton đang ở đỉnh cao phong độ. Tỷ số 0-0 được kéo dài sang đến 2 hiệp phụ, và tình thế trở nên khó khăn cho MU khi họ bị lãnh thẻ đỏ và buộc phảI thi đấu vớI 10 người. Trong khi tưởng chừng như chiến thắng đang đợI chờ Everton, Norman lớn dốc bóng dũng mãnh dọc đường biên phảI, xâm nhập vào mép vòng cấm địa, tung 1 cú vuốt bóng thần sầu vào góc xa khung thành, vượt qua tầm vớI của thủ môn Neville Southall, kết liễu luôn số phận trận đấu. Bàn thắng này về sau được bình chọn là đẹp nhất trong năm.

Từ năm 1986 trở đi, ở độ tuổI 21, Whiteside trở thành độI trưởng tuyển quốc gia Bắc Ireland, đồng thờI khoác băng thủ quân MU mỗI khi Bryan Robson vắng mặt. Anh cũng được HLV thuyên chuyển từ vị trí tiền đạo xuống tiền vệ. Đáng buồn thay, điểm mạnh của Whiteside đã gây nên thảm họa cho anh; do lốI chơi quá thiên về sức lực mà Norman lớn đã bị chấn thương đầu gốI vào năm 1988, 1 chấn thương không bao giờ lành. Do chấn thương hành hạ, phong độ của Whiteside sút giảm, và đến năm 1989, anh được chuyển nhượng sang cho Everton vớI giá 600 000 bảng. Cũng trong năm này, Whiteside chơi trận cuốI cùng cho Bắc Ireland. Tổng cộng, anh khoác áo tuyển quốc gia 38 trận, ghi 9 bàn.

Suổt trong thờI gian thi đấu cho Everton, Whiteside luôn luôn phảI vật lộn cùng vết chấn thương cũ. Rốt cuộc, khi không thể cố gắng thêm được nữa, anh buộc phải giã từ sân cỏ vào năm 1992, khi mớI 27 tuổI, tròn 1 thập kỷ sau khi làm kinh ngạc thế giớI ở World Cup Tây Ban Nha. Thấm thía nỗI đau của riêng mình, sau khi treo giày, Whiteside đăng ký theo học đạI học, chuyên ngành về chữa trị chấn thương chân trong thể thao. Hiện nay, anh là 1 chuyên gia về khoa chấn thương này.

Tuy chỉ chính thức giã từ sân cỏ năm 1992, thực sự thì chấn thương đã hủy hoạI sự nghiệp của Whiteside từ năm 1988, khi anh vừa 23 tuổi. Sự nghiệp của Norman lớn khởI đầu quá sớm và lụI tàn cũng quá nhanh, từ khi gây dựng thanh danh cho đến buổI hoàng hôn trong đờI bóng đá, anh vẫn còn ở trong độ tuổI Thần Đồng.

Thông số về Whiteside trong thời gian chơi cho MU:

Số trận/ Số bàn thắng
VDQG 193/ 47
FA Cup 24/10
League Cup 26/ 9
Cúp Châu Âu 11/ 1
Tổng cộng:l 254/ 67

Danh hiệu :
FA Cup 1983
FA Cup 1985

cuonglongzero
01-01-2005, 09:51
Trong thập niên 1960, khi Eric “The King” Cantona còn nằm trong nôi, Denis Law đã nổi danh là Ông Vua Của Old Trafford. Các fan hâm mộ điên cuồng vì Law, do mỗi khi ra sân, Law đều thi đấu bằng tất cả trái tim.
Chàng trai xứ Scot ấy luôn dũng mãnh tiến lên và không bao giờ lùi bước, chàng làm kinh hòang các thủ môn đối phương với 1 khả năng làm bàn thiên phú có thể sút bóng vào khung thành từ bất kỳ 1 góc độ nào. Có thể nói ở Law hội tụ đầy đủ những phẩm chất của 1 tiền đạo siêu hạng, ông sút tốt cả 2 chân, đánh đầu giỏi, kỹ thuật cá nhân tuyệt vời, cộng thêm vào đó là bản năng sát thủ, luôn xuất hiện đúng lúc đúng nơi. Người ta bảo rằng tầm nhìn của Law luôn vượt hẳn mọi người, do đó mà ông luôn là cầu thủ “thấy trước” được những cơ hội.

Tuy chiều cao chỉ ở mức trung bình và thân hình hơi mảnh khảnh, Denis Law mang trong mình 1 “trái tim sư tử” và 1 khả năng bật nhảy của chúa sơn lâm. Ông không ngại va chạm với những đối phương cao to lực lưỡng, và, cũng như Pele, thường xuyên bật cao hơn những hậu vệ to lớn hơn mình để đánh đầu ghi bàn. Luôn ra sân với chiếc áo tay dài được xắn cong điệu đàng nơi cổ tay, Law tạo cho mình 1 phong cách riêng biệt thật tao nhã và thanh lịch. Nhận xét về Law, đồng đội George Best thán phục rằng “anh ấy có thể ghi bàn ngay khi chỉ có 1 phần trăm cơ hội”. Nhưng không chỉ thế mà thôi, khả năng kiến thiết bóng của Law cũng xuất sắc không kém, biết bao những bàn thắng của Best là chính do Law dọn cỗ.

Denis Law sinh ngày 24-2-1940 tại Anberdeen, Scotland.Ông khởi đầu sự nghiệp vào năm 1956 tại Huddersfield.Sau Huddersfield, Law chuyển sang Italy thi đấu cho Torino. Đến năm 1962 thì ông đầu quân cho MU với giá chuyển nhượng kỷ lục nước Anh thời ấy là 115 000 bảng.Trong trận đầu tiên khoác áo Mu vào ngày 18-8, gặp WBA, Law đã ghi ngay 2 bàn thắng.Kể từ đó, Law trở thành tiền đạo không thể thiếu của theReds, các fan hâm mộ đặt cho ông biệt danh là The King. Trong 5 mùa giải đầu tiên, Law thi đấu 222 trận cho MU, ghi được 160 bàn, nhiều bàn trong số đó đẹp đến như không tưởng. Ông cùng với Bobby Charlton và George Best đã tạo thành cặp tam tấu huyền thoại, đưa Mu đoạt 2 cúp VDQG 1965, 1967, cúp FA năm 1963. (Đáng tiếc là Law lại không có mặt trong chiến dịch chinh phục cúp C1 năm 1968 do chấn thương đầu gối). Bộ tam tấu của Mu mỗi người đều dành được 1 quả bóng vàng châu Âu trong thập kỷ 60, Denis năm 64, Bobby năm 66, và George năm 1968.

Kết thúc mùa giải 1973,Denis Law về thi đấu cho Manchester City theo hợp đồng chuyển nhượng tự do. 1 năm sau, chính ông đã ghi bàn thắng duy nhất vào phút 85 bằng 1 cú đánh gót, đem lại thắng lợi cho City trong trận Derby thành Manchester, chính thức tiễn đưa…United xuống hạng. Sau khi phá lưới United, khuôn mặt Law trở nên rầu rĩ đến tội nghiệp, chứng tỏ 1 cảm tình sâu đậm dành cho đội bóng cũ sẽ không bao giờ phai. Trận đấu ấy cũng là lần cuối cùng Law ra sân tại giải VDQG Anh.

Denis Law kết thúc sự nghiệp cầu thủ sau khi cùng tuyển QG Scotland tranh tài tại World Cup 1974, tổng cộng Law khoác aó tuyển QG 55 lần, ghi 30 bàn thắng. Trận đấu đáng nhớ nhất của Law cho đội tuyển là vào năm 1967, khi Scotland đánh bại đối thủ truyền kiếp Anh, đương kim vô địch thế giới, 3-2 ngay tại Wembley. Trong suốt chiều dài lịch sử bóng đá Scotland, họa chăng chỉ có Kenny Dalglish là xứng đáng được đứng ngang hàng cùng Law mà thôi.

Sau đây là 1 vài con số thống kê về LAw trong thời gian ông thi đấu cho MU:(1962-1973)

Số trận đấu, số bàn thắng
Giai VDQG: 305 trận, 171 bàn
Cúp FA 44 trận, 34 bàn
League Cup 11 trận, 3 bàn
Cúp châu Âu: 33 trận, 28 bàn.
Tổng cộng: 393 trận, 236 bàn

Danh hiệu:
Cúp FA 1963
Vô địch quốc gia 1965, 1967.

JakeSatan
01-01-2005, 10:08
chú post cũng nên xem bài nào anh em đã post roài thì đừng post nha, hình hnư cái bài Dennis Law có rùi đấy

cuonglongzero
01-01-2005, 19:14
chú post cũng nên xem bài nào anh em đã post roài thì đừng post nha, hình hnư cái bài Dennis Law có rùi đấy
hehe xin lỗi nhan
em mới tham gia box này nên không để ý

cuonglongzero
02-01-2005, 19:58
Vinh danh Bryan Robson
Nói đến bóng đá Anh vào thập niên 1980 cũng tức là nói đến Bryan Robson. Anh được coi là tiền vệ số 1 của đảo quốc sương mù, là động lực thi đấu của độI bóng đỏ Manchester United. Đã có thờI Manchester United được mệnh danh là “one man team”, và One man ấy không ai khác chính là Robson.
Thành công hay thất bạI của “One man team” là phụ thuộc vào Robson, hễ anh ra sân thì Red Devils tràn đầy sức mạnh, mà nếu anh phảI ngồI ngoài đường pitch thì các đồng độI sẽ trở nên bế tắc. Đáng buồn 1 điểm rằng Bryan Robson thường hay bị chấn thương, và đó là 1 trong những lý do dẫn đến các kết qủa không mấy khả quan của MU trong thập niên 80.

Sinh ngày 11-1-1957 tạI Chester-le-Street, Durham, Bryan Robson khởI nghiệp cầu thủ cùng West Bromwich Albion năm 1973. Anh ra sân lần đầu trong màu áo West Brom năm 1975 và chỉ 1 năm sau thì đưa CLB này thăng hạng. Năm 1981, Robson chuyển sang Manchester United vớI cái giá kỷ lục nước Anh thờI đấy:1,7 triệu bảng. Không lâu sau khi chuyển đến MU, Robson được HLV Ron Atkinson tín cẩn trao cho chiếc băng thủ quân, và anh đã đeo nó trên tay suốt 12 năm sau đó. Trong suốt lịch sử MU, chưa có ai từng đeo băng độI trưởng trong 1 thờI gian dài đến vậy.

Ngay từ trận đấu ra mắt gặp Tottenham vào ngày 7 tháng 10 năm 1981, Bryan Robson đã trở thành nguồn cảm hứng của MU. Anh ghi tên mình vào lịch sử vớI tư cách là ngườI thủ quân đầu tiên tạI Anh quốc từng 3 lần giương cao cúp FA(1983,1985,1990)Tuy là tiền vệ trung tâm, Robson có bản năng săn bàn khá nhạy cảm và thường ghi được những bàn thắng quan trọng.Trong trận chung kết cúp FA năm 1983, anh ghi 2 bàn vào lướI Brighton; còn ở trận chung kết năm 1990 trước Crystal Palace, anh cũng góp 1 bàn vào chiến thắng chung cuộc. 1 kỷ niệm đáng nhớ khác của Robson là 2 lượt đấu vớI Barcelona tạI cúp C2 năm 1984, ở trận lượt đi MU thua 2-0, nhưng Robson đã tỏa sáng ghi 2 bàn, giúp Mu thắng lạI 3-0 ở lượt về.7 năm sau, Mu lại 1 lần nữa đả bạI Barcelona(2-1) tạI cúp C2, nhưng lần này là trong trận chung kết ở Rotterdam.

Tuy đã cùng MU đoạt được FA CUP lẫn cúp châu Âu, nhưng “phòng truyền thống” của Bryan Robson từ bao năm vẫn còn vắng bóng 1 danh hiệu VDQG. Rốt cuộc vào năm 1993, danh hiệu ấy cũng đã đến, mở đầu cho 1 thập kỷ hoàng kim tạI Old Trafford. Trong mùa bóng 92-93, vớI sức nặng tuổI tác trên vai, Robson đã không còn giữ được vị trí chính thức, nhưng hễ mỗI lần anh ra sân thì Steve Bruce đều phảI nhường lạI băng thủ quân.

Với độI tuyển quốc gia Anh, Bryan Robson thi đấu 90 trận(65 trận là độI trưởng), ghi được 26 bàn, tham dự 3 World Cup 1982, 1986,1990.Năm 1982, Robson lập kỷ lục cầu thủ ghi bàn nhanh nhất trong lịch sử World Cup khi lập công ở giây thứ 27 trong trận Anh gặp Pháp(kỷ lục này bị phá bởI Hakan Sukur của Thổ Nhi Kỳ tạI World Cup 2002). Lần đầu tiên Robson khoác áo tuyển Anh là trận gặp Ireland năm 1980, còn lần cuốI cùng là trận gặp Thổ Nhi Kỳ năm 1990.

Sau khi cùng MU đăng quang ngôi VDQG lần thứ 2 liên tiếp vào năm 1994, Bryan Robson từ gĩa Old Trafford để trở thành cầu thủ kiêm huấn luyện viên tạI Middlesbrough(Boro). Năm 1995, anh đưa Boro thăng lên ngoạI hạng. Năm 1997, vớI các ngôi sao như Juninho và Ravanelli trong độI hình, Boro lọt vào 2 trận chung kết: FA Cup và League Cup, nhưng đồng thờI cũng…rơi xuống lạI hạng nhất.Cũng trong năm 1997 này, Robson quyết định từ giã sân cỏ để chuyên tâm làm huấn luyện. Lần cuốI cùng anh ra sân là trong trận Arsenal-Boro, ở tuổI 40.Tổng cộng, Robson đã chơi tất cả 731 trận cho West Brom, MU, và Boro.

Sau 1 mùa bóng ở giảI hạng nhất, Robson lạI đưa Boro trở lạI ngoạI hạng. Tuy nhiên, kết quả thi đấu của Boro tạI Premier League không được khả quan cho lắm. Sau khi dẫn dắt CLB trụ hạng thành công vào năm 2001, Robson tuyên bố từ chức.Tháng 11 năm 2003, Robson ký hợp đồng làm HLV cho Bradford City.

Vài con số thống kê về Robson trong thờI gian thi đấu cho MU:


S ố trận đấu và số bàn thắng
Số trận đấu Bàn thắng
VDQG 326 74
FA Cup 33 10
League Cup 49 5
Cúp châu Âu 26 8
Total 434 97


Các danh hiệu
1994 F.A. Premier League
1993 F.A. Premier League
1991 Cúp C2
1990 F.A. Cup
1985 F.A. Cup
1983 F.A. Cup

cuonglongzero
02-01-2005, 20:03
Peter Schmeichel Thủ môn huyền thoại
Peter Schmeichel là người ở bên ngoài câu hỏi :Ai là thủ môn xuất sắc nhất trong lịch sử của câu lạc bộ Manchester United.Mặc dù trong thực tế việc so sánh từ xưa đến nay hay từ lúc câu lạc bộ thành lập đến bây giờ là rất khó khăn tuy nhiên Peter có thể nói thể nói là phù hợp với danh hiệu cao quí đó.

Một điều không thể làm được đó là việc tìm kiếm một lỗi lầm hay thiếu sót nào của một "ngọn núi" trong thế giới cầu thủ chuyên nghiệp ,điều đó được khẳng định trong mỗi cấp độ mà anh tham gia ,anh luôn luôn chứng minh mình là người xứng đáng đứng trong nhóm các cầu thủ hàng đầu.Là người có tính tranh đua,thích công kích và đặc biệt không giới hạn thúc đẩy các đồng đội chiến đấu và chiến đấu những điều đó đã tạo ra một "Ông lớn Đan Mạch" thành một pháo đài không thể phá thủng.

Sinh ra ở Gladsaxe,Đan Mạch..anh đã là một cổ động viên của United khi còn bé và thần tượng của anh là thủ môn ở thập niên 80 Gary Bailey.Anh bắt đầu chơi bóng ở một vị trí không một người hâm mộ nào có thể tin được đó là nơi của những chân sút hàng đầu hiện nay đang ngự trị nhưng đó cũng có thể là một điều may mắn cho chính anh, vì anh hiểu và biết những cảm giác khi là một cầu thủ ở vị trí hoàn toàn khác sau này.Tài năng bẩm sinh thực sự đã trỗi dậy,rất sớm anh trở thành thủ môn chuyên nghiệp và chơi cho đội bóng địa phương Hvidøvre tuy vậy mọi chuyện chỉ mới thực sự bắt đầu , anh chuyển đến Brondby để được tham gia giải đấu cao nhất của Copenhagen .
Alex Ferguson đã tìm thấy tiềm năng của một thủ môn hàng đầu thế giới và mang anh về Old Trafford tháng 8 năm 1991 với một cái giá rất nhỏ £500.000 , một cuộc đầu tư sinh lời của câu lạc bộ .Không có gì là thiếu tôn trọng với hai thủ môn lúc đó là Les Sealy và Jim Leighton nhưng thực sự vị trí thủ môn luôn luôn là một điểm yếu, nơi có rất nhiều vấn đề của MU .Người đàn ông lớn này đã giải quyết những khó khăn đó và những thành tích tuyệt vời đến rất sớm :League Cup : 1992, Premier League : 1993, 1994, 1996, 1997 ,và năm 1999 anh có chiếc cúp thứ F.A thứ 3 (1994;1996) điều đó đã giúp anh trở thành thủ môn 3 lần có cú cúp đôi..Và tất nhiên trong tất cả thành tích mà anh đã đạt được với "Qủi đỏ" không thể không nào quên được chiếc cúp Champion League năm 1999 ,một cú ăn ba trong một mùa giải.
Buồn thay anh quyết định rời nước Anh vào cuối mùa giải năm 1999 bởi vì với 60 trận liên tục không có nghỉ đông đã làm kiệt sức một thủ môn huyền thoại nhưng trước hết là một con người ở tuổi 35, một lứa tuổi được coi là "hết hạn" với bóng đá đỉnh cao.Trong một môi trường có một chút nhiệt huyết ở Sporting Lisbon (Bồ Đào Nha) vào năm 2000 cũng là mùa giải đầu tiên của anh ở đây và hơn hết anh cũng đóng góp một phần không nhỏ giúp đội bóng này lần đầu tiên đọat cúp vô địch sau 17 năm .Schmeichel chơi trận cuối cùng ở cấp Quốc Tế cho đội tuyển quốc gia là ở trận Đan Mạch gặp Slovenia vào tháng 4 năm 2001 cũng là trận đấu thứ 129 của anh.Có lẽ anh quyết định nghỉ ngời chăng ? Câu trả lời là :không .
Đã có một vài sự liên hệ từ một vài đội bóng và một "cú sốc" với người yêu bóng đá trên thế giới cũng như Man Utd nói riêng anh trở lại giải Ngoại Hạng Anh trong màu áo của Aston Villa với giá chuyển nhượng tự do vào năm 2001.Thậm chí một cú sốc lớn hơn đến với người hâm mộ United khi anh đã trở lại Manchester nhưng đầu quân cho đội bóng kình địch Manchester City do sự lôi kéo của cựu huấn luyện viên trưởng đội tuyển Anh Kevin Keegan vào đầu mùa giải 2002,một lần nữa giá chuyển nhượng là tự do.Anh chứng minh mình vẫn là một thủ môn tốt nhưng thời gian ở Maine Road đã làm ảnh hưởng xấu tới những chấn thương và Peter cuối cùng đã quyết định kết thúc sự nghiệp chơi bóng chuyên nghiệp để giúp cho sức khỏe tốt hơn vào tháng 5 năm 2003..Tuy đã rời xa "đá bóng" nhưng anh không từ bỏ "bóng đá" khi quyết định trở thành một nhà bình luận thể thao.

Người làm chủ khi một đối một

Anh là một nhà vô địch trong việc cản các cú sút tầm xa , đặc biệt là hiếm khi bị thua từ ngoài vòng cấm địa trong sự nghiệp ở United .Không chỉ có vậy ,với những cú sút gần anh cũng thực sự có thể khống chế tốt.Trong những ngày còn đi học ,với việc tham gia vào đội bóng ném ,anh đã tỏ ra hoàn hảo trong việc dặm nhảy và cản các pha bóng nhiều nhất có thể.Khi một đối một với người tấn công ,trong các thủ môn Schmeichel là tuyệt nhất trên thế giới.Peter đã từng nói nếu đối mặt với một cầu thủ mà đột phá qua được hàng thủ của Manchester United và đối mặt với chính bản thân mình ,tìm cách để chiến thắng ,Schmeichel sẽ cố gắng để thu hẹp góc sút đến hết mức có thể. Theo các nhà phân tích thể thao sự phân bố chiều cao và độ rộng lớn trên cơ thể của anh là một sự sắp xếp có ý đồ của một ngôi sao ,khi anh làm việc đó các cầu thủ tấn công sẽ có mục tiêu là vào các góc nhỏ hơn là góc cao.

Những pha cứu bóng tuyệt vời

Những pha cản bóng tuyệt vời của anh có quá nhiều và đều đáng được đề cập đến nhưng nổi bật nhất trong số đó là :màn trình diễn tuyệt vời trong trận tranh cúp F.A năm 1996 với Newcastle United, Khi anh giữ vững mảnh lưới trước sức công phá của đội quân "trắng đen" trong suốt 90' và cuối cùng MU giành chiến thắng 1-0.Tiếp tục gây ngạc nhiên trận đấu gặp Rapid-Vienna cũng là một trong những trận đấu tuyệt vời của anh điều đó được so sánh giống như khi Gordon Banks gặp Pele,một sự phản chiếu tuyệt vời.Sau đó là một cú cứu bóng đi vào lịch sử trong trận đối đầu gặp Arsenal ở bán kết F.A Cup vào đúng như giây phút cuối cùng anh đã cản được cú sút Penalty của Dennis Bergkamp Thêm một điểm dành cho anh khi cứu nguy trước sự bắn phá ác liệt của Inter Milan mà ở đây là sự đối đầu với cầu thủ người Chile, Zamorano vào năm 1999.Với đội tuyển Quốc Gia anh là một trong những nhân tố giúp cho Đan Mạch giành được chiếc cúp Châu Âu vào năm 1992 tại Thụy Điển.Anh còn là giữ sạch lưới khi gặp Đức trong trận trung kết và Đan Mạch thắng 2-0.Thậm chí anh còn ghi bàn cho đội tuyển Quốc gia từ một cú sút Penalty vào tháng 6 năm 2000 trước đội Bỉ trong một trận giao hữu quốc tế.

Nhà cải cách ở vị trí thủ môn

Không chỉ biết cứu bóng Schmeichel còn tạo ra một vài điều mới lạ với chính bản thân mình ở vị trí cuối cùng trong hàng phòng ngự.Thật sự làm kinh ngạc đến một vài thủ môn ,anh đã trở một mối đe dọa trong việc tham gia tấn công có khi là cú chuyền đây uy lực đến cho Giggs hoặc Becks để bắt đầu một đợt phản công cho United, thường là ở gần phía góc của đường biên dọc.Vào thời điểm đó United sẽ chơi gây áp lực trên toàn sân (pressurising) ,sau đó một trong các cầu thủ trên chuyền lại cho Peter , anh đỡ bóng và chuyền tới trong một cú lao vào dũng mãnh của Giggs ,cầu thủ này sẽ phá tan hàng phòng ngự đối phương đang bối rối trước sự xuất hiện của thủ môn người Đan Mạch.Một trong những lần tham gia tấn công nhiều nhất là nếu United đang bị dẫn trước và thời gian chỉ còn lại khoảng mấy phút ,khi nhận được bóng anh sẽ chuyền nhanh về phía góc cho đồng đội rồi rời khung thành chạy nhanh vào vùng cấm địa đối phương.Schmeichel cũng đã từng ghi một bàn trong môt hoàn cảnh tương tự trong trận đối đầu với Rotor Volgograd vào năm 1995.Sau đó trong những giây sắp tàn ở trận trung kết cúp C1 năm 1999 gặp Bayern Munich anh đã bị thương và tất nhiên là không còn một pha tham gia tấn công nào được trình diễn nữa.....Nhưng đó chuyện không đáng ngạc nhiên trong bóng đá nhưng người hâm mộ chỉ cảm thấy thiếu vắng một "hương vị mới" .

Một người cầu toàn trong bóng đá ?

Schmeichel mang lại sự tin tưởng không chỉ cho đồng đội mà cho cả đội bóng.Cũng như là trở thành một thủ môn tuyệt vời nhất anh cũng là một người "ồn ào" nhất trên sân bóng .Anh luôn trút nỗi giận dữ lên đầu các hậu vệ những người phối hợp với anh ở hàng phòng ngự nếu nghĩ họ mắc lỗi ,giọng hét của anh có lẽ còn có thể giống như tiếng còi xuyên suốt sân bóng.Sự phẫn nộ của Peter là thường xuyên xảy ra,anh là một người cầu toàn ? hay bị ám ảnh vì bóng đá ? .Nếu một bàn thắng được ghi mà trước đó anh đã cản phá được nó thì đó được coi như một sự xúc phạm .Thậm chí kể cả trong tập luyện anh có thể bực mình với bất kì đồng đội nào nếu tỏ ra có những lỗi cơ bản.Schmeichel đã hò hét với các đồng đội bắt đầu từ năm 1990 và điều đó được coi là một vấn đề thông thường,Những người đồng nghiệp chính xác thấy lợi ích từ sự "ồn ào" hơi thái quá ấy.Anh giúp họ có sự chú ý nhất định,và không thể bao giờ "ngủ" được với anh ở "đằng sau" họ .Anh cảnh giác cho họ những gì mà họ chưa chắc có thể nhận thức được.Anh sẽ di chuyển lên ngang với hàng phòng ngự và truyền đạt cho họ những ý tưởng của mình.Những cầu thủ thì luôn biết "gã đàn ông nóng tính" này ở phía sau để kiểm soát mọi thứ.

Kết luận

Không có một cầu thủ nào có thể mong muốn có được những thành tích tốt hơn như vậy khi rời "the red devils" .Là nhà vô địch ở Premier League(ngoại hạng Anh), FA Cup (cúp liên đoàn - quốc gia Anh) ,đội trưởng đội bóng vô địch Champion League (C1) và được nâng trên tay những danh hiệu nổi tiếng.Cú ăn ba là một kết cục công bằng với một năm huy hoàng đối với anh và xứng đáng cho những năm tháng cuối cùng của sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp.
Mọi người nói rằng Peter chắc chắn đáng được hưởng 12 điểm một
mùa giải ở Manchester United .Nếu thiếu anh MU sẽ có bao nhiêu danh hiệu ? Bao nhiêu lần anh ngăn cản những những cú sút quan trọng được thừa nhận hoặc dừng lại các cú sút từ Bergkamp, Shearer, Owen, Zidane, Ronaldo.... bản danh sách còn tiếp tục.Nếu một vài năm trước thì câu hỏi đã là :"Ai là cầu thủ quan trọng nhất của United ở thập niên 90 ? " Hiển nhiên phần lớn các câu trả lời sẽ là Eric Cantona,nhưng bây giờ nếu hồi tưởng lại quá khứ ,câu trả lời tới câu hỏi đó có thể là Peter Schmeichel không ?Anh là người cuối cùng của hàng phòng ngự ,một hòn đá tảng mà đã xây dựng lên một đế chế hùng mạnh.Trong 9 năm ,người đàn ông nay đã cứu giúp hình ảnh bóng đá của MU và là một phần cơ bản để tạo lên những danh hiệu mà Sir Alex mang lại .Bên cạnh những tên tuổi thành danh trên thế giới như Shilton, Zoff, Jennings và Yashin, Peter Schmeichel sẽ luôn luôn và mãi mãi được coi là một thủ môn xuất sắc nhất mà thế giới đã từng có .

Hồ sơ với United:

Tên đầy đủ :Peter Boleslaw Schmeichel
Ngày sinh:18/11/1963
Nơi sinh: Gladsaxe, Denmark
Vị trí:Thủ Môn
Ra mắt tại United:17/8/1991 VS Notts C (H)
Chơi tổng cộng 392 trận,giữ sạch lưới trong 178 trận.
Thành tích với United:
-League Cup:1992
-Premier League1993,1994,1996,1997,1999
-F.A Cup:1994,1996,1999
-Champion League :1999.

cuonglongzero
02-01-2005, 20:16
Học thuyết tiến hóa của Alex FergusonÔng đã đào tạo ra những cầu thủ từ 30 năm trước và trong 18 năm ở Manchester united những cầu thủ tài năng đã trở thành một phần quan trọng trong đội hình chính 23 cầu thủ những người mà đã chứng minh cho cả thế giới sự thành công của ông trên cương vị của chiến lược gia.Sir Alex Ferguson đã có một buổi thảo luận về những vấn đề ưa thích của mình.
Sự thành công của Sir Alex đang và đã được mang đến bởi những cầu thủ trẻ vì vậy phải trở lại những ngày mà ông bắt đầu công việc làm huấn luyện viên.Nhưng thậm chí kể cả khi một cậu bé địa phương đã gọi Lee Martin là người đưa clb trở thành nhà vô địch FA cup 1990 thì vị huấn trưởng cũng không ngừng đưa những chức vô địch mà mọi người có cảm giác là nặng trĩu tới người hâm mộ cùng với các tài năng trẻ do câu lạc bộ đào tạo.Và nếu bạn đủ may mắn xem một buổi tập luyện bạn sẽ thực sự biết chính xác bóng đá trẻ có ý nghĩa như thế nào tới Sir Alex Ferguson và Man utd.Để bắt đầu ,bạn không thể bỏ sót học viện bóng đá nơi huấn luyện các cầu thủ trẻ với giá £8m đối diện với tòa nhà dành cho đội hình chính của câu lạc bộ,nhưng một vài thứ bên trong toà nhà đó cũng sẽ nhắc nhở mọi người tới cách dùng cầu thủ của Sir Alex với những tài năng bên khu học viện.Những khung hình để kỉ niệm sự trưởng thành của các cấp đội tuyển cũng như các cầu thủ được trang trí trong các phòng và hành lang.Những hình ảnh về Beckham,Scholes,Giggs etc giữa muôn vàn những nhân vật chính thường xuyên được trưng bầy,nhưng bạn cũng có thể nhận biết về hình ảnh những cầu thủ đang hiện diện trên sân bóng hiện nay như Brown,O'shea và Fletcher.

Khi bạn đi tới văn phòng của huấn luyện viên , bạn sẽ nhìn thấy một trong các bức ảnh ấn tượng nhất,đó là đội hình đã vô địch cúp thanh niên mùa giải trước được để trên cao nhất.Tuy nhiên để nhìn thấy những bức ảnh về các đội tuyển trẻ với nhiều giải thưởng bạn phải đi sâu vào bên trong văn phòng của ông tất nhiên là trong đó bao gồm cả đội hình vô địch Châu Âu năm 1992 (đội trẻ) và 1999(đội hình chính).Những Giggs,Scholes,Beckham,Butt và Gary tất cả họ cũng trưởng thành từ một đội trẻ và đó là một thành tích lớn nhất của ông đã làm được.Để có thể làm được điều đó,Sir Alex đã hăng hái giúp đỡ những cầu thủ trẻ United đang trên đà phát triển để hướng tới tương lai nhưng không có dấu hiệu bớt đi sự nghiêm khắc.

Trong suốt sự nghiệp huấn luyện ngài luôn luôn liên hệ với các tài năng trẻ đang phát triển.Triết lý sống đằng sau điều đó là gì ?[b]
Niềm an ủi và sự khuây khỏa đã đưa tôi tới sự bắt đầu.Trong công việc huấn luyện viên đầu tiên của tôi ở East Stirlingshire vào năm 1974 tôi đã có 12 cầu thủ hoặc một vài thứ giống như tôi cố gắng điều khiển hệ thống của một đội hình trẻ nhưng lúc đó tôi chỉ ở đó có 4 tháng.Sau đó tôi đi tới St Mirren và họ cũng không có tiền để trả.Mọi thứ trở lên rất tệ hại bạn có thể làm gì ? Với những ý tưởng đã chuẩn từ trước tôi đã có cuộc thăm dò với những cậu bé trong vùng Glasgow mỗi buổi tối và tôi cảm thấy thích thú với việc phát triển bóng đá và các cầu thủ trẻ từ đó ,tôi đã có nhiều hơn là sự toại nguyện với việc đào tạo cầu thủ mà tôi thấy là tài năng.Từ St Mirren một câu lạc bộ nhỏ chúng tôi đã huấn luyện ra 5 năm tuyển thủ quốc gia :Frank McGarvie,Tony Fitzpatrick,Peter Weir,Billy Stank và Frank McAvennie.

Sau đó tại Aberdeen,ngài đã mang tới những chiếc cúp như là chức vô địch Châu Âu năm 1983 với các tiền đạo John Hewitt và Eric Black,ngài đã học được gì từ bước ngoặt đó ?
Tôi đã học một điều là Nếu bạn đưa cho những người trẻ tuổi một cơ hội và chắc chắn bạn sẽ thật kinh ngạc với những gì họ làm và chúng tôi không sợ cũng như ngần ngại để trao cơ hội đến các cầu thủ trẻ tại Aberdeen .Phần lớn trong số họ đều ở trong đội hình 1 khi mới 17 tuổi và câu lạc bộ có quá nhiều việc phải làm với đội hình non trẻ .Vào thời điểm đó hầu hết những chàng trai tốt nhất mà bị loại khỏi câu lạc bộ Glasgow đều được chúng tôi nhận.Archie Knox và tôi thường đi và tham gia các buổi họp huấn luyện ở một sân bóng ở Glasgow và trở lại Aberdeen vào 1h30 sáng.Chúng tôi đã làm như vậy trong cả mùa giải

Ngài đã thảo luận về chiến lược phát triển cầu thủ trẻ với Sir Matt và Jimmy Murphy khi ngài trở thành huấn luyện viên của Man utd vào năm 1986 chứ ?
.Không.Ý tôi muốn nói là tôi có những suy nghĩ của riêng mình về vấn đề này khi tôi đến đây lần đầu tiên , tôi không thực sư biết nhiều về Matt và Jimmy nhưng họ cũng hài lòng khi nhìn thấy tôi dự định trở lại con đường đó.Trước đây và bây giờ tôi vẫn thường dùng bữa trưa với Jimmy Murphy.Ông ấy là một nhân vật xuất sắc và cũng là người nhiệt huyết với United, hàng ngày ông vẫn đang theo dõi sự trưởng thành của các cầu thủ trẻ.Thâm chí kể cả bây giờ ông cũng là một người chiêu mộ cầu thủ cho chúng tôi trừ khi là ông "về với chúa" như ý định của mình và tất nhiên Matt cũng vui mừng bởi vì đó là một trong các con đương mà họ đã mang lại danh tiếng cho United và điều đó đã và mãi mãi được công nhận trong lịch sử của câu lạc bộ.

Có một câu nói đã được ghi lại khi ngài mới đến đây là ngài không nghĩ rằng lại có sự kém cỏi trong việc đào tạo các cầu thủ trẻ tại Manchester United.Ngài đã mong đợi nhiều thứ tốt hơn ở câu lạc bộ này có phải không ?
Phần lớn các huấn luyện viên làm việc dựa trên những giả thuyết rằng họ sẽ nhận được đội hình 1 để giữ được công việc của họ,vì vậy họ chú tâm xây dựng đội hình chính đó nhưng ngược lại giả thuyết của tôi là xây dựng một câu lạc bộ và cần một nền móng,và nền móng đó là các cầu thủ trẻ.Hãy công nhận điều đó là đúng và mỗi năm bạn mong đợi một người nổi bật trong các cầu thủ trẻ tiến lên,điều đấy cho bạn có quyền xây dựng một đội tuyển mà những cầu thủ có kĩ năng giống nhau trong đội hình chính.Khi lần đầu tiên tôi đến United chúng tôi đã đưa đến cho các cầu thủ trẻ cơ hội để xác nhận xem trình độ nào họ có thể nhận và sắp xếp họ vào vị trí phù hợp rồi phát triển họ theo đúng nguyên tắc.
Đội hình năm 1992/1993 là một kiểu mẫu cho mỗi năm sau họ nhưng điều đó dường như là một điều hiếm có và dường như rất khó xảy ra.Đó là một mối quan hệ gắn bó giữa các cầu thủ cùng trưởng thành với nhau.Thậm chí bảy hay tám người trở thành cầu thủ chính trong đội hình 1.Bạn cũng phải nhớ rằng chúng tôi cũng có một vài cầu thủ tuyệt vời khác dưới sự huấn luyện của câu lạc bộ nhưng đã nhận một chấn thương tồi tệ và không thể tiếp tục sự nghiệp cụ thể là Ben Thornley hay một số cầu thủ mà đội bóng đã làm cho mượn hoặc bán đi như Woodgate (Newcastle) và Bridges (Leeds).

Ngài đã "gạt" họ đi bởi vì số lượng các cầu thủ tài năng quá dồi dào sẵn sàng thi đấu cho câu lạc bộ có phải không ?
Đúng.Trinh độ của họ đã lên khá cao và chúng tôi cũng đã theo dõi điều đó trong tất cả thời điểm có thể nhưng việc ra đi đó là quá vội vã khi chúng tôi phải đối phó với một vài rắc rối về quan hệ pháp lý với Học Viện vào năm 1998.Những điều luật ở học viện giới hạn chúng tôi việc mang đi những cầu thủ mà sống ở nơi cách sân Old Trafford 1h30' di chuyển.Có lẽ mọi việc đã được giải quyết xong và không lặp lại nữa vì sau đó chúng tôi đã quá thành công nhiều người không thể nghĩ điều đó có thể xảy ra.Tuy nhiên những gì chúng tôi làm là quá vất vả hơn nhiều người biết và vì vậy chúng tôi cũng phải nhận được những gì tương xứng.
Với kết quả đạt được chúng tôi đã trở thành một hệ thống và đi trên một con đường khác,chúng tôi đang xây dựng những cầu thủ đến từ nhiều nước khác nhau và đó là việc đào tạo các cầu thủ trẻ giống như là Marcus Neumayr từ Đức và Floribert N'Glula từ Bỉ .

Người quản lý học viện Les Kershaw đã nói với tạp chí United rằng hiện nay để xin chữ kí của một cầu thủ nước ngoài ví dụ như từ Bỉ dễ dàng hơn là ở Birmingham,Đó không phải là điềm báo trước cho tương lai của bóng đá Anh chứ ?
Điều đó là đúng.Bạn nghĩ FA có nhìn được những sự nguy hiểm nhưng không,họ đã tỏ ra rất ồn ã và vấn đề này đã gây ra nhiều sửng sốt.Nếu bạn còn nhớ những lời nói khi họ bắt đầu khuyến khích tiến hành hệ thống các học viện bóng đá họ muốn xây dựng một đội hình cho tuyển Anh để dành chiến thắng ở World Cup 2006,đó là những gì họ đã nói...vì vậy bạn có thể nói được gì ?

Ngài có cảm thấy sự thành công của đội bóng Manchester United cần đến sự cân bằng giữa cầu thủ nội địa và nước ngoài hoặc có những trận đấu mà cầu thủ trẻ từ các nước khác hoạt động nhiều hơn trong số các tài năng của chúng ta?
Đó là một vấn đề tại thời điểm nay nhưng chúng tôi nghĩ rằng hệ thống chương trình cho lứa các cầu thủ thanh niên bây giờ sẽ bắt đầu với sự phát triển các cầu thủ trẻ địa phương đó không phải là một chuyện còn quá xa vời với tương lai nữa.Đó cũng là một điều quan trọng và đáng quan tâm với Câu lạc bộ.Không có gì tốt hơn là nhìn thấy một cậu bé của phố Salford đang chơi bóng cho đội hình 1 của Manchester united .

Trong một vài cuộc phỏng vấn trước , ngài đã từng nói mọi thứ bây giờ dường như đã làm sẵn cho các cầu thủ trẻ.Điều đó tạo ra sự khó khăn để giữ họ có một cơ sở vững chắc có phải không ?
Khi bạn nhận để đào tạo họ,bạn nghĩ một người trẻ tuổi nên được phát triển như thế nào.Bạn muốn họ tiến lên bằng ý thức và kỉ luật tốt,những cử chỉ tốt để biết rằng cách cư xử của họ ra sao giống như những cầu thủ của Manchester United và giữ chân họ trên vận động,chúng tôi không thích những cầu thủ mà bị ai đó lôi cuốn rồi ra đi.Đôi khi chúng tôi cũng nhận được những lời phê bình không công bằng về vấn đề kinh doanh của câu lạc bộ và sau đó mọi thứ đều dừng lại nhưng khi bạn xuống dốc tới thực chất của vấn đề ,bạn nhìn thấy và làm thế nào có thể được giải quyết được vấn đề ở đây sau đó không phải là một vụ kiện.

Ngài đang nhìn thấy gì về tương lai của các cầu thủ trẻ United ?
Bạn muốn nhìn thấy những cầu thủ mà có thể nói chứng minh về chính bản thân của họ hay có khả năng để chứng minh bản thân mình.Chúng tôi đang tìm kiếm một người có trình độ cao có thể thấy được nhưng nhiều hơn thế chúng tôi hy vọng một người có chí khí và nghị lực vững chắc người mà có thể chơi bóng và đối mặt với 67,000 người ở Old Trafford----điều đó có tầm quan trọng đặc biệt.
"Chúng tôi có nhiều cầu thủ những người có thể chơi nhưng khó khăn để lựa chọn một người có thể đưa ra để chơi bóng trong sân từ đầu đến cuối trong vòng 90 phút"

Ngài có cảm thấy hối tiếc khi để tuột mất những người thanh niên đá bóng trên đường phố không ? Chúng ta cần tạo ra những cầu thủ có nhiều kĩ năng điều khiển bóng trên sân chứ ?
Đó không phải là một vấn đề ở đây.Khi bạn có nhiều kinh nghiệm với cuộc sống hoặc hệ thống của nó trở nên cứng rắn.Đó không phải là điều dễ dàng,Nếu bạn đi đâu đó cho bữa tối bạn không bao giờ quay trở lại trong một trận đấu...tôi nhớ nhiều lần lặp đi lặp lại những cầu thủ đứng một chỗ ở đường ném bóng để người nào đó đi tới mang cho họ bữa tối vì vậy họ có thể nhận một trận đấu.Vì vậy thực tế bạn không cần phải có quá nhiều kĩ năng,mọi thứ đều được tạo ra từ sự cố gắng khi bạn là một cầu thủ hay kể cả cho một người có danh tiếng.

Không có nhiều câu lạc bộ có số lượng đông đảo nam sinh và đội hình trẻ với những chức vô địch Châu Âu được đào tạo bởi chính câu lạc bộ.Tại sao ngài cho xây dựng một học viện bóng đá gần trung tâm huấn luyện đội hình chính ?
Tôi nghĩ điều đó có tầm ảnh hưởng quan trọng với các cầu thủ trẻ những người đi đến canteen, nhìn thấy đội hình một gồm những cầu thủ đẳng cấp và để xem sự khao khát của họ như thế nào.Chúng tôi đã có một tài năng trẻ tên là Floribert tập luyện với đội hình 1và cậu ta mới chỉ 16 tuổi .Chúng tôi đã làm điều đó bởi vì những cậu bé tiến bộ rất nhanh chóng chúng tôi không biết dự định của họ là đi đâu.Floribert có thể ở trong đội hình chính trong năm tới .....

Trở lại đội hình năm 1992 ngài còn nhớ một vài điều gì đặc biệt lúc đó không ?
Ồ, tất nhiên.Năm trước đó họ đã chiến thắng A-League và họ đã làm được một điều quá tuyệt vời sau đó.Bạn cũng nên biết rằng ở đội hình trẻ năm đó thậm chí Paul Scholes không chơi trận nào vì anh ấy phải bó xướng cẳng chân.Eric Harrison đã làm một việc tuyệt vời với các chàng trai trong việc phát triển năng lực cũng như sự không ngoan sáng suốt và nghị lực của họ.

Một cách rõ ràng cho thành công của đội hình trẻ Man utd là chiến thắng cúp thanh niên vào năm 1995 mà khi đó Phil Neville là đội trưởng nhưng ngài có thể so sánh đội hình năm 1992 với năm 2003 ?
Thật khó khăn để nói.Tôi chỉ có thể chỉ ra rằng tiềm năng ở hai đội hình là khá giống nhau.Có một vài cầu thủ trẻ trong đội hình đó trông có vẻ sẵn sàng cho một công việc mới để chơi ở đội hình chính nhưng khó khăn để nói rằng họ có cơ hội như Giggs,Butt,Neville,Scholes và Beckham.Tôi chỉ nói tiềm năng tương tự nhau và điều gì sẽ xảy ra sau đó.Tuy nhiên có một điều có thể khẳng định họ có những năng lực rất tốt.

Đội hình gồm những cầu thủ trẻ mà được đào tạo bởi ngài ?

Thủ môn :Mark Bosnich
Hậu vệ:Gary Neville,West Brown,John O'shea,Phill Neville
Tiền vệ:David Beckham,Nicky Butt,Darren Fletcher,Ryan Giggs
Tiền đạo:Paul Scholes,Mark Robbin

Dự bị:Gary Walsh (thủ môn),Lee Martin,Keith Gillespie,Danny Webber,Robbie Savage.

Tài liệu thực tế về Sir Alex Ferguson:

Ngày sinh:31/12/1941
Câu lạc bộ:
-Cầu thủ:gia nhập Dunfermile vào năm 1964 trước khi chuyển đến Rangers với giá kỉ lục lúc bấy giờ là £65,000 vào năm 1967 (giá trị tiền lúc đó)
chuyển đến Falkirk vào năm 1969 và Ayr vào năm 1973 sau đó kết thúc sự nghiệp vào năm 1974
-Huấn luyện viên: East Stirlingshire vào năm 1974 sau đó chuyển đến St Mirren.Alex rời công việc ở Aberdeen trước khi đến Man utd vào năm 1986.
Ngày ra mắt huấn luyện United:8/12/1985 (United 0 - Oxford United 2)
Số trận đấu được ghi nhận:963 trận (huấn luyện viên)

Những tài năng trẻ được giới thiệu dưới sự huấn luyện của Sir Alex :
-1986/87:Gary Walsh,Tony Gill
-1987/88:Deiniol Graham,Lee Martin.
-1988/89:Russell Beardsmore ,Mark Robins,David Wilson.
-1989/90:Mark Bosnich
-1990/91:Darren Ferguson,Ryan Giggs,Paul Wratten
-1991/92:Ian Wilkinson
-1992/93:Keith Gillespie,David Beckham,Nicky Butt,Gary Neville
-1993/94:Colin Mckee,Ben Thornley
-1994/95:Chris Casper,Simon Davies,Phil Neville,John O'kane,Kevin Pilkington,Paul Scholes
-1995/96:Terry Cooke,Pat McGibbon
-1996/97:Micheal Clegg,Micheal Appleton
-1997/98:Phil Mulryne,John Curtis,Micheal Twiss,Ronnie Wallwalk,West Brown,Danny Higginbotham
-1998/99:Jonathan Greening,Alex Notman,Mark Wilson.
-1999/00:Luke Chadwick,Nick Culkin,David Healy,John O'shea,Paul Rachukba
-2000/01:Bojan Djordjic,Micheal Stewart,Danny Webber
-2001/02:Jimmy Davis,Daniel,Nardiello,Lee Roche
-2002/03:Danny Pugh,Darren Fletcher,Mark Lynch,Kieran Richardson,Mads Timm
-2003/04:Chris Eagles,Eddie Johnson,Phil Bardley,Paul Tierney

JakeSatan
04-01-2005, 17:17
Hugo Sanchez, sát thủ Caribe
Một sự nghiệp lừng danh với vô số bàn thắng nã vào lưới đối phương cùng sự khai sinh ra kiểu ăn mừng bằng màn Santo bất hủ đã biến Sanchez thành huyền thoại sân cỏ, cho dù ông không sinh ra từ một nền bóng đá lớn.


Lợi thế duy nhất của Sanchez là con trai của một cầu thủ bóng đá, Hertor Sanchez – cựu tiền vệ của Asturias và Atlante thuộc giải VĐQG Mexico. Nhưng bởi tài năng có hạn, ông Hertor không thể thu vén được nhiều tiền bạc sau khi kết thúc sự nghiệp sân cỏ tầm thường. Bởi vậy cậu con trai Hugo được ông Hertor trông chờ nhiều nhất trong 3 anh em trai. Và như đáp lại sự kỳ vọng của bố, Hugo tỏ ra có năng khiếu từ năm lên 6 tuổi. Gia nhập đội trẻ của National Autonomous University of Mexico (UNAM) năm 14 tuổi, sau 4 năm miệt mài luyện tập, Hugo đã trưởng thành nhanh chóng và được sở hữu bản hợp đồng chuyên nghiệp đầu đời năm 1976, khi mới 18 tuổi.

UNAM lúc đó bắt đầu gây tiếng vang ở Mexico bằng chiếc Cúp QG đầu tiên trong lịch sử, trong đó có phần đóng góp nhỏ bé (7 bàn thắng) của tiền đạo trẻ Hugo Sanchez. Nhưng 2 năm sau đấy mới là thời điểm ấn tượng của Hugo: anh trở thành Vua phá lưới Mexico với 26 bàn thắng ở tuổi 21. Là ngôi sao trẻ được săn đón, nhưng Hugo vẫn trung thành với UNAM, CLB đã phát hiện ra anh.

Thậm chí sau khi kết thúc mùa bóng 78/79, Hugo còn chấp nhận sự điều động của UNAM sang giải nhà nghề Mỹ “đánh thuê” 3 tháng hè cho San Diego Shockers. Và rồi tiếng tăm của anh đã vượt sang châu Âu. Với sự giúp đỡ của bố, Hugo Sanchez từ giã mảnh đất Mexico khắc nghiệt sau khi để lại 99 bàn thắng trong 5 mùa giải cho UNAM để đến với giải Primera Liga danh giá.

Sân Vicente Calderon là bến đậu đầu tiên của chàng trai Mexico tại TBN, đó là năm 1981. Tuy nhiên, Sanchez cũng phải mất một thời gian mới thích nghi được với nền bóng đá châu Âu và giành được chỗ đứng trong đội hình Aletico Madrid. Khi mọi sự đã đi vào quĩ đạo, khẩu thần công Sanchez lại bắt đầu nhả đạn đều đều. Và vì thế, anh lọt vào tầm ngắm của Real, CLB giàu mạnh chuyên vơ vét ngôi sao của các đội khác.

Mối tình của Sanchez với Real bắt đầu từ mùa bóng 85/86. Chia tay Aletico bằng danh hiệu Pichini (vua phá lưới), Sanchez đến sân Bernabeu để viết tiếp những trang sử hào hùng cùng CLB Hoàng gia TBN. Đội hình Real khi đó đã là một Dream Team gồm nhiều tên tuổi lớn (Stilike, Camacho, Michel, Butragueno, Valdano…) và sự bổ sung “sát thủ Caribe” Sanchez đã khiến cho họ bất khả chiến bại tại đấu trường trong nước. 5 ngôi quán quân TBN liên tiếp của Real vào cuối thập niên 80 đến nay vẫn là một thành tích đáng nể, và dĩ nhiên 4 danh hiệu Pichini (86,87,88,90) của Sanchez khi đó sẽ mãi là kỳ tích khó vượt qua trong bóng đá đương đại. Đặc biệt, chiến công ghi tới 38 bàn thắng tại La Liga 89/90 của Sanchez được liệt vào kỷ lục mọi thời đại của bóng đá xứ bò tót (ngang thành tích của Telmo “Zarra” - Athletic Bilbao năm…1939). Cũng năm đó, ông vinh dự nhận danh hiệu “Chiếc giầy vàng châu Âu”.

Chia tay Bernabeu sau 6 mùa bóng vàng son, Sanchez lưu danh lại phòng truyền thống Real bằng bảng thành tích 164 bàn/207 trận, vượt mặt cả Puskas, Gento và Butragueno trở thành chân sút xuất sắc thứ 4 trong lịch sử Real. Còn nếu tính cả phạm vi TBN, Sanchez là chân sút xuất sắc thứ 2 trong lịch sử Primera Liga (sau Zarra) với 234 bàn/347 trận.

Sau Real, Sanchez khi đó đã 34 tuổi vẫn còn phiêu du tại một số CLB nhỏ ở Mexico, TBN, Áo nhưng phong độ suy giảm do gánh nặng tuổi tác. Ông giải nghệ hẳn năm 1997 và nay là HLV đội bóng cũ UNAM. Trong sự nghiệp đỉnh cao của mình, điều Sanchez nuối tiếc nhất có lẽ là việc không giúp được ĐT Mexico trên đấu trường quốc tế. Khách quan mà nói, thành tích quá khiêm tốn của Sanchez tại 3 kỳ World Cup (1 bàn/8 trận) cũng bởi Mexico quá thiếu những tuyển thủ cùng đẳng cấp với ông. Song nói gì thì gì, Hugo Sanchez vẫn là cái tên vĩ đại nhất mà bóng đá Bắc Trung Mỹ đã sinh ra.

Vài nét về Hugo Sanchez
Tên: Hugo Sanchez Marquez
Sinh ngày: 11/6/1958 tại Mexico City
Cao 1m76, nặng 73kg
Vị trí: Tiền đạo
CLB từng thi đấu: UNAM (76-81), Aletico Madrid (81-85), Real Madrid (85-92), America de Mexico (92-93), Rayo Vallecano (93-94), Atlante (94-95), Linz (95-96), Dallas Burns (96), Atl Celaya (96-97).

Thành tích:
2 lần VĐ Mexico, 1 Cúp QG Mexico, 5 lần VĐ Tây Ban Nha (TBN), 2 Cúp Nhà vua TBN, 3 Siêu Cúp TBN, 1 Cúp Concacaf, 1 Cúp UEFA, 2 danh hiệu Vua phá lưới Mexico, 5 danh hiệu Vua phá lưới TBN, 2 danh hiệu Cầu thủ Nước ngoài hay nhất TBN, 10 danh hiệu Cầu thủ Xuất sắc nhất Trung Mỹ, Cầu thủ Xuất sắc nhất của Bắc-Trung Mỹ thế kỷ XX.
Khoác áo ĐT Mexico 76 lần, ghi 46 bàn
Tham dự 3 World Cup (78, 86, 94)

Xú Quận Mã
06-01-2005, 16:40
Cuonglongzero ơi.từ từ thôi để anh em còn đọc nữa chứ,mà mấy bài này ông lấy bên fcmuvn à ? thế cũng được nhưng mà nên sưu tầm về những siêu sao thật sự đi,chứ đừng đưa cầu thủ của Mu lên suốt vậy,hình như chưa có bài của Beckenbauer,Baresi...thì phải,ai có thì post dùm đi !!!

JakeSatan
07-01-2005, 13:51
Kỷ nguyên Dunga.
Không được tạo hoá ban tặng kỹ năng điều khiển trái bóng điêu luyện như hầu hết các đồng nghiệp tại làng cầu đỉnh cao xứ Samba, nhưng Dunga vẫn trở thành một trong số không nhiều những cầu thủ được tôn vinh là huyền thoại của đội bóng vàng xanh. Giờ đây, sau khi đã treo giày, cựu thủ quân của đội bóng VĐ World Cup 1994 chuyển sang hoạt động trong một lĩnh vực khác, tuy thầm lặng mà lại đầy ý nghĩa...

Cứ mỗi sáng, vào quãng 8 giờ, những người sống hoặc làm việc gần số nhà 104 đường Rua Olavo Barreto Viana, thuộc thành phố Moinhos de Vento, bang Porto Alegre, lại thấy một người đàn ông trạc tứ tuần, dáng tầm thước, đầu cắt cua xuất hiện. Đó là Carlos Caetano Bledorn Verri, hay đối với những tín đồ túc cầu giáo chỉ đơn giản là Dunga, Chủ tịch kiêm nhà sáng lập “Instituto Dunga de Desenvolvimento do Cidadao” - Trung tâm hỗ trợ cộng đồng tại Brazil, gọi tắt là IDDC.

Tiêu chí của IDDC là giúp đỡ người già không nơi nương tựa, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, tổ chức các phong trào phát triển đời sống xã hội và nhiều hoạt động hữu ích khác. Chỉ 2 năm sau ngày thành lập, IDDC, quy tụ hàng trăm tình nguyện viên làm việc cả 7 ngày trong tuần, đã tạo được ảnh hưởng sâu rộng tại bang Porto Alegre, cách không xa nơi chôn rau cắt rốn của nhân vật đứng đầu trung tâm này. Và Dunga vô cùng hãnh diện về công việc hiện nay, hệt như thời còn tung hoành trên sân cỏ.

Khởi nghiệp chạy theo trái bóng từ năm 18 tuổi, tại CLB quê hương Internacional, ban đầu anh chàng nhỏ con có lối đá chân phương Dunga không gây được nhiều sự chú ý tại quốc gia đề cao yếu tố kỹ thuật cá nhân hơn tất cả. Tuy nhiên, nhờ sự lỳ lợm, khả năng dẫn nhịp tuyệt vời và đặc biệt là tố chất thủ lĩnh bẩm sinh của mình, cầu thủ này về sau đã biến vai trò tiền vệ phòng ngự vốn bị coi nhẹ trở thành vị trí quan trọng bậc nhất trong sơ đồ chiến thuật của The Selecao (ĐTQG Brazil).

Tham dự 3 kỳ World Cup liên tiếp, từ 1990 đến 1998, đỉnh cao nhất trong quãng đời cầu thủ của Dunga là ở giải đấu do Mỹ đăng cai. Vào những ngày hè nóng bỏng không thể nào quên cách đây chẵn 1 thập kỷ, dưới sự đôn đốc của thủ lĩnh Carlos Dunga, đội bóng Vàng-Xanh đã lên ngôi VĐ lần thứ tư trong lịch sử, sau 24 năm khắc khoải đợi chờ. Có thể những Romario, Bebeto hay Leonardo khiến khán giả phải đứng bật dậy vì những pha đi bóng biến ảo như làm xiếc, nhưng trong thâm tâm họ, tầm bao quát và những bước chạy không biết mệt mỏi của “chiếc toa tàu số 8” mới được coi là chiếc chìa khoá dẫn tới thắng lợi cuối cùng của các vũ công Samba. 4 năm sau, tại France 98, Dunga và đồng đội cũng vào đến trận CK, nhưng không thể vượt qua đội chủ nhà Pháp đang thời sung sức nhất.

Mặc dù đã tạo ra một “kỷ nguyên Dunga” trong sắc áo vàng xanh truyền thống, nhưng ở cấp độ CLB, bởi kiệm lời và thuộc mẫu người hùng thầm lặng, Dunga đã không để lại nhiều tiếng vang, bất kể số chiến lợi phẩm mà anh thu thập được đủ để chất đầy phòng làm việc: VĐ các bang Rio Grande Do Sul (Internacional), Sao Paulo (Corinthians), FC Santos và Vasco da Gama (Rio de Janeiro), Á quân UEFA CUP mùa giải 89/90 (Fiorentina, Italia), chưa kể hàng loạt các danh hiệu thuộc dạng “vừa và nhỏ” là HCV giải U-20 TG tại Mexico vào năm 1983, HCB Olympic Los Angeles, cũng như nhiều lần VĐ J-League (giải VĐ Nhật Bản) cùng Jubilo Iwata.

Năm 1999, trước khi giã từ sân cỏ, Dunga trở lại chơi bóng tại CLB đầu đời Internacional như một sự hàm ơn. Và cũng vì xuất thân từ một gia đình không lấy gì làm khá giả, Carlos Caetano Bledorn Verri đã không quên đóng góp cho cộng đồng qua những công việc đậm tính nhân văn tại “CLB” IDDC.

Cứ mỗi sáng, vào quãng 8 giờ...

Hồ sơ cá nhân

Họ tên: Carlos Caetano Bledorn Verri
Tên thường gọi: Dunga
Sinh ngày: 31/10/1963, tại Rio Grande Do Sul (Brazil)
Cao: 1m77; Nặng: 78kg
Vị trí: Tiền vệ
CLB: Internacional, Corinthians, Santos, Vasco de Gama, Pisa, Fiorentina, Pescara, Stuttgart, Jubilo Iwata, Internacional.
Số lần khoác áo ĐTQG: 115 trận (9 bàn).

JakeSatan
20-01-2005, 13:43
Ali Daei (Iran): Kỷ lục gia của bóng đá thế giới

Vượt qua những huyền thoại lớn của bóng đá thế giới, tiền đạo người Iran, Ali Daei, với 4 bàn thắng ghi được vào lưới đội tuyển Lào, đã trở thành cầu thủ đầu tiên đạt đến ngưỡng 100 bàn thắng trong sự nghiệp thi đấu quốc tế.


Vào độ tuổi 35, những ngày tháng chơi bóng của Daei không còn nhiều nhưng dấu ấn mà cầu thủ này để lại là niềm tự hào của cả châu Á - nơi vẫn bị coi là có nền bóng đá kém phát triển.

4 lần lập công trong 1 trận đấu, con số mà đã có không ít những cầu thủ trên thế giới đã làm được nhưng với Daei, những bàn thắng mà anh ghi được trong trận đấu với Lào thực sự là sự kiện lớn nhất trong sự nghiệp cầu thủ nhiều thăng trầm của mình. 102 bàn thắng cho đội tuyển quốc gia, Daei đã đi vào lịch sử bóng đá thế giới, bỏ lại đằng sau Ferenc Puskas, huyền thoại của bóng đá Hungary với 84 bàn, Vua bóng đá Pele với 77 lần làm tung lưới đối phương trong màu áo vàng - xanh, Daei trở thành “kỷ lục gia” và số bàn thắng anh ghi được có lẽ sẽ phải mất rất rất nhiều thời gian nữa mới có người vươn tới được.

Vào một buổi chiều mùa xuân cách đây 11 năm, cái ngày mà chắc chắn Daei sẽ không thể quên trong suốt quãng đời còn lại, khi lần đầu tiên được ra sân trong màu áo của đội tuyển quốc gia Iran. Trận đó, Daei không ghi bàn nhưng trong 132 trận đấu tính cho đến hết trận đấu gặp Lào, Daei đã làm được điều mà chưa có ai có làm được, đó là ghi được hơn 100 bàn thắng. 3 năm sau khi được ra sân lần đầu tiên, ngày 6-10-1996, Daei đã lập kỷ lục của chính mình, khi ghi được 5 bàn trong trận gặp Sri Lanka tại vòng loại cúp châu Á.

Tuần vừa qua, với màn trình diễn xuất sắc trong đội hình CLB Saba Battery (Iran), Daei đã được bầu chọn là cầu thủ chơi hay nhất vòng đấu và trong bài trả lời phỏng vấn giới truyền thông Iran, Daei đã không giấu nổi cảm xúc khi cho biết: “Sau từng đó năm tháng chơi bóng đỉnh cao, tôi biết những lần được ra sân của tôi không nhiều. Tôi đã 35 tuổi và thể lực không cho phép tôi có thể duy trì sự nhanh nhẹn nhưng khát vọng ghi bàn luôn thường trực trong mỗi trận đấu”.

Cũng trong buổi phỏng vấn đó, diễn ra trước khi Iran đánh bại đội tuyển Lào với tỷ số 7-0, khi được các phóng viên hỏi về khả năng lập kỷ lục ghi bàn, tiền đạo kỳ cựu của đội tuyển quốc gia Tây Á này đã nói: “Tôi thật sự không quan tâm nhiều lắm đến việc mình có vượt qua được ngưỡng 100 bàn thắng hay không. Điều mà tôi quan tâm nhất chỉ là cùng Iran giành chiến thắng”.

Đã từng chơi bóng tại Đức cho Bayern Munich, Arminia Bielefeld rồi sau đó là Hertha Berlin, Daei được xem là chân sút số 1 của Iran trong hơn 1 thập kỷ qua. Khả năng dứt điểm đa dạng, Daei không phải là mẫu tiền đạo chơi kỹ thuật nhưng anh có sự nhạy cảm không gian và kỹ năng hoàn thiện của một trung phong hàng đầu.

Xú Quận Mã
25-01-2005, 08:43
Người dân Paraguay nói rằng đất nước họ chỉ có 2 người xứng đáng được coi là nổi tiếng nhất đó là nhà văn Angusto Roa Bastos và người kia là thủ môn Jose Luiz Chilavert.Cả 2 đều thể hiện được tính cách điển hình của người Nam Mỹ :sống thế nào thì thể hiện như thế,hiếu thắng ,kiêu ngạo nhưng cũng rất ngay thẳng và đầy lòng vị tha.
HLV Carlos Bianchi,người đã cùng với Chilavert và Velez chiến thắng trước Milan 2-0 tại cúp Liên lục địa năm 1994 đã từng nói "đối với tôi, Chilavert là 1 trong bộ ngũ thủ thành xuất sắc nhất thế giới nhưng 4 tay kia thì tôi không biết ".Đúng vậy nếu ta kiểm chứng qua những lần thi đấu của anh thì ta hoàn toàn bị thuyết phục bơỏi 1 tài năng đầy sức mạnh và cá tính này.Trong vòng cấm địa thì Chilavert là chúa tể theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng,anh phán đoán các đường sút bổng hay sút xà đều hoàn hảo với 1 phản xạ kinh người,trong mỗi lần đối mặt với anh thì chính các tiền đạo mới là những người bị mất tinh thần khi thấy anh chiếm thế thượng phong với 1 vẻ ngoài đầy hăm doạ cùng những động tác doạ nạt mà những kẻ yếu tim không thể chịu nổi.Nhưng ở Chilavert lại có 1 biệt tài khác,đó là khả năng sút phạt trực tiếp,sút và chặn bắt những quả 11m.Ngày 1-9-1996,,,,trong trận gặp Argentina tại vòng loại France 98, đã thực hiện cú sút phạt trực tiếp từ cự li 25m tung lưới Burgos đem lại kết quả hoà 1-1 cho Paraguay,và trước đó 23-6-1996,nạn nhân vẫn là Burgos,trong trận đấu của Velez với River,Chilavert đã sút 1 quả không thể tin nổi từ khoảng cách 60m vào thẳng cầu môn của River đem lại chiến thắng 3-2 cho Velez.Trong sự nghiệp của mình,anh đã ghi hơn 40 bàn thắng trong đó có 4 bàn cho ĐTQG và đã 1 lần được bầu chọn là cầu thủ hay nhất Nam Mỹ ở xứ sở của các cầu thủ tấn công,đây là điều àm chỉ có thủ môn huyền thoại Lev Yashine làm được ở Châu Âu.
"Tôi chơi bóng vì tiền chứ không phải vì yêu thích "-anh đã từng nói như thế nhưng điều đó không thể xoá đi hình ảnh của anh trong trận đấu với ĐT Pháp ở France 98,sau khi ôm mặt rã rời vì thất bại anh đã gượng dậy an ủi hậu vệ Ayala và hét vào mặt anh này để anh ta định thần lại,sau đó đi tới chúc mừng Djorkaeff và hôn đồng tiền may mắn như 1 lời chào với cúp thế giới.Thích nhạc Rock nhưng lại ghét điệu tango sau đó lại muốn trở thành tổng thống Paraguay,anh đúng là 1 tài năng lạ thường.

JakeSatan
01-02-2005, 16:57
Nigel Martyn và cột môc 800

Khi Martyn tiến vào sân Goodison Park, 37.816 khán giả đồng loạt đứng dậy, dành tặng anh những tràng vỗ tay chúc mừng nồng nhiệt nhất. Hôm qua, Everton tiếp Fulham và đó cũng là trận thứ 800 trong sự nghiệp cầu thủ cấp CLB của thủ thành 38 tuổi.

Ở nước Anh hiện tại, hiếm thủ thành nào sánh ngang Martyn về tuổi thọ trong khung gỗ. Tính đến nay, anh gắn bó với đôi găng tay hơn 17 năm. Khởi đầu là CLB hạng 3 (hạng 2 bây giờ) Bristol Rovers, bắt chính 2 mùa rưỡi với hơn 100 lần có tên trong đội hình xuất phát. Màn trình diễn ấn tượng, lối bắt bóng chắc chắn, đơn giản và hiệu quả đã đưa Martyn đến với giải đấu cao nhất nước Anh, chuyển sang Crystal Palace. Bản hợp đồng với Palace trị giá lên đến 1 triệu Bảng Anh - kỷ lục chuyển nhượng đối với 1 thủ môn.

Nhưng chỉ đến khi đầu quân cho Leeds United (với giá kỷ lục 2,25 triệu bảng Anh), Martyn mới thực gây được tiếng vang, đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng của HLV George Graham ở Elland Road, nhất là mùa giải 99/00. Mùa đó, anh bắt như “điên cuồng”, chắc chắn như tường thành, ổn định, và “xuất lò” nhiều pha cứu bóng không tưởng. Với “chốt chặn” mang tên Nigel Martyn, Leeds sở hữu hàng thủ mạnh thứ 3 (để lọt 43 bàn, sau Liverpool và Chelsea), đứng thứ 3 chung cuộc, giành quyền dự và lọt sâu đến bán kết Champions League mùa sau.

Tưởng như tương lai sẽ là màu hồng tươi đẹp; nhưng tất cả sụp đổ chóng vánh. Ở ĐT Anh, Martyn không thể vượt qua cái bóng của Seaman, thậm chí David James. Còn ở cấp CLB, tài năng trẻ Robinson bất ngờ toả sáng và chiếm luôn ngôi vị số 1 trong khung thành của Martyn. Suốt mùa giải 02/03, Martyn chỉ biết dự bị và dự bị (không chơi một trận nào ở Premiership. Thậm chí, có lúc anh đã nghĩ đến việc treo găng trong im lặng.

Goodison Park đã giang tay cứu vớt Martyn và đưa anh trở lại đỉnh cao. Thật bất ngờ khi ở cái tuổi 38, anh vẫn giữ được phản xạ nhạy bén, những pha tung người cản bóng rất nhẹ nhàng (dù nặng 91 kg), ra vào hợp lý; và tất nhiên kèm theo đó vốn kinh nghiệm dày dặn. Nhờ Martyn hồi xuân, Everton băng băng tiến lên phía trước, chễm chệ ở vị trí thứ 3 trên BXH, chỉ lọt đúng 11 bàn (kém mỗi Chelsea), 7 trận giữ sạch lưới.

Hôm qua, trong cái ngày đáng nhớ của cuộc đời, Martyn lại bừng sáng, không để mành lưới rung lên và góp công lớn trong chiến thắng của Everton trước Fulham. Và có quyền ngẩng mặt tiến lên phía trước…

Vài nét về Nigel Martyn

Ngày sinh: 11/08/1966
Nơi sinh: Saint-Austell
Quốc tịch: Anh
Chiều cao: 1m87
Cân nặng: 91kg
Số áo: 25
Các CLB đã qua: Bristol Rovers (87-89), Crystal Palace (89-96), Leeds (96-02), Everton (02-nay)
Số lần khoác áo ĐTQG: 23
Trận ra mắt: Nga - Anh (2-2; 29/04/1992)

kekhongtim
02-02-2005, 16:23
Tydus ơi, chọn lọc chút đi. Tên topic là siêu sao thì cũng chỉ nên post những thằng siêu sao, chứ Martyn e là suốt đời suốt kiếp cũng chẳng bao giờ xứng với 2 chữ đó

Xú Quận Mã
15-02-2005, 10:27
Redondo: Tạm biệt "Hoàng tử nhỏ"

(TTVH) - Fernando Redondo vừa thông báo quyết định giã từ sân cỏ ở tuổi 35, bỏ lại sau lưng một sự nghiệp lừng lẫy và sự yêu mến của khán giả hâm mộ lối đá đẹp đậm chất ngẫu hứng Nam Mỹ nhưng cũng rất hiệu quả theo phong cách Argentina của anh.
Redondo, giờ đã là người Tây Ban Nha (TBN), thông báo đơn giản: "Tôi quyết định dành một năm nghĩ ngơi ở Madrid nhưng mùa tới tôi sẽ trở lại để làm một công việc gì đó liên quan tới bóng đá và bắt đầu một giai đoạn mới trong đời. Tôi đã nhận được khá nhiều lời mời tiếp tục chơi bóng nhưng tôi không muốn ra nước ngoài bởi tôi đã quyết định sống ở Madrid và không muốn gia đình mình phải dịch chuyển nữa. Tôi cũng đã từ chối nhiều lời đề nghị từ TBN bởi không thể mặc một chiếc áo thi đấu không phải của Real Madrid".

Redondo lớn lên ở BuenosAries và bắt đầu sự nghiệp ở Argentinos Juniors, CLB mà thiên tài Diego Maradona cũng từng khởi đầu sự nghiệp cầu thủ, trước khi tới Tenerife của TBN năm 1990.

Là một trong những cầu thủ tài danh nhất trong lịch sử bóng đá Argentina nhưng sự nghiệp quốc tế của Redondo gặp nhiều khó khăn do anh quá cá tính. Vì muốn hoàn thành một khoá học, Redondo đã từ chối vào ĐTQG Argentina dự World Cup 1990 khi đội bóng của Calos Bilardo chuẩn bị bảo vệ chức VĐTG.

4 năm sau, Redondo có mặt ở VCK World Cup 1994 tại Mỹ. Argentina năm đó vẫn có Maradona trong vai trò dẫn dắt lối chơi đã khởi đi tuyệt hay và được dự báo trở thành ứng cử viên sáng giá cho chức VĐ của giải. Trớ trêu thay, Maradona bị phát hiện sử dụng doping và bị đuổi khỏi giải, tinh thần của đội bóng suy sụp và sự tỏa sáng của Redondo không đủ để cứu cho Argentina khỏi bị ngã ngựa ở vòng hai. Cho tới nay, trận thua 2-3 của Argentina trước Romania vẫn được nhiều người xem như một trong những trận đấu hay nhất của lịch sử bóng đá thế giới.

Trở về từ World Cup và 4 mùa bóng ấn tượng trước đó với Tenerife đã giúp anh tới với "người khổng lồ" Real Madrid. Tại sân Bernabeu, Redondo trở thành hạt nhân trong sự hồi sinh của Real. Đội bóng này đã trở lại với ngôi đầu ở giải trong nước, một nhiệm vụ không dễ dàng khi đó bởi "Dream Team" Barcelona của huyền thoại Johan Cruyff đã giành 4 chức VĐQG liên tiếp và đã chinh phục châu Âu.

Năm 1998, Real đánh bại Juventus để đoạt chiếc cúp VĐ Champions League danh giá mà họ đã chờ đợi gần 40 năm, Redondo đã chơi xuất sắc hơn hẳn và vô hiệu hóa người đồng nghiệp Zidane của Juve.

Nhưng sau đó, dù nhiều chuyên gia cho rằng Redondo là tiền vệ xuất sắc nhất thế giới thời điểm ấy, sự nghiệp thi đấu quốc tế của anh đã chấm dứt sau khi HLV mới của ĐT Argentina Daniel Pasarella yêu cầu anh, cũng như nhiều cầu thủ khác, phải cắt bộ tóc dài mới được vào ĐT. Redondo đã từ chối bởi "chẳng có lý do gì lại phải tuân theo đề nghị chẳng liên quan gì đến bóng đá như thế". Tình cảm với ĐTQG buộc anh phải đổi ý nhưng đã quá muộn, Pasarella không chấp nhận tha thứ.

Chán chường, Redondo quyết định từ bỏ quốc tịch Argentina và nhập quốc tịch TBN như hai bậc tiền bối Alfredo Di Stefano và Jorge Valdano. Hai năm sau, Redondo lại đưa Real tới một cúp VĐ Champions League nữa (chiếc cúp C1 thứ 8 trong lịch sử của Real) và anh được UEFA bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất giải. Thế nhưng "công thần số 1" góp phần xây dựng lại hình ảnh của CLB số một châu Âu đã bị Florentino Perez đẩy đi vì sợ ảnh hưởng quá lớn của cầu thủ này trong đội bóng. Các CĐV sân Berbabeu sục sôi vì tiếc nuối tiền vệ số một của họ nhưng cũng chẳng cứu vãn được gì.

Tới AC Milan sau mùa bóng 1999-2000 với giá 11,4 triệu bảng nhưng phải mất hơn 2 năm (tới tháng 10/2002), Redondo mới được ra sân trong màu áo đỏ đen sau thời gian điều trị chấn thương đầu gối nghiêm trọng từ tháng 7/2000. Redondo đã chứng tỏ phong cách nghĩa khí của mình khi từ chối nhận mức lương 4,9 triệu euro/năm trong thời gian nghĩ thi đấu 2 năm ở Milan. Redondo mới chỉ chơi được 8 trận ở giải VĐQG Italia cho Milan trước khi rời CLB này khi kết thúc mùa bóng trước.

Giám đốc thể thao của Real Madrid, Emilio Butragueno đã bày tỏ sự ngưỡng mộ tới tiền vệ đã cống hiến 6 mùa bóng ở CLB "Hoàng gia" và đóng góp rất lớn cho sự trở lại đỉnh cao của Real: "Redondo là một trong những tiền vệ xuất sắc nhất trong 20 năm qua. Anh là người chiến thắng".

Cựu HLV Real Madrid Vicente Del Bosque khẳng định cầu thủ Argentina này đã đặt nền móng cho sự hồi sinh của CLB cuối những năm 1990. "Anh ấy là ông chủ trong đội bóng. Anh thiết lập phong cách chơi bóng đặc trưng cho Real trong những năm gần đây".

Sẽ không ai có thể quên được gương mặt trẻ trung như một thi sỹ, tài năng xuất chúng và phong cách hào hoa của Redondo.

Xú Quận Mã
15-02-2005, 10:31
Paolo Maldini - Còn đó một tượng đài

(VietNamNet)

20/01/1985 - Friuli: Điểm khởi đầu của một huyền thoại…

Sân Friuli 20 năm về trước ngậm chìm trong tuyết trắng nhưng không ngăn được những người Friulans (người dân sống ở vùng Udine) kéo đến ngồi chật cứng trên các khán đài để chứng kiến trận đấu giữa đội chủ nhà Udinese tiếp AC Milan, đội bóng do HLV huyền thoại người Thụy Điển Nils Liedholm dẫn dắt. Ở trận đấu đó, do Milan thiếu vắng nhiều cầu thủ trụ cột nên Liedholm buộc phải mang theo 5 cầu thủ từ đội hình trẻ Primavera: Turrini, De Solda, Cimmino, Giunta và Maldini. Trong đó, cái tên Maldini gây sự chú ý đặc biệt, bởi vì cầu thủ trẻ này chính là con trai của người đội trưởng lừng danh của Milan 22 năm về trước – Cesare Maldini. Bị đóng cứng bởi cái lạnh dưới 0 độ C cùng với sự áp đảo của đội chủ nhà Udinese, Milan đã bị dẫn trước ngay ở phút 11 do công của Selvaggi, sau khi cầu thủ này vượt qua hàng phòng ngự và đánh bại thủ môn Terreneo. Bước vào hiệp 2, Liedholm tiến đến gần Maldini và nói: “Này cậu bé, hãy chuẩn bị ra sân”. Câu nói đó khiến cho Maldini run bần bật, bởi cậu chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra. Như một cái máy, Maldini bắt đầu khởi động làm nóng trên đường biên. Trước khi vào sân, Liedhlm hỏi: “Cậu muốn chơi ở cánh phải hay cánh trái?”. Lúc này, Maldini hiểu rõ rằng thời điểm lớn nhất trong cuộc đời của anh đã bắt đầu và đó là sự thật chứ không phải là một giấc mơ. Bước vào sân ở phút 46 thay cho tiền đạo Battistini và anh chơi ở vị trí hậu vệ phải giống như anh đã từng chơi ở đội hình Primavera.

Trong hiệp 2, Milan đã lấy lại thế trận và gỡ hòa nhờ công của tiền đạo người Anh, Mark Hateley và trận đấu kết thúc với tỷ số 1-1. Maldini đã chơi rất tốt trong trận đấu này và không hề phạm bất cứ một sai lầm nào. Thời điểm đó, Maldini là cầu thủ trẻ thứ hai trong lịch sử của Milan (sau huyền thoại Gianni Rivera ra sân thi đấu ở Serie A năm 15 tuổi) được ra sân thi đấu ở Serie A khi mới 16 tuổi. “Ở độ tuổi này, cậu bé này là một người rất thông minh khi nắm bắt rất nhanh kỹ chiến thuật”, Liedholm đã nói về Maldini sau trận đấu đầu tiên, “Tôi nghĩ cậu ấy sẽ còn giỏi hơn cha của cậu ấy, thậm chí còn vượt xa hơn rất nhiều”. “Maldini đã là một cầu thủ thực thụ”, Cesare, cha của anh Maldini nhận xét, “Maldini chơi tốt hai chân, chuyền bóng tốt và xoạc bóng rất chính xác”. Sau trận đấu, Maldini sung sướng thốt lên: “Tất cả các bạn học của tôi ở trường đã gọi điện chúc mừng tôi. Thật là tuyệt vời”.

Thời điểm đó, Maldini vẫn đang là một học sinh của trường cao học Volta ở Milano, anh theo học bộ môn khoa học năm thứ 3. Nhưng sau trận đấu một ngày, tức là vào ngày thứ Hai 21.01.1985, Maldini không còn đến trường nữa và cuộc đời của anh đã gắn chặt với trái bóng tròn và màu áo đỏ đen của Milan. “Nếu Liedholm cần, tôi luôn sẳn sàng ra sân”, Maldini nói. Không chỉ có Liedholm cần anh, mà Milan, Azzurri đã cần anh trong suốt 20 năm qua và trận đấu với Udinese vào ngày 16.01.2005, sẽ là trận đấu thứ 553 của “hòn đá tảng” Milan ở Serie A.

…và mãi mãi một tình yêu đỏ đen

Bóng đá hiện đại không có chỗ cho tình cảm và cái gọi là “lòng thủy chung” khi nó không ngừng đào thải những ai không còn hữu dụng. Người ta đã chứng kiến cảnh Juventus sẳn sàng vứt bỏ đi huyền thoại của họ là Roberto Baggio chỉ vì “đuôi ngựa thần thánh” chuẩn bị bước qua tuổi xế chiều của sự nghiệp và mới đây, biểu tượng của đội bóng thành Turin, Alessandro Del Piero cũng chuẩn bị bước vào vết xe đổ của Baggio và cũng với “chàng hoàng tử thành Rome”, Francesco Totti, biểu tượng của thủ đô Rome vĩnh cửu, trái tim và là linh hồn của AS Roma, nhưng suốt ngày “nhỏng nhẽo” ra yêu sách này nọ với CLB của mình. Thế nhưng, riêng với Maldini thì không, cuộc đời của anh đã gắn chặt với Milan và Milan là cuộc sống của anh.

Đã có một thời, các CĐV Milan đã xôn xao một câu chuyện bí mật về Maldini, khi cho rằng trước khi trở thành một Rossoneri, Maldini đã từng là một fan của Juventus. Theo đó, năm lên 10 tuổi, Maldini rất hâm mộ các cầu thủ Bianconeri. Khi được các phóng viên của tờ nhật báo La Gazzetta hỏi có đúng Maldini đã từng là một fan của Juve hay không?, ông Cesare xác nhận: “Năm lên 10 tuổi, Maldini có rất nhiều posters của các cầu thủ Juve trong căn phòng của nó. Boniperti là cầu thủ mà Maldini yêu thích nhất và nó luôn hỏi tôi về anh ấy". Maldini giải thích: "Tôi là một fan của Juve? Đấy không phải là sự thật. Milan là đội bóng đầu tiên mà tôi lựa chọn. Lý do mà tôi có nhiều ảnh các cầu thủ Bianconeri trong căn phòng của mình hồi đó là vì tôi rất hâm mộ đội hình của Azzurri năm 1978, mà lúc đó, hầu như toàn là các cầu thủ Juve". Ông Cesare đảm bảo: "Lần đầu tiên tôi thấy Maldini quan tâm đến bóng đá, tôi đã hỏi nó chọn "Inter hay Milan". Maldini nói ngay: Milan. Vâng, chính nó đã chọn Milan khi lên 10 tuổi".
Đó là một câu chuyện về biểu tượng vĩ đại nhất trong 105 lịch sử của Milan, bởi vì tất cả đều không muốn nghĩ rằng thần tượng của mình đã một thời hâm mộ Juve, đối thủ không đội trời chung của Milan kể từ khi CLB ra đời vào năm 1899. Điều này có thể hiểu rằng với Maldini, trong trái tim anh chỉ có những từ “AC Milan”, nó giống như máu của anh mang màu đỏ và tóc của anh mang màu đen vậy.

Maldini thực sự là một trường hợp hy hữu trong bóng đá nhà nghề khi gắn trọn sự nghiệp của mình với Milan kể từ khi đội bóng còn trong bóng tối cho đến đỉnh cao nhất của vinh quang. Trong những năm tháng tồi tệ nhất trong sự nghiệp ở San Siro, đã có lúc Maldini tưởng chừng sẽ chuyển sang chơi bóng cho Chelsea, nhưng tình yêu với Milan là động lực lớn lao để anh tiếp tục là người thuyền trưởng dẫn dắt Milan nói tiếp những thành công giống như anh đã nâng chiếc cúp vô địch Champions League ở Old Trafford năm 2003 để đi vào lịch sử cùng với cha của anh, đội trưởng Cesare cũng đã từng nâng chiếc cúp danh giá đó ở Anh 40 năm về trước.

Nhân cách lớn giữa đời thường…

Trong một cuộc thăm dò của một tạp chí ở Italia, người ta đã chọn Maldini chính là người chồng lý tưởng nhất đối với phụ nữ Italia. Là một người đội trường mẫu mực trên sân cỏ, Maldini còn là một biểu tượng của một người đàn ông thủy chung. Sẽ không ai có thể chứng kiến được một Maldini tay chơi, đàng điếm,… scandal, bởi vì những thứ đó không tồn tại trong ý nghĩ của anh. Kể từ khi yêu và lấy cô cựu người mẫu Venezuela, Adriana Fossa vào năm 1994, họ đã có 2 thiên thần Christian và Daniel, gia đình Maldini thực sự là một kiểu mẫu của một gia đình hạnh phúc. Hình ảnh đẹp luôn ghi đậm trong tâm trí các CĐV khi xem Milan thi đấu: Maldini cầm tay cậu bé lớn Christian (khoác chiếc áo đỏ đen) tiến ra sân San Siro cùng với toàn đội và trên khán đài, vợ của anh, Adriana bế chú nhóc Daniel dẫn đầu “bầu đoàn thê tử” là vợ, bạn gái của các cầu thủ Milan cổ vũ cho chồng và đồng đội giành chiến thắng.

Một chi tiết đáng chú ý nhất về Maldini khi ra sân thi đấu, không chỉ là những pha bóng tài hoa trên sân cỏ, mà còn từ chiếc băng đội trưởng của anh. Không như những đội trưởng khác, những người thường chọn những chiếc băng màu mè, những ký hiệu là nhiều màu sắc, chiếc băng của Maldini luôn duy nhất hình logo biểu tượng của Tổ chức Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), bởi vì anh chính là đại sứ thiện chí của LHQ. Những chuyến đi cứu trợ trẻ em nghèo ở châu Phi, những trận đấu từ thiện, hay những buổi quyên góp tiền của Maldini cũng nhiều như những gì anh đã và đang đóng góp cho Milan và Azzurri trên sân cỏ vậy.

Trực tiếp chứng kiến thảm họa động đất và sóng thần ở Nam Á, Tsunami, hơn ai hết, Maldini hiểu rõ về những việc làm của mình dành cho những người kém may mắn trong cuộc sống có ý nghĩa lớn lao như thế nào. Và chắc chắn những gì anh đang đóng góp cho các hoạt đồng từ thiện sẽ lớn hơn rất nhiều so với 21 danh hiệu mà anh giành được trong sự nghiệp thi đấu 20 năm qua.

… và một con người đầy tài năng

Không chỉ nổi tiếng trên sân cỏ và là tấm gương sáng cho đời, Maldini còn là một con người rất tài năng. Từng là một DJ rất nghề cho một mạng truyền thanh và rất hâm mộ nhạc rap mà thần tượng của anh chính là ca sỹ kiêm diễn viên nổi tiếng Will Smith. Chính vì vậy, việc Maldini cùng với bạn của anh, tiền đạo đang khoác áo Inter, Christian Vieri cùng nhau tung ra một album mang tên “Sweet Years Melody” đã được giới hâm một đón nhận một cách hết sức nồng nhiệt.

Không chỉ thế, sống ở kinh đô thời trang thế giới, hẳn Maldini cũng rất dễ dàng bước vào thế giới của thời trang. Việc quảng cáo những mẫu kính Police, những chiếc xe Opel hay Adidas chỉ là một việc làm tay trái, đối với Maldini, bước vào lĩnh vực thiết kế thời trang mới thực sự là một việc làm “trí tuệ” của người Milano. Maldini đã cùng Vieri thiết kế một nhãn hiệu mang tên “Sweet Years” mà hiện bán rất chạy khiến cho cả hai phải gồng mình hết sức để phát triển “dự án” của mình. Một nét đáng chú ý là lợi nhuận từ việc ra album và bán các sản phẩm “Sweet Years” đều được Maldini giành cho công tác từ thiện mà anh đeo đuổi trong nhiều năm qua.

Đây chỉ là điểm qua những nét nhỏ trong suốt chiều dài của bộ phim “Paolo Maldini – il Film” và không phải đợi lâu, chúng ta sẽ lại tiếp tục được chứng kiến Maldini tung hoành trên sân cỏ như một chàng trai mới 16 tuổi ngày nào .

tonithai
16-02-2005, 09:01
đại ca Petern cho em đưa mấy bài tiểu sử vào đây nhé :))
Rudi Voeller
Ngày sinh : 13/8/1960 tại Hanau, Đức

Sự nghiệp cầu thủ : Đã từng chơi cho :TSV 1860 Hanau, Kickers Offenbach, TSV 1860 Munich, Werder Bremen, AS Roma, Olympique Marseille, Bayer Leverkusen

Những danh hiệu cá nhân : Vô địch thế giới năm 1990, Huy chương bạc thế giới năm 1986, huy chương bạc Euro năm 1992, Vô địch C1 năm 1993 (với Olympique Marseille), Cầu thủ xuất sắc nhất Đức năm 1983, Vô địch Italia năm 1991 (với AS Roma), vua phá lưới Bundesliga năm 1983, 90 khoác áo đội tuyển Đức ( ghi 47 bàn )

Trên cương vị Huấn luyện viên đội tuyển Đức : Đoạt huy chương bạc World Cup năm 2002

Tiền đạo số một của đội tuyển Tây Đức trong những năm 80,Rudi Völler dành trận thắng đầu tiên ngay từ lần đầu tiên khoác áo đội tuyển Đức đọ sức với Northern Ireland vào năm 1982. Sinh ra ở Hanau, đã từng dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trong năm, một giải thưởng thường niên của Bundesliga, cũng như vua phá lưới Bundesliga khi anh còn thi đấu cho Werder Bremen, anh là một mẫu tiền đạo ghi bàn hàng đầu, anh thường ghi những bàn thắng hết sức đẹp mắt, anh có sự nhạy cảm của một tiền đạo và có thể vượt qua các hậu vệ một cách dễ dàng để ghi bàn. Anh cũng được mệnh danh là ông vua trong vòng cấm địa.

Euro 1984 là giải đấu đầu tiên của tiền đạo Rudi, chỉ đóng góp được hai bàn thắng cho đội tuyển, Đức đã bị loại ngay vòng đầu. Nhưng chỉ hai năm sau ở World Cup Mexico 1986, Đội tuyển Đức đã có những tiến bộ vượt bậc, tuy nhiên Voeller dành phần lớn thời gian trên băng ghế dự bị vì lúc đó huấn luyện viên trưởng Beckenbauer ưa thích sử dụng tiền đạo Klaus Allofs đá cặp với Rummenigge trên hàng tấn công. Voeller chỉ được vào sân trong trận bán kết với đội tuyển Pháp và ghi bàn thắng thứ hai góp phần vào chiến thắng 2-0 của Đức. Trong trận chung kết anh lại được vào sân từ băng ghế dự bị và ghi bàn giúp Đức cân bằng tỷ số, nhưng một bàn thắng muộn màng của Argentina đã giúp họ đoạt chức vô địch.

Sau khi thất ở bán kết trước Hà Lan ở Euro năm 1988,R.Voeller và đội tuyển Đức lại gặp lại Hà Lan vòng hai World Cup ở Italy 1990, Lần này thì Voeller lại liên quan đến một vụ rắc rối giữa anh và cầu thủ Hà Lan là F.Rijkaard kết quả là cả hai cùng bị đuổi ra khỏi sân. Voeller quay trở lại với đội tuyển Đức ở vòng bán kết với đội tuyển Anh và ở trong trận Chung Kết với Argentina anh đã bị đốn ngã trong vòng cấm địa và Đức vươn lên dẫn trước nhờ cú sút phạt penalty thành công cuả Andreas Brehme khi trận đấu chỉ còn 5 phút. Tại Italia 90,Voeller đã ghi được ba bàn và cùng đội tuyển Đức nâng cao chiếc Cup vô địch lần thứ ba tại sân Olympic ở Roma

Sau đó Rudi Voeller đã chơi cho Olympique Marseille và đoạt chiếc Cup Champions League cao quý trước khi trở về Đức vào năm 1994 và chơi cho Bayer Leverkusen. Anh đã chơi vòng chung kết World Cup cuối cùng ở Mỹ khi anh đã 34 tuổi và thường xuyên vào sân từ băng ghế dự bị , nhưng với 2 bàn thắng ghi được , anh đã không làm được gì để bảo vệ được ngôi vô địch của Đức, Đức bị loại khỏi tứ kết bởi đội tuyển Bungari. Điều này cũng đánh dấu chấm hết cho 12 năm sự nghiệp thi đấu quốc tế của anh, Voeller giải nghệ vào năm 1996 và làm giám đốc kỹ thuật cho Bayer Leverkusen.

Năm 2001, sự nghiệp của Voeller đã có một bước ngoặt, Sau thất bại của đội tuyển Đức tại Euro 2000, HLV trưởng đội tuyển Quốc Gia Đức Erick Ribeck từ chức, huấn luyện viên được kỳ vọng C.Daum dính vào vụ scaldal về ma tuý, trước tình hình đó liên đoàn bóng đá Đức đã có một bước đi táo bạo khi đưa Voeller làm HLV đội tuyển Quốc gia khi ông mới chỉ 41 tuổi. Tại vòng chung kết WC2002 ở Nhật - Hàn với một đội hình không được đánh giá cao, Voeller đã đưa Đức vào tới trận Chung Kết và chỉ chịu thua Brazin của Ronaldo ở trận Chung Kết.t

tonithai
16-02-2005, 09:02
Jurgen KlinsmannSinh
tên:Jurgen KlinsmannSinh vào ngày 30 tháng 7 năm 1964 tại Goppingen, Jurgen Klismann đã bắt đầu sự nghiệp của mình tại câu lạc bộ hạng hai Stuttgart Kickers vào năm 1982. Hai năm sau anh trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu tại giải đấu này, Vì vậy câu lạc bộ lớn nhất vùng là Vfb Stuttgart đã ký hợp đồng với anh. Klinsmann đã thi đấu năm mùa giải tại đây và dành được rất nhiều thành công cho cả anh và câu lạc bộ. Năm 1988 là năm Jurgen thi đấu rất thành công. Anh vừa dành được danh hiệu cầu thủ vua phá lưới vừa dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trong năm, tuy nhiên cùng với đội tuyển quốc gia năm 1988, Đức của Jurgen bị Hà Lan loại khỏi bán kết Euro ngay tại sân nhà

Mùa hè năm 1989 Klinsmann ra nước ngoài thi đấu, câu lạc bộ đầu tiên là Inter Milan. Anh ra nhập câu lạc bộ cùng với những người đồng hương là Lothar Matthäus và Andreas Brehme để hình thành nên một bộ ba huyền thoại của Đức ở Inter. Ngay màu bóng đầu anh cùng Inter đã quét sạch tất cả các danh hiệu có thể có tại Serie A. Klinsmann là một cầu thủ rất dễ thích nghi với những nền văn hoá mới. Anh luôn chơi bóng ở đẳng cấp cao tại những nơi anh tới : Anh , Italia, Đức và Pháp. Nước Pháp cũng là điểm đến tiếp theo của anh vào năm 1992, nhưng hai năm trước đó, năm 1990, Jurgen đã dành chiến thắng cùng với đội tuyển Tây Đức ở World Cup tại Italia. tại đây anh đã được chơi năm trận tại chính sân bóng của câu lạc bộ Inter điều này càng làm cho những chiến thắng của anh càng trở nên đặc biệt, cũng từ đấy tên tuổi của anh dần trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới. Tuy nhiên sau hai năm chơi cho Monaco mà không dành được danh hiệu đáng kể nào, đây cũng là thời điểm nước Đức thất bại ở World Cup tại Mỹ, Klinsmann đã 30 tuổi và đã ở đỉnh cao của sự nghiệp, mặc dù ghi được 5 bàn tại Mỹ và có một giải đấu thành công, nhưng những người hùng của Italia 90 đã trở nên quá già và không thể nào giúp được đội tuyển Đưc bảo vệ ngôi vô địch.

Điểm đến tiếp theo của J.Klinsmann là Đảo Quốc sương mù Câu Lạc Bộ Tottenham Hotspur,ngay lập tức anh trở thành thần tượng mới của sân White Hart Lane, những bàn thắng ngoạn mục đã giúp anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải ngoại hạng Anh năm 1995. Một năm sau với tư cách là đội trưởng đội tuyển Cộng hoà Liên Bang Đức anh dành danh hiệu vô địch Châu Âu ngay tại sân Wembley, đây là một giải đấu đáng nhớ của Jurkin, mặc dù bị chấn thương trong nhiều trận đấu nhưng những bàn thắng và phong cách thi đấu của anh đã cổ vũ tinh thần rất lớn cho đội tuyển Đức dành thắng lợi. Sau một mùa bóng cho Tottenham anh ra nhập Bayern Munich, và sau đó là Sampdoria, năm 1988 anh quay trở lại Spurs để cứu vãn một mùa giải thất bại cho câu lạc bộ.

Mặc dù đã qua thời kỳ đỉnh cao phong độ anh vẫn được huấn luyện viên tin tưởng trao cho băng đội trưởng đội tuyển Đức tham dự France 98, anh chỉ đóng góp 3 bàn thắng tại giải đấu này,lại một lần nữa nước Đức đã bị loại khỏi vòng tứ kết trước đội tuyển Croatia. Sau giải đấu này Jurgen Klinsmann tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế . Với 108 lần khoác áo đội tuyển ghi được gần 50 bàn thắng, cùng với phong cách thi đấu hào hoa phong nhã, Klinsmann trở thành huyền thoại của bóng đá Đứct

tonithai
16-02-2005, 09:03
DER KAISER Frank Beckenbauer
DER KAISER Frank Beckenbauer
Số lần khoác áo đội tuyển : 103
Số bàn thắng : 14

Đã từng thi đấu cho : C Munich 1906, Bayern Munich, New York Cosmos, SV Hamburg

Vô định World Cup: 1974
Vô địch Chân Âu : 1972
Vô địch Champion League : 1974, 75, 76
Vô Địch Winners Cup : 1967

Vô địch Bundersliga: 1969, 72, 73, 74.
Vô địch giải West German Cup: 1966, 67, 69, 71
Franz Beckenbauer là người duy nhất đã từng đoạt Cup thế giới trên cương vị huấn luyện viên và cả cầu thủ . Đây là một thành tích độc nhất vô nhị. Ông là đội trưởng của Tây Đức giật Cup vàng năm 74 và là huấn luyện viên đã cùng đội tuyển Đức chiến thắng Argentina trong trận chung kết năm 90. Ở cấp câu lạc bộ, ông cũng đã cùng các đồng đội ở Bayern Munich của mình chiến thắng ba lần liên tiếp ở Cup Châu Âu và vô khối danh hiệu Bundesliga.
Nhưng đó không phải là những điều duy nhất khiến cho ông được nhớ tới. Lối chơi mang tính kiêu ngạo của ông luôn chứng tỏ rằng mình là người chỉ huy, Franz là một nhà tư tưởng vĩ đại của trận đấu và là người đã mang đến cuộc cách mạng trong lối chơi của một trung vệ. Ông được gọi là ''Hoàng đế Franz'' hay ''The Kaiser'', trước thời của vị hoàng đế này, không ai dám nghĩ tới việc một trung vệ có việc gì để làm ở phần sân đối phương, chứ đừng nói tới việc ghi bàn! Dùng tốc độ và sức mạnh để vượt ra khỏi trung tâm hàng phòng ngự ghi bàn ở phía kia của sân là một điều chưa từng thấy. Franz đã sáng tạo và truyền lại lối chơi đó cho bóng đá hiện đại.Keir Radnedge đã viết trong Soccer: The Ultimate Encnclopedia: ''Beckenbauer là người chủ con rối, đứng đằng sau và kéo đoàn người tới tất cả các danh hiệu chủ yếu của Tây Đức và FCB''(Nguyên văn: ''pulling the strings'')

Beckenbauer sinh ra trong tàn tích của cuộc chiến ở Đức vào ngày 11/9/1945. Năm 14 tuổi ông vào chơi cho đội tuyển trẻ của Bayern Munich. Thời đó Bayern Munich là một đội bóng không hợp thời và không có một chỗ ở Bundesliga khi nó đưọc hình thành vào năm 1963. Nhưng rồi họ thăng tiến rất nhanh, và Franz cũng kiếm được một suất trong đội hình chính khi anh chuyển hướng sang chơi ở hang tiền vệ. Năm 20 tuổi anh được gọi vào đội tuyển quốc gia.

Trận đấu đầu tiên thử thách chàng trai trẻ là một trận đấu khá quan trọng gặp Thuỵ Điển ở vòng loại WC 1966. Tuy nhiên, Franz đã chứng tỏ đuợc mình và góp phần vào chiến thắng 2-1 đưa Tây Đức tới nước Anh. Trong loạt trận ở vòng đấu bảng, Beckenbauer đã thể hiện thoáng qua cho mọi người về lối chơi toàn sân bằng cách cùng với Tây Đức chiến thắng Switzerland 5-0, hoà 0-0 với Argentina và hạ Tây ban Nha 2-1 để lọt tới trận tứ kết cùng với Uruguay. Một lần nữa, Beckenbauer lại xuất hiện từ phía sau hàng tiền vệ để mang lại chiến thắng 4-0 cho Đức.
Ở trận bán kết, Tây Đức gặp Liên Xô, đội này chỉ còn 9 người sau một thẻ đỏ và một chấn thương. Và cơ hội cho Becken toả sáng đã đến khi anh tung một cú sút chân trái cức kì hiểm hạ gục Lev Yashin, bức tường của đội tuyển Nga. Trong trận chung kết với đội chủ nhà, Franz đã chạy lòng vòng cùng với Bobby Charton quanh sân, kèm chặt tiền đạo này. Nhưng Anh đã chiến thắng 4-2 trong những phút đá bù giờ với hat-trick của Geoff Hurst. Trong những năm sau, chính The Kaiser đã phát biểu: '' Đức thua Anh năm đó chỉ vì Bobby nhỉnh hơn tôi một chút''

tonithai
16-02-2005, 09:04
Berti Vogts
Berti Vogts
Sinh ngày 3 tháng 12 năm 1946,bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ quê hương ông, VFR VfR Büttgen.Vị trí tiền vệ cánh phải đã sớm được thừa nhận tại một trong những câu lạc bộ hàng đầu Tây Đức thời bấy giờ, Borussia Mönchengladbach.Nơi ông khẳng định được tên tuổi của mình và đã thi đấu suốt 14 năm.Với cái tên thân mật được các cổ động viên trìu mến đặt là:"Der Terrier." hay còn là:"Berti."
Mỗi khi chứng kiến cách ông thi đấu là cả một sự quả cảm chiến đấu quên mình,luôn không biết mệt mỏi đuổi theo trái bóng cứ như mỗi trận đấu là một trận đấu cuối cùng của mình.Vogts đã luôn là một niềm tự hào lớn của cổ động viên quê nhà.Vào năm 1967,ông đã bắt dầu sự nghiệp thi đấu cho đội tuyển Tây Đức và cho tới 3 năm sau đó ông tham gia vào giải đấu quốc tế lớn đầu tiên của sự nghiệp,WorldCup năm 1986 tại MEXICO.Berti tham gia hầu hết các trận đấu mà những cổ xe tăng chiến đấu,cho đến khi họ phải dừng chân tại trận bán kết trước đổi tuyển Italia hùng mạnh trong một trận đấu nghẹt thở và đẹp nhất trong lịch sử WC,và chấp nhận huy chương đồng.
Vogts hiếm khi xếp vị trí thứ hai trong thành phần thi đấu của đội bóng.Thành tích ấn tượng nhất về sự nghiệp của Vogts được thể hiện qua 5 cúp liên đoàn,1danh hiệu Domestic cúp và 2 danh hiệu UEFA với cùng một CLB duy nhất,Borussia Mönchengladbach.Một điểm đáng chú ý nữa của con người ông,là ông đã đoạt danh hiệu cầu thủ suất sắc nhất của nước Đức 2 lần.Một danh hiệu lớn đã từ chối ông,Năm 1977 tưởng chừng như ông và đội Borussia Mönchengladbach đã chạm tay vào chiếc cúp Châu âu danh giá,nhưng cuối cùng đành cam chịu thất bại 1-3 trước Liverpool trong trận chung kết tại Roma.Nhưng trước đó ông đã được bù đắp khi nâng trên tay chiếc cúp Thế giới danh giá năm 1974..3 năm trước đó,tây Đức đã đăng cai và mang về chiếc cúp thế giới với một thành phần đội tuyển không được đánh giá cao và trong đó Vogts là một thành viên không thể thiếu được của đội tuyển.Ông đã có mặt trong tất cả 7 trận đấu trong WC bao gồm cả trận chung kết trận mà ông đã bắt chết Johann Cruyff.Ông còn nổi tiếng với số lần có mặt trong các trận WC với tổng số trận là 19 trận chỉ chịu thua 5 danh thủ khác trong lịch sử WC,có mặt liên tiếp trong 3 lần WC.Năm 19 77 Berti nhận lại băng đội trưởng đội tuyển quốc gia từ tay Beckenbauer và giữ nó cho tới sau Vòng chung kết WC tại Arghentina cùng năm tiếp theo,nơi đã để lại một kỷ niệm buồn cho ông và đội tuyển đức khi thất bại ở vòng hai.Ông đã cảm thấy mệt mỏi và biết rằng đến lúc mình phải từ giã đội tuyển quốc gia năm 19 79 .Dù ông từ bỏ bóng đá nhưng ông vẫn tiếp tục những công việc liên quan tới trái bóng cho đến khi tiếp nhận chức huấn luyện viên trưởng đổi tuyển quốc gia Đức năm 1990 cùng lại từ tay hoàng đế Franz Beckenbauer và lãnh đạo họ đoạt vô địch châu âu năm 1996 khi trả thù đội Cộng hoà sét ...Còn dài nhưng những gì sau đó là những kỷ niệm buồn của bóng đá Đức nên mình ko nói tới.....t

tonithai
16-02-2005, 09:05
Lothar Matthaus
Lothar Matthaus

Ngày sinh : 21/3/1961
Nơi sinh : Hezogenaurach, Cộng Hoà Liên bang Đức.
Chiều cao : 1,74m
Cân nặng : 72 kg

Các câu lạc bộ đã qua : FC Hezogenaurach (1970 - 1979 )
Borussia Moncheladbach (1979 - 1984 )
Bayern Munich (1984 - 1988 )
Inter Milan (1988 - 1992 )
Bayern Munich ( 1992 - 2000 )
Metro Star ( 2000 - 2001 )

Thành tích cùng các Câu Lạc Bộ : Cup Uefa 1991 , 1996 ,
Vô địch Bundesliga 1985 , 1987 , 1994 , 1997 , 1999
Vô địch Serie A 1989

Thành tích cùng đội tuyển Đức : Vô địch Châu Âu 1980
Vô địch thế giới 1990
150 lần khoác áo đội tuyển , 23 bàn thắng Matthaus thực sự chơi bóng đá từ năm lên 7 tuổi, trong cuộc chiến liên miên trên đường phố giữa những đội bóng của những khu phố khác nhau trong thị trấn nhỏ ở phía nam nước Đức, đối thủ của Lothar ít nhất là 10 tuổi và cao hơn anh từ một đến hai cái đầu, nhưng Lothar không bao giờ chịu thua và sau mỗi lần khóc thất bại là lại khóc nức nở. Cùng đá trong đội với Lothar là ông anh Wolfgang và đôi khi cả bà mẹ Katharina đứng trong khung thành, đôi khi bà cũng bị con mắng vì đã để trái bóng "đáng nhẽ ra phải bắt được" chui vào lưới. Nhưng cũng chính bằng cách đó bà Katharina đã canh chừng để con mình không sao nhãng việc học hành. Mặc dù vậy Lothar khá vất vả trong lớp, nhất là với môn lịch sử cũng như các môn khoa học tự nhiên khác

Sau đó Lothar ra nhập đội bóng thanh thiếu niên Hezogenaurach- đội bóng đại diện cho hãng Puma- cứ mỗi mùa bóng anh ghi được 80 - 100 bàn thắng. Năm 18 tuổi các chuyên viên hãng Puma nói với Matthaus " Cậu có tài năng tương xứng với Bundesliga, vậy cậu muốn chơi cho câu lạc bộ nào ? " Câu trả lời được đưa ra không chút ngập ngừng : Borussia Monchengladbach - một đội bóng có lối chơi đẹp mắt. HLV J.Heynckes lập tức dành cho Matthaus một vị trí chính thức, về cơ bản, Matthaus nổi lên như một cầu thủ ghi bàn, nhưng J.Heynckes lại muốn lắp anh vào tuyến tiền vệ để tận dụng sự nhanh nhẹn và sức mạnh trong những cuộc tranh chấp tay đôi cũng như sức công phá của chàng trai này.

Cũng chính từ đây, Lothar bắt đầu nếm trải những cay đắng, nhọc nhằn trong cuộc sống của đời cầu thủ chuyên nghiệp. Năm 1984 , anh quyết định về Munchen và bị J.Heynckes cho ngồi ghế dự bị, rồi trong trận chung kết cup Quốc Gia anh lại đá hỏng quả phạt đền khiến đội nhà mất giải. Năm 1980, ở lứa tuổi 19, Matthaus được gọi vào đội tuyển Quốc Gia và có mặt tại giải Vô Địch Châu Âu trên đất Ý, nhưng đó là một chuyến đi rất không may mắn, được thay vào sân phút thứ 73 trong trận gặp đội Hà Lan, Matthaus đã phạm lỗi và tặng cho đối thủ một quả phạt đền. Hậu quả thật nặng nề : Lothar bị treo giò trong đội tuyển hơn một năm. Mãi đến năm 1982, khung cửa bóng đá mới mở rộng trở lại cho Matthaus: Trong chuyến viễn du Nam Mỹ anh đã thành công trong việc cô lập Zico của Brazin và Maradona của Achentina, dù thua 0-1 trước Brazin nhưng đối với Matthaus đó là dấu ấn không thể phai mờ " Đó là trận đấu đẹp nhất đời tôi "

Bước đột phá của Matthaus, theo như anh nhìn nhận, xảy ra 4 năm sau đó ở World Cup 86, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên với tư cách là tuyển thủ Quốc Gia trong trận thắng Tiệp Khắc 5-1 ở vòng loại, ở giải ấy, Đức lọt vào trận Chung Kết gặp Achentina, Matthaus được giao nhiệm vụ kèm Maradona- đối thủ khó khăn nhất trong sự nghiệp cầu thủ của mình, từ một đợt phản công bất ngờ vào phút chót Maradona đã chuyền bóng cho đồng đội ấn định tỷ số 3-2. Trận đấu này dược Matthaus xem là " trận đấu thất vọng nhất " trong sự nghiệp khoác áo đội tuyển quốc gia

Năm 1988, Lothar chuyển sang Inter Milan và Huấn luyện viên Inter lúc ấy - Giovani Trapattoni - chính là người đã đưa anh tới độ chín của một cầu thủ tầm cỡ hàng đầu trên thế giới. Đầu tiên, Trapattoni trao cho Lothar tấm áo số 10 với những lời đầy vinh dự, Matthaus hoảng sợ từ chối " Tôi đâu đã phải là Platini " . Trap nhẹ nhàng bảo " Nhưng cậu là thủ lĩnh của tôi trên sân, mà một thủ lĩnh thì bao giờ cũng mang áo số 10 " . Matthaus đã làm tròn nhiệm vụ của người thủ lĩnh ấy: Anh đưa Inter đến chức vô địch Serie A và đoạt luôn cúp C3
tiếp tục với Lothar:Italia 90, với chiếc băng thủ quân đội tuyển Đức, anh đã chơi " một Muldial của cuộc đời " Lothar đã cùng đồng đội thực hiện " cuộc báo thù ngọt ngào " và bước lên bục vinh quang ở độ tuổi 29. Cũng trong năm ấy anh thâu tóm tất cả các danh hiệu trên thế giới: Cầu thủ xuất sắc nhất nước Đức, Quả bóng vàng Châu Âu, Cầu thủ xuất sắc nhất Thế Giới, Vận động viên số 1 Châu Âu, Vận động viên số 1 Thế Giới.
Tuy nhiên, mọi việc bắt đầu xấu đi, giữa lúc đỉnh cao phong độ, anh bị một chấn thương nặng đe doạ kết thúc sự nghiệp cầu thủ. Lúc này anh mới cay đắng nhận ra " Không một ai ở Inter quan tâm đến tôi cả, người ta đã vứt tôi đi như một cái vỏ chanh, tôi đã cống hiến, đã chiến đấu vì mầu cờ sắc áo của Inter, mà người ta nỡ đối xử với tôi như vậy sao ?" . Theo đề nghị của Franz Beckenbauer, Lothar đã quay trở lại Muchen và bằng những thành tích trên sân cỏ, anh đã chứng minh một cách hết sức thuyết phục rằng mình chưa hết thời.

Thất bại trước Bungari tại USA 96 là vết nhục cho đội tuyển Đức. Nó cũng mở đầu mối quan hệ đóng băng giữa Matthaus và Vogts " Chừng nào tôi còn là Huấn luyện viên Đội tuyển Quốc gia thì cậu ta không bao giờ có mặt trong đội hình " Berti đã nói như vậy do việc Matthaus đã dấu việc mình bị chấn thương để được tham gia trận gặp Bungari, kết quả là anh không được tham dự Euro 96. Anh đã từng là một người rất đơn độc tại Bayern. Không kìm giữ được, anh đã xuất bản cuốn "Nhật ký" tai hại gây nên biết bao đổ bể, tập thể cầu thủ Bayern coi cuốn sách này là xấu chơi và bỏ phiếu phế truất anh khỏi cương vị đội trưởng. Tất cả có vẻ như chấm hết. Còn cách nào không ?? Có ! đơn giản là trả lời bằng hành động. Im lặng và bền bỉ thi đấu. Chính Vogts đã phải mời Matthaus sang Pháp dự France 98, năm 1999 Matthaus lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của mình bằng danh hiệu " nhân vật số một trong năm của bóng đá Đức " ở độ tuổi 38. Rồi Lothar sang Mỹ thi đấu nhưng anh vẫn là nhân vật chủ chốt đưa đội tuyển Đức vượt qua vòng loại Euro 2000 và trước vòng chung kết vẫn được Ribbeck xem là " người không thể thiếu trong Đội tuyển " .

Matthaus còn là người của những kỷ lục: 5 lần dự vòng chung kết Mundial với 25 trận, 150 lần khoác áo đội tuyển Quốc Gia. Nhưng chính trận đấu thứ 150 ấy lại là trận đấu ê chề nhất, nhục nhã nhất và đau đớn nhất, nó gắn liền với một chuỗi scaldal về kỷ luật và tinh thần thi đấu của các cầu thủ Đức. Matthaus đã ra đi không kèn không trống !

Tuy nhiên, Matthaus vẫn là một trong những tượng đài vĩ đại nhất của nền bóng đá đương đại, một con người tượng trưng cho sức mạnh, động lực, một cầu thủ toàn năng, chơi ngẫu hứng, tưng bừng, dũng mãnh, có khả năng đọc trận đấu và trên hết là một thủ lĩnh thực sự. Anh còn nổi bật về ý chí sắt đá và niềm tin vào chính mình. Bí quyết thành công của anh : " Tôi không bao giờ có thể chịu đựng được thất bại, cái tham vọng vô biên này là điểm ưu lớn nhất của tôi, bởi ví chắn chắn là đã và hiện có những cầu thủ tài năng hơn tôi, thế nhưng ở họ thiếu cái ý chí tuyệt đối để giành chiến thắng ở mức cao nhất. Khi các bạn tôi đi khiêu vũ với bạn gái của họ, một mình tôi ở lại tập đá vào hộp gôn mà tôi đã tự dựng lên trong vườn nhà, hoặc là tôi đến sân bóng. Tại đó tôi luôn luôn biết tôi muốn gì, tôi không bao giờ cảm thấy thoả mãn và tôi đã có những cơ may cần thiết. Vào thời điểm thích hợp tôi luôn được cổ vũ bởi những huấn luyện viên đúng đắn ở những câu lạc bộ tốt ."

Quan niệm sống của anh : " Luôn luôn nhìn về phái trướct

tonithai
16-02-2005, 09:06
Andreas Brehme
Andreas Brehme
Một trong những hậu vệ cánh trái toàn diện nhất của bóng đá Châu Âu từ trước tới nay, Andreas Brehme, người đã có 10 năm thi đấu trong mầu áo đội tuyển Quốc Gia Đức. Brehme đã từng thi đấu cho Câu Lạc Bộ Barmbeck Uhlenhorst và FC Saarbrücken trước khi ra nhập Kaiserslautern, đây cũng là nơi giúp anh có được một vị trí chính thức trong đội tuyển quốc gia từ năm 1984. Brehme là một trong số ít cầu thủ có thể chơi xuất sắc cả hai chân, anh có những cú vào bóng hoàn hảo bằng chân trái và thường xuyên có những cú sút bằng chân phải. Chúng ta cũng không thể nào quên được bàn thắng nâng tỷ số lên 2-0 cho đội tuyển Đức trong trận bán kết gặp Hà Lan tại Muldial90 của anh, một cú vuốt bóng chân phải từ ngoài vòng 16m50 hạ gục thủ thành Hà Lan, đây được coi là bàn thắng đẹp nhất trong sự nghiệp của Brehme.

Tuy nhiên tại giải vô địch Châu Âu năm 1984 cả anh lẫn đội tuyển Đức đều không thành công, đội tuyển Đức bị loại ngay vòng Knock-out thứ nhất và Brehme bị chấn thương. Khi Beckenbauer lên xây dựng lại đội bóng để chuẩn bị cho vòng chung kết Mexico86 thì Brehme là một trong những cầu thủ được ưu tiên hàng đầu của đội tuyển Đức luc bấy giờ. Andreas đã có một vòng chung kết thành công khi anh ghi bàn thắng trong trận bán kết với đội tuyển Phấp và có hai quả phạt góc dẫn tới bàn thắng trong trận chung kết gặp Argentina, mặc dù cuối cùng đội bóng Nam Mỹ này đã thắng với tỷ số 3-2.

Sau đó Brehme đã bị lôi cuốn bởi giải Serie A ở Ý. Anh quyết định thử vận may của mình tại đất nước nằm bên bờ Địa Trung Hải này và đã ra nhập vào Inter Milan với những người đồng đội của mình trong đội tuyển Đức là Klinsmann,Matthäus. Tai đây Brehme đã hợp với Klinsmann và Matthäus tạo thành bộ ba người Đức thi đấu cực kỳ hiệu quả, Brehme đã giúp Inter giành chức vô địch Serie A vào năm 1989 và cũng chỉ một năm sau đó anh cùng đội tuyển Tây Đức đoạt chức vô địch Muldial 90 ngay tại Ý, tại Muldial này anh đã chơi một số trận trên sân nhà, sân San Siro, và đã thi đấu rất thành công, Brehme đã ghi được ba bàn thắng trong đó bao gồm cả bàn thẳng của cả cuộc đời được ghi bằng Penalty trong trận chung kết gặp Argentina đối thủ đã đánh bại Đức bốn năm về trước.

Brehme sau đó cũng quay trở về với bóng đá Đức đầu tiên là ra nhập Bayern Munich sau đó quay trở lại Kaiserslautern nơi anh đã từng gắn bó. Mặc dù ở độ tuổi 37 anh cùng CLB đoạt Cup nước Đức và chức vô địch Bundesliga vào năm 1998, năm 1998 cũng là năm anh kết thúc sự nghiệp thi đấu. Vòng chung kết World Cup cuối cùng trong sự nghiệp của anh là năm 1994 ở Mỹ nơi anh và đồng đội đã không thành công trong việc bảo vệ chức vô địch và bị Bugaria của Stoichkov loại ở tứ kết.

Hiện nay, Andreas Brehme, đang làm huấn luyện viên cho câu lạc bộ Kaiserslautern, mặc dù là một huấn luyện viên trẻ tuổi ở giải Bundesliga nhưng phong cách cũng như trình độ đã được các nhà chuyên môn ở Bundesliga thừa nhận, 3 lần được bầu là HLV xuất sắc nhất trong tháng, đưa Kaiserslautern, một trong các CLB đang khủng hoảng, vươn lên là một trong những đội mạnh của Bundesliga.t

tonithai
16-02-2005, 09:07
Gerd Muller
Gerd Muller
- Ngày sinh : 03-11-1945 tại Noerdlingen

- Vị trí : tiền đạo .

- Thành tích tại ĐTQG : 63 lần được tuyển , ghi 68 bàn ; đoạt Cup TG năm 1974 , Vô Địch Chau Âu năm 1972

- Thành tích tại CLB : Bayern Munchen ( 1964-1979 ) , đoạt Cup C1 năm 1974, 1975 , 1976 ; cup C2 năm 1967 ; vô địch Đức năm 1969 , 1972 , 1973, 1974 ; cup QG Đức năm 1966, 1967 , 1969 & 1971 ; Fort Lauderdale ( 1979 - 1981 ) .

-Thành tích cá nhân :
Vua phá lưới Mondial 1970 ( 10 ban )
Quả bóng vàng Châu Âu năm 1970 .

" Der Bomber " , biệt danh ấy đủ nói lên tất cả . Gerd Muller không có khả năng thiên phú , cũng không phong nhã , nhưng rất hiệu quả . Và chẳng nghi ngờ gì , trong một thời gian dài nữa , anh vẫn là một cầu thủ săn bàn huyền thoại mà bộ môn thể thao này có thể sản sinh được …

Anh có khả năng kiên nhẫn chờ đợi suốt trận đấu, lê lết cái thân hình vạm vỡ ( cao 1,75m , nặng 75 kg ) một cách nặng nhọc, rồi đột nhiên vọt ra khỏi cai vỏ của mình và ghi bàn thắng trong bất cứ tình huống nào . Đứng , quỳ gối, nằm bẹp, bằng chân , đầu , đầu gối ,mặt , lưng và cả bằng bụng. Ghi bàn bất cứ nơi đâu, bằng bất cứ kiểu nào . Với cái thân hình quá khổ và đôi chân ngắn rất to , anh có sức bật như một con báo và dáng vẻ bề ngoài của anh không hề gây nghi ngờ cho đối phương về tài làm bàn của mình .

" Der Bomber " , 68 bàn trong 63 lần khoác áo Đội Tuyển Quốc Gia, 365 bàn trong 472 trận đấu ở Bundesliga . Khó có ai có thể đạt đến cái tỉ lệ phần trăm thành công không thể tin được ấy . Muller : " Tôi cảm nhận bàn thắng bằng trực giác , như người thợ săn cảm nhận con mồi của mình . Ưu điểm lớn nhất của tôi là chịu khó di chuyển và nhất là luôn luôn có khả năng tìm được ví trị thích hợp nhất trong bất kì thời điểm nào. Tôi có mặt trên sân có lẽ để ghi bàn, thêm nữa và mãi mãi ".

Gerd Muller sinh ra tại một thành phố nhỏ ở vùng Bavaria , trong một gia đình thợ thuyền… Năm 11 tuổi anh đã chơi bóng đá, giữ ngay vị trí trung phong, và nhanh chóng khiến cho những chuyên viên tuyển mộ của Bayern Munchen lưu ý đến mình. Nhất là khi họ biết anh từng ghi được 20 bàn thắng chỉ trong một trận đấu của giải thiếu niên . Đến Bayern lúc 17 tuổi , anh khởi đầu cuộc đời cầu thủ chuyên nghiệp năm 1964 .

Cup Thế Giới 1970 chính là chiến trường đầu tiên cho những kì tích của Muller. Trong vòng một , anh ghi bàn án định chiến thắng 2-1 trong trạn đấu với Maroc , rồi 2 làn ghi hattrick trong 2 trận đấu với Bungari (5-2 ) và Peru ( 3-1 ) . Ở vòng tứ kết , Đức gặp lại đội tuyển Anh , đội Anh dẫn trước 2-0 nhưng vẫn không ngăn được cú lội ngược dòng ngoạn mục của đội phương : 2-2 . Chuyện gì đã xảy ra trong hiệp phụ ? Grabowski đột phá , lật bóng vào trung lộ và Muller hạ gục Bonetti : 3-2 . Tiến đến trận bán kết huyền thoại với đội tuyển Italia , Muller ghi 2 bàn trong hiệp phụ , nhưng cuối cùng Đức vẫn thất bại với tỉ số 3-4 . Với 10 bàn thắng , Muller được tôn vinh là cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất của giải .

Hai năm sau, anh lại đóng một vai trò rất đáng kể trong cuộc chinh phuc danh hiệu VĐCÂ . Ghi 2 bàn trên sân Wembley trong trận đấu với đội tuyển Anh ở tứ kết ( 3-1 ) , 2 bàn trong trận gặp Bỉ ( 2-1 ) ở bán kết , và 2 bàn trong trận chung ket ( 3-0 ) trước Liên Xô . Anh vẫn còn đó với Bayern , để ghi 2 trong số 4 bàn thắng ở trận chung kết Cup C1 năm 1974 trước Atletico Madrid . Anh vẫn có mặt vào mỗi chiều thứ bẩy ở Bundesliga , để kết thúc với danh hiệu vua phá lưới trong 6 năm liên tiếp , từ 1969 đến 1974 , với những con số đầy ấn tượng ( 38 bàn năm 1970 va 40 bàn năm 1972 ) đã giúp anh hai lần đoạt phần thưởng Chiéec Giầy Vàng dành cho cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất Châu Âu .

Rồi đến Cup Thế Giới 1974 . Khởi đầu anh bỗng dưng mờ nhạt một cách kì lạ, chỉ ghi được 1 bàn trong vòng 1 trước đội tuyển Úc . Rồi 1 ban khác ở vòng 2 trong trận đấu với Nam Tư . 2 bàn trong 5 trận đấu . Đến trận đấu quyệt định giữa Đức va Ba Lan để giành một xuất tham dự trận chung kết : phút 75 , từ 1 đường chuyền vào trung lộ của Hoelzenbheim , anh bật người lên cao để vượt qua Zmuda va hạ thủ môn Tomaszewski bằng một cú sút xa . Kết quả 1-0 đã giúp đội tuyển Đức vào Chung kết .

Cuối cùng ngày 7 -7 đã đến ,ngay đầu trận chung kết với các cầu thủ Hà Lan, họ mở tỉ số ngay từ phút đầu tiên . Nhưng đội tuyển Đức gỡ hòa bằng quả phạt đền. Phút thứ 43: Bonhof đột phá và lật bóng vào trung lộ. Đường bóng hoàn toàn không thuận lợi đối với Muller. Nhưng đúng là chỉ có Muller mới có thể tìm ra được tất cả sức mạnh để đón lấy đường bóng và hạ thủ môn Jongbloed bằng một cú sút chân phải chéo góc. Đức trở thành Vô Địch Thế Giới !!!

Nhưng ngay vào buổi tối hôm ấy, trong buổi dạ tiệc sau trận đấu , một cuộc tranh cãi dữ dội đã bùng nổ giữa các nhà lãnh đạo Liên Đoàn và các cầu thủ, vì phu nhân của các cầu thủ không được mời tham dự buổi tiệc mừng chiến thắng. Thế là Muller đóng sập ngay cánh cửa của một đội tuyển mà anh không bao giờ muốn trở lại nữa.

Tuy vậy , anh vẫn còn tiếp tục chói sáng thêm vài năm nữa dưới mầu áo của Bayern, ghi 1 trong 2 bàn thắng của đội nhà ở trận chung kết cúp C1 năm 1975 khi đối đầu với Leeds Utd . Nhưng sau khi Beckenbauer rời Bayern vào năm 1977 , Muller không còn là con người như trước nữa . Và đến phiên anh lưu vong sang Mỹ vào năm 1979 . Hai mùa bóng dưới ánh mặt trời của vùng Florida như là đoạn kết của " Der Bomber " độc nhất vô nhị.

Tuy nhiên, phần đời còn lại của anh suýt bị biến thành một chương buồn thảm nếu không có sự giúp đỡ của đồng đội và bạn bè cũ. Khi đã đứng ở sườn dốc bên kia của đỉnh hào quang, vinh quang phai mờ dần, nỗi buồn chán hòa lẫn với những giờ phút nhàn rỗi từ công việc làm chủ một quán Bar ở Fort Lauderdale đã biến anh thành một kẻ nghiện rượu. Hôn nhân tan vỡ, thất nghiệp và nghiện ngập đã làm Muller suy sụp, buộc phải suy ngẫm và tự soi lại cuộc đời mình. Chính Uli Hoeness đã đưa anh vào một bệnh viện ở Munchen, sắp xếp mọi phí tổn chữa chạy, hỗ trợ hết khả năng của mình , cùng với Beckenbauer hết lòng động viên ủng hộ bạn và bổ nhiệm cho anh cương vị HLV đội tuyển trẻ ở Bayern. Giờ đây " Chiếc oanh tạc cơ " của bóng đá Đức lại được sống trong môi trường thể thao và câu chuyện về cuộc đời đầy sóng gió của anh là một ví dụ mà rất nhiều cầu thủ bóng đá có thể hun đúc thành bài học.t
__________________

tonithai
16-02-2005, 09:08
Karl-Heinz Rummenigge
Karl-Heinz Rummenigge

- Ngày sinh : 25-09-1955 tại Lippstadt .
- Vị trí : tiền đạo

- Thành tích tại ĐTQG : 95 lần được tuyển , hạng nhì cup Thế Giới năm 1982 & 1986 , VĐ Châu Âu 1980

- Thành tích tại CLB : Bayern Munchen ( 1974 - 1984 ) , đoạt cup C1 năm 1976 ; Vô địch Đức năm 1980 & 1981 , đoạt Cup QG năm 1982 & 1984 ; Inter Milan ( 1984 - 1987 ) ; Servette geneve ( 1987 - 1989 ) .

- Quả Bóng Vàng Châu Âu năm 1980 & 1981

Mot cau be muoi hai tuoi co kha nang ghi 16 ban thang trong chi mot tran dau duong nhien la dieu khien cho tat ca cac CLB lon phai quan tam .

Tuy nhien , khi nhung nguoi tuyen mo cua Bundesliga do bo den Lippstadt -thanh pho nho cua vung Westphalie , noi gia dinh Rummenigge dang sinh song , ho gap het bat ngo nay den bat ngo khac khi phat hien ra mot cau be om yeu va mot ong bo hoan toan khong thich thu voi viec dua con thien tai cua minh dan than vao cuoc song cua mot cau thu chuyen nghiep .

" Rummenigge la cai ho mang nguon goc Tzigan ma chung toi la nhung nguoi duy nhat mang no tren ca nuoc Duc " . Karl - Heinz , nguoi con thu hai trong so ba cau con trai cua ong Heinrich - mot nguoi tho moc , choi bong da tu khi len 7 tuoi . Va trong hon 10 nam , anh tao nen niem hanh phuc cho mot CLB nho mang ten Borrussia Lippstadt .

Hay tuong tuong rang trong 5 mua bong voi nhung doi bong thieu nhi hay thieu nien cua CLB , Karl-Heinz da ghi khong duoi 305 ban thang . Chua het , trong mua bong 1971-1972 , anh ghi 72 ban cho doi hang A trong giai vo dich nghiep du quoc gia . Dung la mot hien tuong !

Mua he nam 1974 , khi chang trai tre nay vua tron 19 tuoi va dang lam viec trong mot ngan hang cua thanh pho , thi cuoi cung ong Max Merkel - giam doc ki thuat cua Bayern Munchen - cung thuyet phuc duoc nguoi cha cho phep con trai cua minh buoc vao con duong bong da chuyen nghiep . Anh do bo vao mot doi bong ma bo ba Maier - Beckenbauer - Muller la nhung ong chu dang ngu tri . Va hho cam thay cau thu tre nay qua thien ve ca nhan .

Anh danh phai ngoi tren hang ghe du bi . Mua dong 1975-1976 anh moi tim duoc cho dung cua minh va gop mat vao doi hinh chinh thuc cua Bayern trong cuoc chinh phuc chiec Cup C1 chau Au vao nam 1976 . Duoc trieu tap vao DTQG trong mua thu sau do , nhung anh chi thuc su tro thanh ong chu cua Bayern khi Beckenbauer bo nuoc Duc sang thi dau cho CLB Cosmos cua Mi ...

Trong doi tuyen , Helmut Schon da bo tri anh thi dau o tuyen tien ve tai World Cup 1978 . " Tren thuc te , nuoc Duc khong co mot doi tuyen that su tai cuoc tranh tai nay . Chi la mot su chap va , mot su lap ghep nhung cau thu lai voi nhau . Chung toi thi dau khong tot ! "

Nhung khi tro ve tu Argentina , anh da khang dinh duoc minh trong vai tro tien dao canh chuyen san ban thang o Bayern Munchen cung nhu o DTQG , va cung that su bat dau thoi ki vang son cua " Kalle " . Trong 6 mua bong , anh hoan toan ganh tren doi vai minh tat ca suc nang cua bong da Duc , ngoi sao duy nhat cua mot the he moi dang thieu thon nhan tai mot cach nghiet nga . Su di chuyen tuyet voi va tam nhin toan dien tren loi choi da giup anh tro thanh mot nguoi dan dat that su . Anh khang dinh minh nhu mot ngoi sao cua bong da Duc trong nhung nam ay.

Vi thu linh bat khuat cua doi tuyen vo dich Chau Au nam 1980 tro thanh mot trong nhung cau thu hiem hoi da noi len trong mot VCK Euro buon te o Italia . Va tu thang 3-1977 cho den thang 3-1982 , anh thi dau 160 tran trong giai vo dich Duc , khong sot mot tran nao . Thang 3-1982 cung chinh la thoi diem khoi dau cho mot chuoi dai nhung chan thuong da keo le su nghiep cua anh .

Nhu the , anh den Espana '82 chi voi mot chan ! Rummenigge thi dau khi dang con chan thuong trong tran gap Anh (0-0) , roi roi san giua tran dau voi TBN (2-1) . Den tran ban ket huyen thoai tai Sevilla , Rummenigge chi vao san o phut thu 7 cua hiep phu thu nhat , trong khi doi tuyen Phap dang dan truoc 3-1 . Ngay lap tuc ,anh ghi 1 ban thang . Doi tuyen Duc hoan toan thay doi boi su tro lai cua vi thu linh , sau do tim lai suc manh de go hoa va gianh chien thang sau loat da luan luu . Mot phep la mang ten " Kalle " !!!

Nam 1986 Rummenigge cung den voi World Cup khi dang bi chan thuong . The nen Franz Beckenbauer , bay gio da tro thanh HLV doi tuyen , chi cho anh vao san nhung luc cuoi tran de tai tao tinh than cho dong doi . Va CHLB Duc lai lot vao tran chung ket . Hai tran chung ket lien tiep o Cup The Gioi ! Hai tran chung ket that bai ! Tran dau tien tai Madrid truoc doi tuyen Italia . ket qua 1-3 khong co gi de bien ho . Tran thu hai o Mexico truoc Argentina . Argentina dan truoc 2-0 va hau nhu ho se gianh duoc chien thang chung cuoc mot cach de dang . Nhung Rummenigge da co mat de mo cuoc xung phong . Anh ghi ban , roi Voller quan binh ti so . Nhung bay nhieu do cung khong the ngan chan duoc Burruchaga ket thuc so phan cua doi tuyen Duc sau mot pha phan cong o phut 85...

Mac du CHLB Duc thuc hien duoc mot cuoc phuc thu ngoan muc vao 4 nam sau do tai Rome , nhung moi chuyen da qua tre doi voi Rummenigge . Khi do , anh chi moi 26 tuoi nhung da tho lo : " Toi biet rat ro rang toi khong the tien bo duoc nua . Toi da dat den muc toi da " . Anh nhan loi de nghi cua 1 CLB Italia vao mua he 1984 . Anh chuyen sang thi dau cho Inter Milan voi mot so tien ki luc . Mac du cung voi Altobbelli hinh thanh nen mot bo doi tan cong rat tuyet voi va 15 la so ban thang ma anh ghi duoc trong moi mua nhung Rummenigge khong bao gio co the tro lai thanh mot cau thu xuat sac cua nhung nam truoc .

Nam 1987 , Rummenigge roi Italia de thuc hien mot chuyen du hanh sang Servette Geneve cua Thuy Si , truoc khi ket thuc su nghiep mot cach binh than o vi tri libero . Mot kieu tro ve nguon huong den mot khai niem bong da ma su thich thu duoc thi dau con dang gia hon ca nhung quyen loi khac . Mot cach de ket thuc , de dua anh tro ve Lippstadt ...t

tonithai
16-02-2005, 09:10
Matthias Sammer.
Tên : Matthias Sammer.
Nơi sinh : Dresden (Cộng Hoà Dân Chủ Đức cũ )
Ngày sinh : 05/09/1967
Vị trí thi đấu : Libero.
Các Câu Lạc Bộ đã qua : Dynamo Dresden, VFB Stuttgart, Inter Milan, Borussia Dortmund.
Sự nghiệp thi đấu Quốc tế : Vô Địch Uero 1996, Vô địch Champions League 1997, Vô địch Bundesliga 94-95,95-96

Các danh hiệu cá nhân : Cầu thủ xuất sắc nhất Đức năm 95,96. Quả bóng vàng Châu Âu năm 1996.

Sinh ra tại Dresden, Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũ, cậu bé Matthias đã sớm ra nhập ngôi trường đào tạo Thể Thao Dressden, một trong những trường đào tạo thể thao tốt nhất Đông Đức trước đây, và đã bắt sự nghiệp thi đấu tại Câu Lạc Bộ Dynamo Dresden. Với mái tóc hung đỏ cùng đôi vai to bè và đôi chân vững chắc anh sớm có thiên hướng trở thành một trung vệ.Tai Đông Đức anh đã giành được một chức vô địch Đông Đức với Dynamo, tuy nhiên sự nghiệp thi đấu Quốc Tế của anh không có gì đặc biệt do Đội Cộng Hòa Dân Chủ Đức không tham gia nhiều vào các giải đấu Thế giới.
Sự nghiệp thi đấu của anh được mở ra khi anh chuyển đến Câu Lạc Bộ Stuttgart của Tây Đức và với khả năng của mình anh đã nhanh chóng cùng Câu Lạc Bộ đoạt một chức Vô Địch Bundesliga, ngay lập tức anh được các Câu Lạc Bộ phương Tây để ý tới.Đích đến của các cầu thủ Đức thời đó thường là thành phố Milan cổ kính cùng với một giải Serie A hấp dẫn. Anh đã chuyển đến với Inter Milan của ông G.Trapattoni. Tuy nhiên với vốn tiếng Italia ít ỏi cùng với ít kinh nghiệm thi đấu do quá trẻ anh đã không thể nào hòa nhập được với Inter Milan, Trong khi đó tại Bundesliga, Borussia Dortmund của O.Hitzfeld đang trong thời kỳ gây dựng, anh đã được O.Hitzfeld để ý tới, ông đã đưa anh về BVB cùng với một loạt tài năng của Đức khác như A.Moller, K.Riedler...

Với tính cách cứng rắn cùng với khả năng thi đấu luôn hết mình, anh là cánh tay nối dài của Hitzfeld trên sân, và được đồng đội tín nhiệm bầu là đội trưởng. Luôn luôn đứng sau lưng đồng đội trong những lúc khó khăn, anh làm người ta liên tưởng tới ngôi sao bóng rổ Mỹ Dennis Rodman của đội Chicago Bulls, người luôn luôn quát mắng với ngay cả đồng đội và HLV của mình. Tại Dortmund anh đoạt được tất cả những gì mà một cầu thủ có thể mơ ưóc tới: 2 chức vô địch Bundesliga, 2 lần liên tiếp giành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Đức, và quan trọng nhất anh cùng với Dortmund chiến thắng Juventus hùng mạnh, đội đang làm mưa làm gió tại Châu Âu, và đoạt chức vô địch C1 mùa bóng đó.

"Libero của cả đội sẽ là Matthias Sammer, và chúng ta không có lý do gì để thay đổi điều đó, anh ta là một mầu người hoàn hảo không chỉ ở trên sân cỏ" Vâng! Đây là điều cả nước Đức đang mong chờ, cái ngày ông Berti Vogts công bố đội hình chính thức dự Euro 96. Có Sammer có nghĩa là không có Matthaus. Và ông Vogts đã đúng. Euro96 là giải đấu Quốc Tế thành công nhất của Sammer.

Năm đó Sammer, 28 tuổi , đúng thời kỳ đỉnh cao của sự nghiệp , là một trong những con bài chủ chốt của Vogts ở 96. Anh là một mẫu cầu thủ chuyên nghiệp và luôn luôn khát khao chiến thắng trong từng trận đấu, và luôn luôn cống hiến tất cả những gì có thể cho mỗi trận đấu. Anh là hòn đá tảng đứng trước mặt Kopke, Khi J.Kilismann tập tễnh trên sân thì anh băng lên ghi bàn, khi Đức đang bị dẫn bàn thì anh luôn vững vàng cùng đồng đội trên tuyến đầu, Và anh đã đền đáp xứng đáng những gì mà ông Vogts tin tuởng. Anh đoạt danh hiệu quả bóng vàng Châu Âu ngay trong năm đó.

Sự nóng giận và mất bĩnh tĩnh đôi khi cũng làm cho anh nhận khá nhiều thẻ vàng và thẻ đỏ. Điều đó không có gì là ngạc nhiên khi chúng ta nhìn nhận triết lý sống của anh trên sân cỏ " Tôi phải chiến đấu với đối thủ của tôi với tất cả những sự cho phép của trọng tài và kể cả những thứ cần thiết khác để giúp cho chúng tôi có thể chiến thắng" Con người Sammer là vậy luôn luôn chiến đấu hết mình và hy sinh vì đồng đội, nhưng đằng sau tất cả những điều đó là một sự khiêm tốn, một con người thật của Sammer ngoài đời: " Cá nhân ư ! không thể xây dựng nên đội bóng từ những cá nhân, tôi không phải là một người quan trọng, trong tâm trí tôi tập thể đội bóng mới là điều quan trọng nhất "

Thật tiếc khi anh phải giã từ sân cỏ khi còn đang trong thời kỳ đỉnh cao phong độ, mặc dù đã đấu tranh suốt 2 năm với những chấn thương nhưng anh đã không thể quay trở lại sân cỏ. Nước Đức đã chia tay với người Libero cuối cùng của mình, Anh mãi mãi trở thành tượng đài của bóng đá Đức và là cầu thủ xuất sắc nhất trong mọi thời đại của CLB Borussia Dortmund.t

tonithai
16-02-2005, 09:17
Stefan Effenberg
Tên : Stefan Effenberg
Sinh ngày: 01/10/1978 ( biệt danh Effe )

Các Câu Lạc Bộ đã qua: 1986-1990 : Moenchengladbach; 1990-1992: Bayern Munich; 1992-1994 Fiorentina;1994-1998:Moenchengladbach ; 1998-2002 : Bayern Munich; 2002-?? Wolfsburg.

Thành tích : Với Moenchengladbach 1 Cúp Quốc Gia.
Với Bayern Munich : Vô địch Bundesliga (1999,2000,2001) Cúp Quốc Gia (2000), Cúp Champions League 2001.

Bắt đầu sự nghiệp tại Bramfelder Sv ( Hamburg) khi còn là một cậu bé 5 tuổi. Mới 18 tuổi Stefan Effenberg đã khiến cho giới chuyên môn bóng đá chú ý và được coi là một trụ cột của Borussia Moencheldbach - một CLB lừng danh và một lò đào tạo tài năng bóng đá trẻ số 1 của Đức. Năm 1990, tiền vệ 22 tuổi này chuyển sang đầu quân cho FC Bayern Munich 2 mùa bóng và sau đầu quân cho Fiorentina, Effenberg chỉ ở lại Fiorentina 2 mùa bóng, rồi sau đó quay trở lại với Borussia Moencheldbach. Sau 4 mùa bóng không thành đạt tại Moencheldbach, Stefan Effenberg lại đầu quân cho FC Bayern ( 1998). Trên cương vị thủ quân, anh cùng FC Bayern 3 lần liên tiếp đoạt chức vô địch bóng đá Đức (1999,2000,2001), đoạt Cup Quốc Gia (2000) và danh hiệu vô địch Champions League (2001).

Trong những năm đỉnh cao tại Bayern Munich, Stefan Effenberg luôn được coi là tiền vệ kiến tạo hay nhất bóng đá Đức- một nhạc trưởng sân cỏ bẩm sinh thường có “những khoảnh khắc thiên tài”, nhưng lại là một cầu thủ hay gây gổ, không được người cùng thời mến mộ. Anh cũng chưa từng đoạt danh hiệu Vô Địch Châu Âu, và Vô Địch Thế Giới cùng với ĐT Đức, và các danh hiệu trên cũng chẳng bao giờ đến với anh ta nữa… bởi vì anh đã tự khia trừ mình ra khỏi đội tuyển. Tại vòng Chung Kết 1994, Stefan Effenberg luôn khiến cho người ta chú ý bởi tính cách “bất cần đời” của anh. Trên sân cỏ anh là một thủ lĩnh ban phát bóng cho đồng đội như một chú gà trống duy nhất, đẹp mã giữa một bầy gà mái. Anh xuất hiện trong lễ hội Noel trang trọng trong bộ đồ cao bồi Texax. Anh không chịu rời cặp kính râm đen kịt khi bắt tay các quan chức chóp bu của FC Bayern vào lúc lên đường sang Milan tham dự trận chung kết Champions league. Nhà đạo diễn sân cỏ tài năng từng được coi là “ linh hồn của đội bóng” này chưa bao giờ được bình chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của FC Bayern. Tuy “ cao to , đẹp trai”, nhưng các nữ cổ động viên của Bayern không hề vây quanh anh để xin chữ ký, như họ từng chen lấn nhau để cố đến gần cái anh chàng Mehmet Sholl “ thấp bé , nhẹ cân” nhưng lại có duyên thầm. Stefan Effenberg có một cái gì đó khiến người ta e ngại, không muốn gần.

Chính khả năng luôn gieo giắc nỗi kinh hoàng cho kẻ khác lại là một thế mạnh của Effenberg trên sân cỏ. Tại Moencheldbach người ta gọi anh là “con hổ”, còn ở Munich người ta gọi anh là Effe- một cách gọi tắt tên anh. Trên sân cỏ, anh là một ông sếp ( Chef) và phong độ thi đấu của anh ảnh hưởng đáng kể đến sự thành bại của toàn đội. Tại Champions league, nhờ thành tích thi đấu xuất sắc của Stefan mà Bayern Munich đã thắng tuyệt đối hai đối thủ sừng sỏ là Manchester và Real Madrit (2001) Anh cũng là người ghi bàn gỡ hoà trong trận bán kết khó khăn với Real (2002) và quan trọng nhất anh là người tung ra cú sút “thần sầu” hạ gục thủ môn Valencia để gỡ hoà giúp Bayern đoạt chức vô địc Champions league 2001.

Stefan Effenberg không phải là một con người mẫu mực và bản thân anh cũng không muốn như vậy. Cuộc đời cầu thủ của anh là một chuỗi kết nối giữa những tài năng hiếm có và, các vụ bê bối và những giờ phút đau đớn bẽ bàng. Tại VCK World Cup ’94, HLV đội tuyển Đức Berti Vogts đã lập tức đuổi Effenberg khỏi đội vì đã giơ “ngón tay thối” hướng về các cổ động viên đang la ó anh. Năm 2000 người Đức hẳn không thể nào quên việc Effenberg chịu trở lại đội tuyển chỉ để ... hạ bệ Vogts sau khi đội tuyển Đức thi đấu giao hữu không thành công trước mọt chú lùn bóng đá là ĐT Síp. Ở Munich, khi bị cảnh sát phạt vì tội say rượu lái xe thì Effenberg lại gân cổ cãi rằng ở cái thành phố rượu bia này, có vô khối những tay lái xe còn “ngất ngưởng” hơn anh.

Ban lãnh đạo Bayern không muốn kéo dài hợp đồng với anh. HLV Ottmar Hitzfeld tuyên bố không bao giờ chịu nhả các cầu thủ như Giovane Elber, Bixente Lizarazu và mới đây còn kéo về M.Ballack và S.Deisler, nhưng với Effenberg thì mùa bóng 2001-2002 là mùa bóng cuối cùng của anh ở Munich. Bản thân Effenberg cũng đã từng tiết lộ rằng sau khi đã cùng với Bayern Munich đoạt được mọi danh hiệu, anh sẽ chuyển sang thi đấu ở Anh hoặc Mỹ, nhưng tháng 8 này, sau khi những yêu cầu với một số CLB không được đáp trả Effenberg đã thi đấu cho Worburg và đã thi đấu đầy ấn tượng trong một số trận gần đây. Đây có lẽ là một kết cục rất có hậu cho một thủ quân lắm tài nhiều tật này.

tonithai
16-02-2005, 09:19
Oliver Kahn
Oliver Kahn
Sinh ngày 15/06/1969 tai Karlsruhe
Cao : 1,88m
Nặng : 89kg
Cac CLB đã qua : Karlsruhe ( 1975-1994 ) , Bayern Munchen ( 1994 - ? )
Thành tích : VĐ Đức ( 1997 , 1999 , 2000 , 2001 ) , Cúp QG Đức (1998 , 2000), siêu cúp Đức ( 2000 ), Cup UEFA ( 1996 ) , Cup C1 ( 2001 ) , Cup Liên Lục Địa ( 2001 ) , Quả Bóng Đồng CA 2001
Về Kahn , có lẽ trong vài năm nay chúng ta đã nghe quá nhiều , đọc quá nhiều , tuy nhiên bài viết này muồn giới thiệu Kahn theo 1 huớng khác : 1 cái nhìn toàn diện về danh thủ này .

CÁI ĐẦU THÔNG SUỐT
Kahn la nguời luôn sẵn sàng khổ luyện , trong mọi tình huống , kể cả khi không cảm thấy hứng thú . HLV thủ môn Sepp Maier nhận xét : " Và lúc đó duờng như Olli không thể dừng lại đuợc .Thái độ này anh đã xác định duoc từ lâu , khi còn rất trẻ . Đây chính la nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh nơi nguời thủ môn này " . Cái đầu buớng bỉnh của Kahn cũng giúp anh chiu đựng mọi thử thách . Từ khi bé gái Katharina chào đời ( theo tin cua FH thì Kahn sắp có 1 baby nữa ) , cái đầu của Kahn càng trở nên tỉnh táo như lời anh nói : " Bây giờ tôi cảm thấy thanh thản hơn" . Moi thứ đều khởi nguồn từ cái đầu .

CÁNH TAY PHẢI-NHANH NHU TRONG NHỮNG CÂU CHUYỆN VIỄN TÂY :
Chúng ta đều biết những câu chuyện về miền Tây nước Mĩ với nhung chàng cowboy có khả năng rút súng nhanh như chớp . Cánh tay phải của Kahn còn nhanh hơn thế , nó nhanh hon hẳn tay trái và tạo cho Kahn những phản xạ nhanh hơn chớp giật . Ngoài ra tay phải còn giúp Kahn thực hiện nhung cú ném bóng xa mạnh và chính xác, khởi đầu các cuộc tấn công của cả đội .

NHỮNG NGÓN TAY NHƯ NGHỆ SĨ DUƠNG CẦM :
Những ngón tay của Kahn rất khác thường so với những thủ môn bình thường : nhỏ , thẳng và thanh mảnh đến mức tinh tế . Có lẽ phần lớn là nhờ đôi găng tay có tác dụng đặc biệt mà chính Kahn tham gia thiết kế cũng như ché tạo . Một công cụ lao động đặc biệt tôn thêm một phẩm chất đặc biệt ở con nguời này : những ngón tay đầy cảm xúc .

CẶP MẮT NHÌN THẤY TẤT CẢ :
Trên khuôn mặt Kahn , cặp mắt thuờng nhíu lại chỉ còn một khe hep . Anh thuờng tập trung tinh lực ở mức cao độ và muốn loại bỏ tất cả nhung hình ảnh không thật cần thiết cho trận đấu . Nhờ đó Kahn sớm nhận thức đúng tình huống và tạo ra cho mình lợi thế vài ba giây truớc những pha bóng hiểm nghèo .Với nguời thủ môn , vài ba giây ấy nhiều khi là quyết định .

DU KHÉP MẮT , NHUNG VẪN PHỒNG MANG :
Mot thói quen đã có từ lâu ở Kahn : truớc mỗi động tác xử lý cần du`ng lực , dù là nhảy , bắt bóng hay phát bóng , anh đều phồng mang lên như nghệ sĩ thổi kèn Trompet ! Khi thấy Kahn phồng mang lên là chúng ta đều biết anh dang tập trung tối đa .

TIẾNG NÓI CÓ TÍNH ĐIỀU KHIỂN :
Trên sân , Kahn thuong hét rất to khiến những khán gỉa ngồi xa nhất cũng nghe thấy tiếng nói của anh , những tiếng nói mang ý nghĩa của những mệnh lệnh . Đồng đội rất nghe anh , dù anh có là đội truởng hay không . Nhung khi đã ra ngoài san , đồng đội vẫn lắng nghe anh , dù khi đó anh lai nói rất nhỏ : tiếng nói của Kahn bao giờ cũng có trọng lượng

ĐÔI VAI VAM VỠ :
Sau cú bay ngoan mục là cú đổ nguời không chút nhẹ nhàng : Kahn nặng 89 kg . Trong cú đổ nguời ấy , đôi vai luôn là điểm chạm đất đầu tiên . Nhìn Kahn , ta thấy ngay đôi vai của một đô vật với những khối cơ bắp khổng lồ , cái mà anh thu duoc sau những buổi tập không mệt mỏi trong phòng thể lực .

TRÁI TIM DŨNG CẢM :
Lòng dũng cảm là một vũ khí lợi hại của Kahn : Như một chú Bò tót TBN , anh lao mình vào không trung trong những pha bóng bổng hay lao mình vào chân đối thủ ở những tình huống một-chọi-một . HLV Maier : " Không ai lao mình một cách không khoan nhuợng như Kahn . Nhờ đó anh tao ra lòng kính trọng và kiêng nể nơi các đối thủ ". Effe : " Mọi tiền đạo đối phuơng đều phải suy nghĩ đến 2 lần xem có vào đánh giáp lá cà với Kahn hay không "

KHỚP HÔNG - ĐĂ ĐƯỢC MAIER UỐN MỀM :
Năm 1994 , khi chuyển từ Karlsruhe về Munchen , động tác của Kahn còn thô và cứng . Sepp Maier đẵ luyện tập cho kahn trở nên mềm dẻo hơn , truớc hết là ở khớp hông . Từ đó động tác bay ngang khung thành của Kahn trở nên lịch lãm hơn , và truớc hết là nhanh hơn .

KHỚP CỔ CHÂN SINH LỰC :
Về điểm này thì ngay cả Sepp Maier cũng chỉ còn biết thán phục : " TÔi chưa từng thấy thủ môn nào có sức bật như thế . Trong thời diem chính xác , Olli dường như chỉ tập trung vào cú bật , dậm gần như theo phuong thẳng đứng so voi mặt đất roi vọt lên " . Chính nhờ thế , Kahn có thể bay tới tất cả các góc trong khung thành .

BÀN CHÂN ĐÃ HỌC HỎI NHIỀU :
Chân Kahn có sức phát bóng xa va chính xác , kết quả cua sự luyện tap . Kahn thổ lộ : " Tôi đa học và có tiến bộ nhiều về mặt chơi bóng" , chẳng hạn như nhận bóng hay chuyền bóng ở cự ly ngắn . bây giờ anh đã có thể khống chế bóng bằng cả chấn trái . nhưng quan trong hơn cả , nhu chính Kahn nói , la anh đã nhiều lần cản phá thành công bằng chân , kể cả chân phải lẫn chân trái .t

tonithai
16-02-2005, 09:20
Ulf Kirsten
Ulf Kirsten
Sinh ngay : 04/12/1965 tai Reasa
Cao : 1,75m
N ặng : 81 kg
CLB : Chemie Riesa ( 1973 - 1978 ) , Stahl Riesa ( 1978 - 1979 ), Dynamo Dresden ( 1979 - 1990 ) , Bayer Leverkusen ( 1990 - 2001 )

Truớc ngày nuớc Đức thống nhất , Ulf Kirsten từng khoác áo ĐT Đông Đức 49 lần , ghi 14 bàn thắng , chưa kể 2 lần VĐ Đông Đức ( 1989 , 1990 ) và 3 lần giành cup QG trong màu áo Dynamo Dresden . VớI thành tích đó , sau khi bức tường Berlin sụp đỗ , anh trở thành đốI tượng được săn đuổI nhiều nhất của mọI độI bóng hàng đầu Bundesliga . Tuy nhiên anh quyết định chọn Bayer Leverkusen vì nơi đó có đồng hương Andreas Thom . Éo le thay , bất chấp thành tích 3 lần đoạt giải Vua Phá Lưới Bundesliga ( 1993 , 1997 , 1998 ) và được bầu chọn là cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất Bundesliga thập kỉ 90 , mối lương duyên của Kirsten với đội tuyển Đức thống nhất lại ko êm đẹp . Năm 1992 , trong khi những ng` đồng hương từ phía Đông như Thom , Doll & Sammer đến Thụy Điển tham dự Euro thì Kisrten phải ngồi nhà vì chấn thương . Năm 1994 , anh cũng có mặt ở Mĩ để tham dự WC , nhưng phải ngồi ghế dự bị suốt giải vì lí do tương tự . Hai năm sau , ở vòng loại Euro 96 , anh ghi rất nhiều bàn thắng quan trọng giúp Đức có mặt ở VCK . Rủi thay , anh lại ko được tham dự ngày hội đỉnh cao v à bỏ lỡ cơ h ội đăng quang ngôi V Đ vì phong độ sa sút . Vận rủi ko ngừng đeo đuổi Kirsten . Đến WC 1998 , anh có mặt , nhưng lần này cỗ xe tăng Đức đã quá già nua , ko còn phong độ như trước đây . Anh liên tục căng thẳng với HLV Berti Vogts và hầu như phải ngồi ngoài nhìn bộ đôi Klinsmann - Bierhoff tung hoành trên sân . Với ng` HLV kế nhiệm Erich Ribbeck , ngay từ thời ông này còn nằm chức ở Leverkusen đã ko hẳn là bạn của anh , nhưng với tình hình khủng hoảng tiền đạo trầm trọng , ở euro 2000 anh đã được trọng dụng , nhưng cùng với tuyển Đức rệu rã anh ko chứng tỏ được gì . Sau Euro 2000 , Kirsten tuyên bố từ giã đội tuyển .

Vì sao lại oái oăm như vậy ? Có nhiều cách giải thích : có ng` nói anh bị " đi`" vì mang dấu ấn Đông Đức : ng` khác cho rằng số anh đen đủi , đen như màu da của anh ( biệt danh c ủa Ulf là " Chàng đen " { Schwarze }), như vùng đất Bayer, nơi có nhiều ống khói của các nhà máy .Tuy nhi ên , lí giải về chuyên môn mới đáng chấp nhận . Từ khi Christoph Daum dẫn dắt Bayer vào mùa hè 1996 , đội luôn chơi với 3 tiền đạo , trong đó Ulf Kirsten có 2 ng` hỗ trợ ở 2 cánh ( Ze Roberto , Neuville ) . Điều quan trọng " sống còn " đối với Ulf là khâu " đệm " . Nếu anh nhận được sự tiếp ứng tốt , sẽ ko ai đột phá cầu môn đối phương tốt hơn anh . Những khả năng mà anh có , ng` ta ko thể học được . Đ ó là bẩm sinh .Theo ki ểu Gerd Muller -" Qu ả bom " của những năm 70 & Rudi Voller -"Cáo già" của những năm 80 , ngoài đời anh là 1 chàng trai dễ thương nhưng trên sân cỏ thì anh trở thành ...1 quái vật với lối chơi mạnh mẽ , hiệu quả trong vòng cấm địa . Ở ĐT th ì khác , hàng tấn công chỉ có 2 tiền đạo, do vậy Kirsten rất khó hòa nhập . Và ng` đá cặp với anh , Oliver Bierhoff cũng là 1 tiền đạo theo kiểu cổ điển y hệt anh ,v ì thế 2 ng` ko thể nào bổ sung cho nhau tốt như Klinsmann & Voeller hồi trước .

Ngày ấy , Lever đã trả cho Dynamo Dresden một số tiền chuyển nhượng 3,5 tr mark để đổi lấy Kirsten . Anh tới đầu quân ở đây và việc làm quen với môi trường & nh ững con ng` m ới m ẻ lúc đ ầu l à ko đ ơn giản . " Ở CLB cũ của chúng tôi ko khí c ó tính ch ất gia đ ình nhiều hơn ". Anh k ể lai , v ợ anh thuờng phải làm phần việc xây dựng quan hệ v ới những ng` xung quanh . Dẫu thường hay phải đối đầu với c ác hậu vệ , song Ulf lại rất hiếm khi tiếp xúc với những ng` sống xung quanh . Cái nhãn mác " Ossi " ( ng` Đông Đức ) luôn khiến anh tức giận . Anh ko thích nghĩ về sự khác biệt giữa 2 miền nước Đức " Tôi thấy mình là 1 công dân Đ ức " . Còn nữa : " T ôi ko th ể ph ủ nh ận được thời kì sống ở Đông Đ ức" . Thỉnh thoảng anh vẩn trở về Dresden để thăm cha m ẹ & trường bóng đá trong kì ngh ỉ hè . Tuy nhiên ở tr ên sân cỏ thì khác hẳn , ở cái n ơi m à anh lăn lộn cùng sự nghi ệp suốt 10 năm ầy , dẫu ko phải là cái rốn của vũ trụ , song m ỗi n ăm anh lại tiến bộ hơn một chút , thay vì ph ải lưu lạc nuớc ngo i như các chiến hữu khác . Sau nhi ều năm thi đ ấu tại đây ng` ta gần như là đã dành quá nhiều thiện cảm , sự công nhận và tin tuởng đối với anh .Và bất chấp sự nghiệp ĐTQG có " diễn ra 1 cách ngớ ngẩn" như thế nào như lời anh nói , anh cũng đã có thể mãn nguyện khi trở thành 1 tượng đài , 1 huyền thoại của sân BayArena sau hơn 10 năm chung thủy .t

tonithai
16-02-2005, 09:22
Andreas Kopke
Andreas Kopke
Sinh ngày : 12-03-1963 tạI Kiel
Cao : 1,82m


Otto Rehhagel từng nói Bóng đá là 1 trò chơi phảI đòi hỏI lòng kiên nhẫn , 1 TM phảI biết chờ đợI , nếu anh ta muốn trở thành TM số 1 của tuyển Đức . Giống như Andy Kopke , tốt nhất là ng` ta nên bắt đầu đá bóng từ năm 7 tuổI , giữ khung thành từ năm lên 8 , thi TN PT & học nghề sửa chữa ôtô , rồI lạI tiếp tục trấn giữ khung thành 1 cách kiên nhẫn , và năm 30 tuổI đã trờ thành triệu phú . Dĩ nhiên để có lòng kiên nhẫn như vậy còn phảI có tài năng & những phản xạ vững vàng , sự luyện tập thường xuyên & nhiều kinh nghiệm . Khi Kopke bay ng` & bắt bóng , nhanh như 1 trái hoả tiễn được bắn ra , nhẹ nhàng như 1 chiếc lông chim & căng như 1 dây cung , rất phong độ & dễ dàng như thể anh là 1 vũ công . Thế nhưng ng` nghệ sĩ ấy có bước đường công danh ko hề bằng phẳng .

NgườI hùng của tuyển Đức tạI Euro ''96 đã 4 lần tụt hạng vớI 4 CLB khác nhau .Năm 1984 , anh cùng SC Charlottenburg Berlin "lặn" xuống hạng 2 ở giảI khu vực . 2 năm sau , tình trạng tương tự lặp lạI ở Hertha Berlin . Sau đó , anh ký hợp đồng vớI FC Nuremberg , vớI CLB này anh lay lắt được vài năm trong Bundesliga . Đến năm 1994 , anh lạI ko tránh được tình trạng rơi tự do . cứ ngỡ rằng sẽ yên ổn vớI Eintracht Frankfurt , nhưng chỉ sau 2 mùa bóng thì lịch sử đã lặp lạI . Trong mùa bóng ấy anh còn được "vinh dự" nhận danh hiệu "TM để lọt lướI nhiều nhất Bun" vớI 65 lần .

Vogts làm ngơ trước mọI lờI chỉ trích cho sự lựa chọn anh vào vị trí trước khung thành Mannschaft :"Cho dù anh ta có để lọt lướI 100 lần thì tôi vẫn ko thay đổI ý kiến " . Như một sự tri ân . HLV Đức thừa nhận đã phạm phảI sai lầm lớn khi đánh giá cao Illgner hơn Kopke ở WC ''94 . Anh là 1 trong số ít TM "số 2" c ủa Mannschaft khiêm tốn & bình tĩnh đợI chờ mà ko có những biểu hiện của sự nổI loạn . Khi Illgner tuyên bố sẽ chia tay ĐT để tập trung cho FC Koln sau trận thảm bạI trước Bungari , mớI là lúc Kopke lặng lẽ bước ra sân khấu quốc tế . Chỉ thực sự được công nhận ở tuổI 34 . Rõ ràng , đây là 1 khoá học lớn về sự kiên nhẫn của anh & cậu học sinh Andy đã hoàn thành 1 cách xuất sắc , cho dù có ko ít đớn đau .

Nó còn thấm nhuần trong lốI chơi , qua những phản ứng của anh , thường là trong chân đốI phương hơn là bay bổng trên ko . Rolland Courbis nhận xét :"Anh ta thường đợI đến thờI điểm cuốI và đó là 1 bằng chứng cho sự khôn ngoan , thông minh . BởI quá nhiều TM có khuynh hướng xuất kích bất cứ khi nào hay bất cứ thế nào . Còn anh ta phản ứng 1 cách có ý thức , và anh càng xuất kích muộn bao nhiêu thì càng gieo sự phân vân vào tâm trí đốI phương bấy nhiêu ".

Điểm mạnh của anh còn là những ưu điểm về thể lực . Một kiểu mẫu . Kopke cũng rất cừ trong những cú phá bóng sệt . Khi cần nằm dài trên sân để bắt bóng , anh thực hiện động tác đó rất nhanh , cũng chính là nhờ thể lực rất sung mãn . Kỹ thuật của đôi tay đạt tớI mức hoàn hảo , và dù 1 số ng` cho rằng động tác bắt bóng của anh còn chưa được chắc , thì đó cũng ko thể quy là điểm yếu , đặc biệt vớI những cú sút mà đường bóng bay ko ổn định .

Trên tất cả đây là 1 TM Đức tiêu biểu : luôn luôn tập trung cao độ suốt 90'' , đây thực sự là 1 đấu sĩ . Tuy nhiên , vẫn còn có vài khiếm khuyết trong kĩ thuật của anh , nhất là kĩ thuật đôi chân do từ năm 12 tuổI , anh đã được đào tạo theo 1 luật lệ khác và sau 20 năm đứng trong khung thành , luật lệ liên quan đến những pha trả bóng về được điều chỉnh lạI buộc anh phảI thay đổI những phản xạ của mình . Kopke ko thể xuất sắc trong lĩnh vực này , nhưng anh bổ khuyết 1 cách thông minh bằng cách hạn chế những cú phát bóng bằng chân và bằng lòng vớI việc thực hiện những đường chuyền ngắn .

Thủ quân Klinsmann lúc ấy đã dành những nhận xét cho TM số 1 của mình :"Andy đã bảo đảm cho chiếc áo TM ĐTQG bằng những thành tích ưu tú cho ĐT Đức . Anh cho thấy tất cả những gì mà 1 ng` lính trấn giữ khung thành hạng TG cần phảI có : phản xạ tuyệt vờI , khả năng phán đoán hướng bóng tốt trong trường hợp chơi một chọI một , sự trấn giữ xuất sắc khu vực cấm . điều khiến tôi luôn bị lôi cuốn ở Kopke là sự bình tĩnh kiên cường ở anh . Ngay cả khi đốI phương vây hãm khung thành , anh vẫn lặng như băng . ng` ta có 1 cảm giác rất an tâm khi có 1 TM vững vàng và uy tín ở phía sau lưng . trên tất cả những điều đó Kopke là 1 trong những cầu thủ dễ mến nhất của Bun "

Suốt 3 trận vòng 1 của Euro ''96 , ở cùng bảng vớI các đạI gia Nga , Sec , Italia nhưng ko để lọt lướI quả nào . Đặc biệt trong trận găp Italia , anh là ng` gây ra cú phạt đền trước khung thành của mình vì đã ngáng ngã tiền đạo Casiraghi của đốI phương trong vòng cấm địa , thế nhưng cũng chính anh là ng` bắt gọn cú phạt đền đó , và trong suốt trận đã giữ vững khung thành như 1 ng` hùng . Nhờ anh , trong trận đấu này , mặc dầu chỉ thi đấu vớI 10 ng` & chịu 1 quả pen , Đức vẫn cầm chân được Italia & qua đó tống tiễn Squada về nước . Trong trận BK ,anh chiến thắng trước cú sút luân lưu của Southgate . Ngược lạI , khi Đức được hưởng 1 quả phạt đền , anh lạI là ng` ít bình tĩnh nhất . Anh quay lưng lạI sân cỏ và đánh giá tình hình qua phản ứng của khán giả . Và mặc dù phảI bó tay trước cú sút phạt đền của Berger trong trận CK nhưng Andreas Kopke đã cùng đồng độI lộI dòng nước ngược để leo lên đỉnh cao nhất của bóng đá Châu Âu .

tonithai
16-02-2005, 09:52
JUAN SCHIAFFINO
-Juan Schiaffino sinh ngày 28.7/1925 tại Montevideo,thủ độ của Uruguay.Cha mẹ của Juan Schiaffino là những người di dân gốc Italia đã đặt chân đến Urg với 2 bàn tay trắng,tất cả gia sản của họ chỉ là bầu nhiệt huyết hi vọng tạo 1 sự nghiệp đủ sống trên miền đất lạ quê người.từ thuở nhỏ Juan Schiaffino đã ham mê bóng đá và rất thích chơi ở hàng tiền đạo để ghi bàn
-Năm 18t Juan Schiaffino được gia nhập CLB Penarol,1 đội bóng ạnhg tầm thường ở Uruguay.vì vóc dáng của Juan Schiaffino gầy gò ốm yếu nên các HLV ko tin tưởng lắm,họ đã để anh ngồi chơi xơi nước tronh danh sách dự bị gần 1 năm rưỡi.Nhưng dịp may đã tới vào năm 1944 khi Juan Schiaffino được vào sân thay thế 1 cầu thủ bị thương,anh lập tức trổ tài và ghi được 2 bàn,thế lkà từ đó trở đi chàng cầu thủ trẻ Juan Schiaffino(biệt danh pepe) mới được lọt vào danh sách chính thức thường xuyên góp mặt trong các trận đấu.Đặc điểm nổi bật của Juan Schiaffino là chọn đúng thời diểm,đúng đúng vị trí để cơ hội làm bàn dễ dàng đến với mình rồi điệu nghệ tung chân sút mạnh mẽ ghi bàn 1 cách nhanh nhẹn vè gon gàng.Juan Schiaffino và anh ruột của mình là Raul đã trở thành 2 mũi nhọn tấn cống ắc bén,họ cùng nhau giúp penarol dần dần leo lên danh sách các đội mạnh của Uru
-Cũng nhờ sự tình cờ may mắn mà Juan Schiaffino bắt đầu được thi đấu cho đội tuyển quốc gia vào năm 1949.Nguyên do các tuyển thủ quốc gia kỷ cựu đã nổi chứng kèo nài đưa yêu sách làm khó dễ về chuyện tiền bạc trước khi lên đường dự vô địch bóng tròn năm mỹ năm ấy,bởi vậy liên đàon đã bãi bỏ danh sách cũ và lập 1 đội tuyển quốc gia khác,bao gồm những cầu thủ trẻ mới lạ trong đó có trung phong 24t Juan Schiaffino!Tại WC 1950 Braxin chỉ cần thủ hoà trận cuối cùng với Uru là đủ chức giành chức vô địch.Hiệp nhất hoà 0-0,sang đầu hiệp 2 Braxin ghi bàn 1-0.Phút thứ 66 tiền vệ danh tiếng Ghigia luồn lách qua mọi khó khăn đưa banh cho Juan Schiaffino ghi bàn gỡ hoà.Và 15 phút sau đến lượt Juan Schiaffino đưa banh khoé léo cho Ghigia ghi bàn.Kết thúc trận đấu chức vô địch đã thuộc về Uru
-Bốn năm sau trung phong Juan Schiaffino tiếp tục khoác áo đội tuyển quốc gia đi tham dự WC 1954 tại Thuỵ Sỹ.Sau khi giải kết thúc CLB Ac Milan đã bỏ 150k mỹ kim để mua Juan Schiaffino,số tiền này chẳng thấm tháp nếu như đem so sánh với giá trị những hợp đồng hiện nay
-Juan Schiaffino giúp Milan đoạt Scudetto 3 lần.Năm 1962 Juan Schiaffino quay trở về nước anh nhận làm HLV cho CLB Penarol

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:02
Franco Baresi: Niềm tự hào của Milan

(ACM.VN) - Franco Baresi sinh ngày 8/5/1960 tại Bresia. Đến với Milan năm 14 tuổi và 4 năm sau anh có trận đấu đầu tiên trong 444 trận khoác trên mình chiếc áo đỏ đen. Thành công đến với anh từ rất sớm, chỉ 1 năm sau trận đấu ra mắt anh đã được thưởng thức hương vị ngọt ngào của Scudetto đầu tiên trong sự nghiệp và là chức vô địch Serie A thứ 10 của Milan.
Nhưng niềm vui vừa tới đã bị phủ bóng đen, năm 1980 đầy định mệnh ấy đã tới. Milan bị giáng xuống Serie B sau vụ dàn xếp tỉ số với Lazio. Các cầu thủ giỏi lần lượt rời bỏ con tàu đắm, còn Franco thì không. Anh đã ở lại và đi vào lịch sử CLB với tư cách là người đội trưởng trẻ nhất trong lịch sử CLB, đồng thời đưa Milan trở lại mái nhà xưa. Tuy nhiên, tình yêu của anh dành cho Milan vẫn còn quá nhiều thử thách vì chỉ 1 năm sau Milan lại tụt hạng. Franco vẫn một mực trung thành với Milan, nhiều người ngạc nhiên với quyết định của anh vì với tài năng của anh được rất nhiều CLB thèm muốn.

Tài năng và lòng trung thành của Baresi đã được đền đáp xứng đáng, năm 1982 anh đã được cùng đội tuyển Italia tham dự WorldCup tại Tây Ban Nha. Chức vô địch World Cup 82 là phần thưởng lớn nhất trong sự nghiệp của Franco, mặc dù anh không được thi đấu một phút nào. Ở cấp độ quốc gia, anh đã 81 lần vinh dự được mang trên mình chiếc áo Thiên Thanh tham dự các đấu trường châu Âu và thế giới. Điểm mốc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp quốc tế của Baresi là tại WorldCup 94 được tổ chức ở Mỹ, nơi anh đã thi đấu rất thành công. Bị một chấn thương rất nặng, nhưng Franco đã kịp có mặt ở trận chung kết và chơi cực kì xuất sắc. Nhưng vận may đã không mỉm cười với đội tuyển Italia khi anh cùng với R.Baggio đá hỏng những quả luân lưu định mệnh.

Với Milan sau 20 năm gắn bó, Baresi có nhiều thành tích đáng tự hào trong sự nghiệp đối với bất cứ cầu thủ nào. Bằng lối chơi thông minh, lạnh lùng và rất tinh tế, anh luôn nhận được sự tín nhiệm của các HLV dù đó là A.Sacchi hay Capello. Ảnh hưởng của Baresi với đội bóng là rất lớn cho dù ở Milan có nhiều tên tuổi lớn như: R.Gullit, M.VanBasten, F.Rijkaard, Anceloti, P.Maldini... Anh cùng với Tassoti, Costacurta, Maldini và thủ thành Rossi lập nên kỉ lục 929 phút giữ sạch lưới. Anh cùng Milan lập kỉ lục 58 trận bất bại tại Serie A và 10 trận tại Cup C1.

Toàn bộ sự nghiệp anh chỉ mang trên mình sắc áo Milan, với những đóng góp lớn lao và tình yêu của anh dành cho CLB, Franco đã trở thành biểu tượng của Milan. Anh được bầu là Hậu vệ xuất sắc nhất trong lịch sử 100 năm tồn tại của Milan. Chiếc áo số 6 của anh sẽ mãi tồn tại trong bảo tàng của Milan và không ai được mang nó nữa, đó là sự tôn vinh của Milan dành cho anh. Và trong cuộc bầu chọn của Uỷ ban Olimpic Italia, Franco Baresi đã được bầu là cầu thủ Italia xuất sắc nhất thế kỉ 20. Giờ đây, dù đã giã từ sự nghiệp bóng đá của mình, Baresi vẫn tích cực đóng góp công sức của mình để xây dựng CLB, với tư cách là HLV đội trẻ của Milan. Với anh tất cả dường như mới chỉ bắt đầu vì trong trái tim Franco, Milan không chỉ là một đội bóng mà còn là mái ấm thứ hai như anh đã tâm sự: "Tôi mất cả cha lẫn mẹ từ khi tôi mới 14 tuổi, Milan đã nuôi dưỡng tôi trở thành một cầu thủ và cho tôi tư cách của một con người".

Với mỗi Milanista, Baresi còn hơn cả một cầu thủ, vì tình yêu, những đóng góp của anh dành cho Milan đã góp phần không nhỏ trong việc tôn thêm lòng tự hào của những Rossoneri. Một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử của Milan đã đi vào lịch sử như thế đấy! Như một niềm tự hào!

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:03
Marco Van Basten: Mơ tiếp vũ điệu thiên nga
(TTVH) - Những người muốn giữ mãi hình ảnh của một trong những tiền đạo vĩ đại của bóng đá thế giới sẽ ngạc nhiên: anh không cưỡng lại sức quyến rũ của sân cỏ, những bàn thắng như trong mơ và đã trở lại để làm HLV ĐT Hà Lan. Sau 9 năm im lặng...
Chiếc đồng hồ của sân San Siro chỉ lúc 19h40 phút ngày 17-8-1995 tưởng đã dừng lại mãi mãi. Hôm ấy, trong một bộ jean giản dị và khiêm nhường, chàng hoàng tử của Milan giơ cao tay chào tạm biệt những người đã yêu mến và dành cho anh những tình cảm đẹp đẽ nhất, miệng cười mà khóe mắt rưng rưng. Thế giới bóng đá đã mất đi một trong những ngôi sao sáng nhất. Hồi đó, anh đã nói: "Tôi không ý thức đợc giá trị của mình. Nhưng có lẽ sau này, khi đã thôi chơi bóng, tôi mới hiểu được. Có thể người ta sẽ nói: "Đấy là Van Basten, một tay dội bom rất cừ". Nếu tôi nghe được những suy nghĩ ấy, tôi sẽ rất hãnh diện. Điều đó có nghĩa là người ta đã không quên tôi. Đến lúc đó, có lẽ tôi sẽ biết tôi đã là một ai đó...". Không, trong suốt 9 năm vắng anh, không ai quên anh. Hình ảnh của anh vẫn sống mãi trong lòng những người hâm mộ. Chỉ có điều, dường như anh đã tránh xa tất cả, xa bóng đá, xa cuộc đời bon chen để tìm kiếm cái điều mà anh bảo "có nhiều điều tôi cần phải quan tâm đến nữa, ngoài bóng đá, tôi sợ một ngày nào đó tôi sẽ quên hết cuộc đời mình và bóng đá là một nỗi đau ở mắt cá chấn thương của tôi".

Một sự nghiệp đỉnh cao lẫy lừng đã chấm dứt trước đó 2 năm, ở tuổi 28, độ tuổi đẹp nhất của một cầu thủ, sau khi để lại sau lng 10 năm thăng hoa. "Đó chính là gánh nặng của cuộc đời tôi và những năm tháng không có bóng đá, nó ám ảnh tôi đêm đêm". Giờ đây, sau 9 năm trong bóng tối, anh đã lên tiếng và trầm ngâm bên một vỉa hè ở Amsterdam, thong thả nhấp một ly cà phê, mắt nhìn xa xăm trong một cuộc phỏng vấn mà anh chỉ dành cho báo chí Italia, cho quê hơng thứ 2 của anh. "Sau một năm, những nỗi ám ảnh không còn nữa, có chăng chỉ là những cơn đau ở vết thương không bao giờ lành trong tôi. Rồi, một hôm, tôi ngủ dậy và không tự hỏi mình, hôm nay, mình có còn phải đi trị liệu hoặc đến sân tập nữa không. Tôi đã quên bóng đá". Trở về quê Utrecht, tránh xa mọi sự cám dỗ của cuộc sống, bốc cả gia đình về một vùng nông thôn, anh như đi ở ẩn. Anh đã quên đi 2 năm đau đớn vì chấn thơng sau trận cuối cùng năm 1993 (trận CK Champions League mà Milan thua Marseille) để bắt đầu một cuộc sống mới.

"Một ngày của tôi thật nhẹ nhàng. Tôi dậy từ rất sớm, đi dạo giữa sương mai. Tôi chơi tennis, đánh golf vào mùa hè và trượt tuyết vào mùa đông. Tôi đọc sách và lập một thư viện riêng. Tôi vui thú với cuộc đời mà thời cầu thủ, tôi đã không bao giờ có". Suốt 3 năm, anh đã sống như thế. Anh bảo, anh vẫn đọc báo, vẫn xem tivi, vẫn dõi theo thế sự, vẫn hiểu bóng đá đang trôi đến bến bờ nào. Thỉnh thoảng, anh lại chơi golf với người bạn thân Gullit, tâm sự với Maldini và năm nào cũng nhận điện mừng sinh nhật từ Milan vào tháng 10. "Tôi nhận ra cuộc sống thật có ý nghĩa khi ta thanh thản và bình dị. Tiền bạc và danh vọng không phải là tất cả trong cuộc sống". Anh có xuất hiện vài lần trước công chúng: một trận đấu từ thiện giúp các nạn nhân của một vụ nổ pháo hoa ở Volendaam (anh ghi một bàn, và ngời ta ngỡ ngàng nhận ra, anh vẫn múa đẹp nh một con "thiên nga", biệt danh của anh), có mặt trong một phiên họp kỹ thuật của UEFA và đa ra những đề xuất về việc trừng phạt những lỗi nặng cho những hậu vệ có lối chơi thô bạo (chính họ đã kết liễu sự nghiệp của anh 10 năm trước) và tham gia cuộc bầu cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử Milan thế kỷ 20 (anh đã bỏ phiếu cho Rivera, và vì lá phiếu đó, Rivera đã thắng Van Basten, nhng anh nói: "Tôi chỉ là một phần của lịch sử, còn Rivera mới là lịch sử"). Chỉ thế thôi.

Thế nhưng, tại sao bây giờ anh lại từ bỏ cuộc sống bình yên đó và trở lại, làm cái điều mà cách đây 5 năm, anh vẫn còn bảo là điên rồ (hồi ấy, anh nói: "làm HLV ? Không bao giờ, tôi đã chịu quá đủ sức ép")? Van Basten cười, đuôi mắt đã có dấu chân chim, nhng đôi mắt đã ánh lên một vẻ bình thản và có vẻ sẵn sàng chấp nhận tất cả. "Bỗng nhiên, một đêm, tôi giật mình tỉnh giấc và nhận ra mình còn quá trẻ. Ở tuổi 34, tôi vẫn có thể làm một điều gì đó có ích cho cuộc sống mọi ngời hơn là tiếp tục xa lánh tất cả". Rebecca, cô bé út của anh, sinh ra một ngày trước trận CK Cúp C1 năm 1990 với Benfica (Milan thắng 1-0, bàn của Rijkaard) luôn miệng đòi cha nó ra sân, làm một cái gì đó, hơn là bắt nó phải xem lại những cuốn băng video về sự nghiệp lẫy lừng của cha. Sự khích lệ của ngời mà anh tin cậy nhất, Johan Cruyff đã quyết định tất cả. "Nếu cậu trở lại sân cỏ, cậu sẽ có ích nhiều hơn là đi đánh golf", ông gọi cho anh một sáng mùa đông 1999, lúc anh đã dằn vặt bởi ý nghĩ trở lại. "Hãy dũng cảm lên. Hãy mơ đến những vũ điệu thiên nga của cậu. Bóng đá Hà Lan cần cậu". Có một dòng tin có thể bị chìm lấp trong vô vàn những dòng tin khác về Beckham hay Ronaldo, nói rằng Van Basten đã thi lấy bằng HLV và cùng với ngời bạn thân Vant Schipp trở lại Ajax làm HLV đội trẻ, nơi anh đã rời nơi đây ra đi để lên đội "lớn" Ajax vào năm 1981, nhưng chỉ gây ra sự ngạc nhiên.

Nhưng, khi Van Basten chấp nhận làm HLV ĐT Hà Lan thay Advocaat sau một EURO thất bại, tất cả đều có một cảm giác sung sướng chen lẫn với hoài nghi. Trong cái năm mà những HLV trẻ "lên hương" (Mourinho, Mancini), sự dũng cảm của những cầu thủ dội bom 40 tuổi trong vòng 15 ngày qua đã là sự kiện lớn. Stoichkov (38 tuổi) nhận lời làm HLV ĐT Bulgaria, 2 ngày trớc Van Basten là Klinsmann ở ĐT Đức và sau đó đến "Thiên nga" Marco. Tất cả đều nhận những trách nhiệm hết sức nặng nề khi cả 3 người đều không có nhiều kinh nghiệm làm HLV: xây dựng một ĐT cho World Cup 2006. "Tôi biết đấy là một thách thức hết sức nặng nề và sự nghiệt ngã của nghề HLV. Nhng tôi đã suy nghĩ về điều này suốt 4 năm. Tôi đã lựa chọn và tôi đợc sự ủng hộ của gia đình, bạn bè và người hâm mộ". Từ những sân golf ở Utrecht, từ một cuộc sống yên ắng đến một cuộc sống mới của sức ép, Van Basten đã mất 9 năm để làm mới mình, để chín chắn hơn và một ngày kia trở về nơi phải thuộc về anh. Anh đã có thể kinh doanh, giống nh Klinsmann, nhưng cùng một lúc, cả hai nhận thấy thế giới của họ chính là bóng đá, không thể khác. Tháng trước, họ đã gọi điện cho nhau và cười vang khi cùng thú nhận mình vẫn thèm khát những cảm giác sân cỏ. Sẽ là một trận derby Milan giữa một cựu tiền đạo Milan và một cựu tiền đạo Inter nếu ĐT Hà Lan và Đức gặp nhau!

"Bạn bè tôi đã thành công. Tất cả những cầu thủ thế hệ tôi ở Milan đều trở thành HLV. Ancelotti giành Scudetto và Champions League với Milan; Evani, Massaro, Colombo, Tassotti, Baresi ở đội trẻ, Donadoni ở Genoa, cả Rijkaard và Gullit đều có những thành công nhất định. Họ đã gọi điện chúc mừng, khi tôi nhận lời làm HLV ĐT Hà Lan". Sẽ có quá nhiều việc cần làm cho anh, với một ĐT trong quá trình trẻ hóa nhưng có quá nhiều vấn đề về nhân bản. "Cần phải lập lại trật tự trong ĐT Hà Lan", anh nói. "Có quá nhiều cá tính và điều đó là vấn đề không mới của chúng tôi. Sẽ là một Hà Lan khác". Một lời hứa? Không hẳn, nhưng đó là lời nói nghiêm túc và quyết đoán dù rằng, anh hiểu, cuộc chơi sẽ rất gian nan. Không phải danh thủ nào cũng là một HLV cừ. Platini đã chẳng "chết" với ĐT Pháp sau EURO 92 đó sao?

Nhưng Van Basten yêu sân cỏ, nơi anh vĩnh viễn thuộc về. Anh vĩnh viễn trẻ trung và lịch lãm, là một biểu tượng của sự khiêm tốn, nghị lực và những giấc mơ sân cỏ. Anh đã mơ được nhảy tiếp vũ điệu thiên nga mà những người yêu bóng đá đã gọi anh như thế, một Nureyev (nghệ sĩ ballet vĩ đại). Nhưng bây giờ, anh sẽ không mơ nữa. Anh đã trở lại và chấp nhận lao vào hiểm nguy, hành động của một người đàn ông chân chính và bình dị. Marco, đón chào anh trở lại với thảm cỏ xanh!

Marco Van Basten: Một sự nghiệp lẫy lừng

Sinh ngày: 30/10/1964 tại Utrecht
Trong 12 năm ngắn ngủi của sự nghiệp (từ 1981-1993), tiền đạo hào hoa này đã chơi 6 mùa cho Ajax (1981-87) với 128 bàn/133 trận, 6 mùa cho AC Milan (1987-93), chơi 147 trận/90 bàn thắng, dự 47 trận ở các cúp châu Âu/31 bàn, 57 trận cho ĐT Hà Lan/25 bàn. 3 lần VĐ Hà Lan (1982, 1983, 1985), 3 lần VĐ Italia (1988, 1992, 1993), 2 cúp Hà Lan (1983, 1986), 1 cúp C2 (1987, bàn thắng duy nhất của anh giúp Ajax thắng Lok. Leipzig), 2 Cúp C1 (1989, 1990), 2 Siêu Cúp Châu Âu (1989, 1990), 2 cúp Liên lục địa (1989, 1990), 3 lần Vua phá lới Hà Lan, Chiếc giày vàng châu Âu 1986 (36 bàn), Vua phá lới Serie A 1992 (25 bàn), Vua phá lới EURO 88 (5 bàn), VĐ EURO 88, 3 lần Quả bóng vàng châu Âu (1988, 1989, 1992), Danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA năm 1992.

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:05
Diego Armando Maradona: Vị thánh và tên tội đồ

(Thanh Niên) - Vị thánh
Mùa hè năm 1986, ở độ cao 2.500m trên sân Azteca tại Mexico City, Diego Maradona bật cao hơn thủ môn Peter Shilton và dùng "bàn tay của Chúa" đưa bóng vào lưới đội tuyển Anh. Đó là lúc anh ở gần mặt trời nhất. Đó cũng là lúc anh từ giã hình ảnh "cậu bé vàng" để đạt tới ngưỡng của sự vĩ đại, không chỉ đối với đất nước Argentina mà cả thế giới rộng lớn này.

Chỉ một khoảnh khắc sau "bàn tay của Chúa", Maradona lại làm cả thế giới rơi nước mắt sau một pha bóng có lẽ là đẹp nhất trong lịch sử các kỳ World Cup. Nhận bóng từ phần sân nhà, giữa sự kèm cặp của 2 đối thủ Peter Reid và Peter Beardsley, Maradona đã biểu diễn một màn pháp thuật diệu kỳ. Anh chạy vòng qua mặt Beardsley, dốc thẳng xuống cánh phải trước sự chới với của 2 cầu thủ Anh, trên đường đi tới, anh đánh bại hậu vệ Terry Butcher và loại khỏi vòng chiến đấu đối thủ Terry Fenwick trước khi làm xiếc với thủ môn Peter Shilton và tung cú sút rung lưới quân Anh. Trong suốt hành trình hơn nửa chiều dài mặt sân, quả bóng cứ như dính chặt vào đôi chân của Maradona; mọi vật cản đều trở nên nhỏ bé và người anh hùng dân tộc Argentina đã sinh ra trong khoảnh khắc ấy. Tất cả những ai chứng kiến kỳ World Cup rực lửa trên cao nguyên Mexico lúc đó đều biết rằng một vị thánh của bóng đá đã xuất hiện. Vị thánh đó là Maradona và vị thánh đó, gần như chỉ một mình, đã đưa đất nước Argentina trở lại đỉnh cao thế giới.

Trở về từ kỳ tích Mexico, Maradona tiếp tục thăng hoa trên đất Ý. Bằng đôi chân ma thuật của mình, anh đưa đội bóng vô danh Napoli đến với danh hiệu Scudetto năm 1987 và sau đó 2 năm là chiếc Cúp UEFA danh giá.

4 năm sau Mexico City diễm tuyệt, Maradona vẫn là vị thánh tại mùa hè rực lửa trên đất Ý. Cùng với bản nhạc UnEstate Italiana huyền hoặc của Gianna Nannini, những bước chân Diego Maradona là tất cả những gì đẹp nhất mà người ta được chứng kiến trong kỳ World Cup này. Và cho dù sau đó Argentina gục ngã trước Đức trong trận chung kết, hình ảnh một Maradona thần thánh vẫn vẹn nguyên.

Tên tội đồ

Sau những tháng ngày vinh quang, bóng tối bắt đầu bao trùm lên cuộc đời của Maradona huyền thoại. Khi anh tới nước Ý để đưa Napoli leo lên đỉnh cao chói lọi cũng là lúc anh dấn thân vào thế giới đầy rẫy những cạm bẫy. Tồi tệ thay, nếu như trên sân cỏ, Maradona không bao giờ gục ngã trước bất kỳ một đối thủ nào thì trong trường đời, anh đã phải khuất phục trước những bàn tay đen tối. Những băng đảng mafia nước Ý, những liều ma túy chết người, những cuộc vui say, hoan lạc dần biến vị thánh của bóng đá thế giới thành một gã du côn. Nghiện ngập và cáu kỉnh, Maradona bắt đầu hủy hoại hình ảnh thần thánh của mình.

Ngày 17/3/1991, FIFA ban bố lệnh cấm thi đấu 15 tháng đối với Maradona sau khi phát hiện anh sử dụng chất kích thích. 15 tháng là một thời gian quá dài đối với một cầu thủ bóng đá. 15 tháng, đối với một con người yêu trái bóng cuồng nhiệt và có cá tính mạnh mẽ như Maradona quả là thử thách không thể vượt qua. Thế là, những hình phạt với mục đích răn đe đã vô tình đẩy anh tiếp tục lún sâu vào vũng lầy tội lỗi.

Sau 15 tháng "lưu đày", Maradona trở lại sân cỏ với khát vọng tẩy sạch hình ảnh đen tối của quá khứ. World Cup 1994 là cơ hội lớn dù lúc này anh không còn trẻ nữa. Anh khởi đầu giải đấu trên đất Mỹ khá suôn sẻ; những bước chạy của anh, dù không mạnh mẽ như 8 năm trước tại Mexico nhưng vẫn mang một chút gì đó rất ma quái. Thế nhưng, chỉ sau vài bước chạy, Maradona đã trượt chân. Anh bị loại khỏi giải đấu vì dính tới ma túy. Một lần nữa, thanh danh của thiên tài bóng đá thế giới lại hoen ố.



Maradona những năm tiếp sau đó là một người đàn ông mập ú, hút xì gà như hun khói và sẵn sàng gây sự với bất cứ ai. Anh xách súng đuổi những tay phóng viên tò mò, hét lên trước mặt những vị trọng tài kém cỏi và dùng nắm đấm với những ai mon men đến gần. Anh tiếp tục xài chất cấm và cơ thể ngày một rệu rã đi. Cuối cùng, vị thánh ngày nào đã lâm trọng bệnh. Cơ thể của một Maradona thiên tài không thể đứng vững trước sự hủy hoại tàn bạo của ma túy.

Sau tất cả, anh vẫn là vị thánh

Năm 2002, người ta đã lập một nhà thờ mang tên "Hand of God" (Bàn tay của Chúa) tại thành phố Rosario ở Argentina để thờ đấng Diego Armando Maradona. Người ta lấy những cuốn tự truyện của Maradona làm kinh thánh, lấy những câu phát biểu của anh làm "lời răn của Chúa", lấy ngày sinh của Maradona làm mốc để tính lịch. Những ai từng giúp đỡ Maradona thì được phong thánh; những ai từng không tốt với anh bị biến thành quỷ dữ. Những tín đồ của Maradona giáo đặt tên cho con trai mình là Diego. Từ 400 tín đồ trong ngày thành lập, đến nay, Maradona giáo đã thu hút khoảng 20.000 người tham gia trên toàn cầu.

Tất nhiên, sự ra đời tôn giáo trên chỉ là một phần nhỏ trong những tình cảm mà người hâm mộ dành cho siêu cầu thủ Nam Mỹ này. Dù lúc này hay lúc khác, ở một vài nơi nào đó, một vài người nào đó vẫn còn nặng thành kiến với quá khứ của Maradona nhưng những người yêu mến anh vẫn ngày một nhiều. Người ta yêu mến Maradona vì ngoài tài năng, anh là con người biết yêu và biết ghét đến tận cùng, một con người không cần những nghi thức ngoại giao, thẳng thắn phỉ nhổ vào những kẻ đạo đức giả.

Khi Maradona ngã bệnh, hàng ngàn người đã kéo đến xung quanh bệnh viện để cầu nguyện cho anh; họ thắp nến, hát vang những bài ca ngợi Diego thành thánh và giương cao hình ảnh của anh, của gia đình anh. Tổng thống Argentina cũng gửi tới bức thông điệp: "Trân trọng ôm hôn Diego. Chúc anh chóng bình phục. Như tất cả mọi người dân Argentina, tôi vô cùng đau xót khi được tin Diego lâm bệnh. Tất cả chúng ta đứng bên Diego. Anh đã làm cho cả dân tộc này khóc lên vì sung sướng. Anh là một con người vĩ đại". Nhà lãnh đạo Fidel Castro của đất nước Cuba xinh đẹp cũng gửi tới Maradona lời động viên chân tình. Ngay cả đài BBC của nước Anh, đất nước từng chịu những đau khổ trước bước chân ma quái của anh, cũng liên tục phát đi hình ảnh chàng trai Maradona tung hoành qua nửa tá cầu thủ Anh.

Sau tất cả, Maradona vẫn là thần thánh, hình ảnh của anh vẫn được các công dân Argentina, từ chú bé đường phố bình thường đến những siêu sao bóng đá như Batigol, Juan Veron... xâm lên mình và khắc sâu trong tim. Không chỉ tại đất nước tango, cả thế giới vẫn hâm mộ anh và ngày đêm cầu nguyện cho anh chiến thắng lưỡi hái tử thần.

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:06
Karl Heinz Schnellinger: Quý ngài Volkswagen
(ACM.VN) - Phút 90 của trận bán kết World Cup 1970, trên sân Azteca, Mexico, tuyển Italia đang dẫn trước đội tuyển Tây Đức 1-0, chỉ còn 3 phút đá bù giờ nữa thôi là Azzurri có thể cầm chắc chiếc vé lọt vào trận chung kết. Thế nhưng, hậu vệ Karl Heinz Schnellinger đã đưa trận đấu trở lại thế cân bằng 1-1 khiến trận đấu phải kéo dài thêm hai hiệp phụ. Schnellinger đâu có ngờ rằng hai hiệp phụ của trận bán kết đó đã mãi mãi đi vào lịch sử bóng đá thế giới như là một trận cầu kịch tính nhất: Tiền đạo lừng danh Gerd Müller ghi 2 bàn, còn siêu sao Gianni Rivera, đồng đội của Schnellinger ở AC Milan ghi bàn thắng quyết định giúp Italia thắng Đức 4-3.
Được biết đến như là một hậu vệ nổi tiếng trong đội hình bách chiến, bách thắng - AC Milan của HLV huyền thoại Rocco, hậu vệ người Đức, Schnellinger có một lối chơi mang phẩm chất của người Italia, một hậu vệ kinh điển của bóng đá thế giới. Điểm nổi bật nhất của Schnellinger là ông rất ít nói, nhưng trên sân cỏ ông thực sự là một hòn đá tảng mà rất hiếm có tiền đạo đối phương nào vượt qua được. Thi đấu cho Milan 222 trận, nhưng chưa bao giờ ông khi được bàn thắng cho CLB, người ta chỉ nhớ đến bàn thắng nổi tiếng mà ông đã ghi vào lưới Italia trong trận bán kết cúp Thế giới 1970.

Sinh ngày 31/03/1939, tại thành phố nổi tiếng sản xuất xe ô tô Volkswagen của Đức (sau này thành danh ở Milan, người ta gọi ông là Ngài Volkswagen), Schnellinger khởi đầu sự nghiệp tại CLB vô danh SG Dueren 99 và sau đó thăng tiến trong màu áo của FC Cologne. Mùa bóng 1963/64, Schnellinger chuyển tới Italia thi đấu cho AC Mantova một mùa bóng, sau đó ông chuyển qua chơi cho AS Roma mùa bóng 1964/85. Mùa hè năm 1995, ông đầu quân cho AC Milan và trong màu áo đỏ đen của Rossoneri, ông đã trở thành một huyền thoại. Trong 8 mùa bóng tại San Siro, Schnellinger đoạt 1 Scudetto, 1 cúp C2, 1 cúp C1, 1 cúp LLĐ, 3 Coppa Italia. Năm 35 tuổi, Schnellinger rời Milan trở về quê hương và chơi cho TeBe Berlin một mùa bóng trước khi giải nghệ (1974-1975).

Trong màu áo đội tuyển Đức, Schnellinger là một tượng đài ở hàng phòng ngự với 17 trận đấu tại 4 ký World Cup (58, 62, 66, 70). 47 lần khoác áo ĐTQG từ năm 1958-1971 là một khoảng thời gian rực rỡ nhất trong sự nghiệp của ông.

Năm nay đã 65 tuổi, Schnellinger đang sống tại Milano, nơi ông đã cống hiến trọn vẹn sự nghiệp thành công nhất của mình cho AC Milan và không một trận đấu nào của Milan mà không có mặt ông - một khán giả đặc biệt cổ vũ cho Rossoneri.

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:07
Roberto Rosato: "Sát thủ" khoác áo đỏ đen

(ACM.VN) - "Trong trận chung kết World Cup 1970 tại Mexico diễn ra giữa Brazil vs Italia, Roberto Rosato đã đeo Eduardo Gonçalves de Andrade "Tostao" như hình với bóng. Mặc dù Italia thất thủ trước Brazil với tỷ số 1-4, nhưng Tostao không thể ghi bàn..." - Đó là một trong những lời bình luận về trận chung kết cúp Thế giới năm 1970 khi người ta nói về cầu thủ của đội tuyển Italia, Roberto Rosato, hậu vệ nổi tiếng trong thập niên 60 và 70. Rosato là một cầu thủ mang đẳng cấp quốc tế theo phong cách bóng đá của người Ý, cái nôi của lối đá phòng thủ và luôn sản sinh ra những hậu vệ siêu đẳng.
Trong những năm đầu tiên trong sự nghiệp, Rosato đã chơi như một trung vệ tại A.C.Torino và sớm gia nhập đội tuyển quốc gia khi mới 22 tuổi. Trận đấu đầu tiên Rosato chơi cho Azzurri là vào ngày 13/03/1965 gặp đội tuyển Tây Đức tại Stuttgart. Trong trận đấu này, mặc dù chỉ là trận đầu tiên khoác chiếc áo màu Thiên thanh, nhưng Rosato đã khoá chặt ngôi sao tiền đạo Konietzka của Tây Đức. Đến mức giới báo chí Đức đã đặt cho anh biệt danh "killer - sát thủ".

Với đặc trưng nổi bật của người Ý, Rosato rất mạnh trong phòng thủ và phong cách ấn tượng nhất của anh chính là những cú "tắc" đầy nghệ thuật, nhưng anh không bao giờ thi đấu như những hậu vệ chém đinh, chặt sắt hoặc đúng theo nghĩa đen của một "killer".

Sau 6 mùa bóng chơi cho A.C.Torino (1960 đến 1966), Rosato đầu quân cho A.C. Milan và gặp lại người thầy củ Nereo Rocco, HLV đã từng dẫn dắt anh ở Torino. Tại Milan, Rosato chơi ở vị trí hậu vệ phải cùng với 3 cầu thủ Schnellinger, Malatrasi và Anquilletti và anh trở thành hậu vệ hay nhất Italia ở vị trí này.

Tại VCK World Cup 70 tại Mexico, anh trở thành hậu vệ không thể thiếu của tuyển Italia sau khi Niccolai bị chấn thương trong trận đấu đầu tiên gặp đội tuyển Thụy Điển và anh đã chơi tất cả các trận đấu cho đến tận trận chung kết. Trận đấu hay nhất của Rosato, đó là trận bán kết kinh điển giữa Italia và Tây Đức, anh đã bắt chết siêu tiền đạo Gerd Muller cho đến tận hiệp phụ. Chỉ đến khi anh được thay ra, Muller ghi ngay 2 bàn.

Trong sự nghiệp thi đấu của mình, Rosato liên tục gặp rắc rối với vết chấn thương đầu gối và anh rời Milan khi đã 30 tuổi với 7 mùa bóng (1966 đến 1973), lúc đó anh chuyển đến F.C.Genoa chơi những năm tháng cuối cùng của cuộc đời cầu thủ.

Rosato đã chiến thắng 1 Scudetto với Milan vào mùa bóng 1967-68, 3 Coppa Italia (1964 với Torino, 1972 và 1973 với Milan), 1 cúp C2 (1967-1968), 1 cúp C1 (1968-1969) và một cúp Liên lục địa (1969).

Như vậy, trước khi chúng ta biết về bộ tứ hậu vệ huyền thoại Tassotti - Baresi - Costacurta - Maldini, Milan đã từng sản sinh ra những hậu vệ xuất chúng như C.Maldini; Trapattoni, tất nhiên cả Rosato nữa chứ!

Thông tin về Roberto Rosato:

Sinh ngày: 18-8-1943 tại Chieri (TO).
Vị trí: Hậu vệ
Cao: 1,76m; nặng: 73 kg.
Trận đấu đầu tiên: 2-4-1961 Fiorentina-Torino 1-1
Các CLB đã qua: Torino, Milan, Genoa, chơi tổng cộng 361 trận tại Serie A và 37 trận cho Italia.

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:10
Pietro Vierchowod: Sa hoàng nước Ý

Đầu mùa giải 03-04, các tifosi của Milan thắc mắc tại sao Milan lại đưa về San Siro "ông lão" Cafu để tăng cường cho hàng thủ của Rossoneri? Chuyện nhỏ! Trung vệ kỳ cựu Alessandro Costacurta đã 38 tuổi mà chơi vẫn rất sung? Chuyện nhỏ! Đội trưởng Paolo Maldini đã vượt qua con số 500 trận ở Serie A. Chuyện nhỏ! Tại sao những con số ấn tượng như trên lại là chuyện nhỏ thế? Đúng vậy, với "sa hoàng" Pietro Vierchowod đó thực sự chỉ là chuyện nhỏ bởi vì anh đã đến thi đấu cho AC Milan khi vừa tròn ... 38 xuân xanh, đoạt Champions League cùng với Juve (95/96) khi 37 tuổi và có 19 năm liên tục chơi tại Serie A (1980 - 2000) với kỷ lục 562 trận (chỉ thua duy nhất Dino Zoff, 570 trận).
"Người lính già vĩ đại", một biệt danh khác mà bóng đá Italia gọi Vierchowod . Dường như thời gian đối với Vierchowod chỉ là vô nghĩa, một "cụ già" 41 tuổi vẫn còn thi đấu tại giải đấu khắc nghiệt Serie A trong màu áo của Piacenza, CLB cuối cùng trong sự nghiệp của anh.

Vierchowod khởi đầu sự nghiệp trong màu áo Como. Sau đó anh thi đấu cho Fiorentina, Roma, Sampdoria (12 mùa bóng), Juventus và Milan. Tại Sampdoria, cùng với bộ đôi tấn công "khủng khiếp" Vialli - Mancini, Vierchowod đã giúp Samp đoạt C2 mùa bóng 1989/1990 và đoạt Scudetto mùa bóng 1990-1991. Tài năng của Vierchowod thật sự bùng nổ trong màu áo của Samp. Nhưng có mấy ai biết rằng anh cũng đã từng chiến thắng World Cup 1982 cùng với Azzurri tại Tây Ban Nha dưới bàn tay của HLV Bearzot. Đó là khi anh mới tròn 23 tuổi.

Trong sự nghiệp thi đấu lừng danh của mình, Vierchowod đã từng đối mặt rất nhiều tiền đạo lừng danh, từ Pruzzo đến Montella, Graziani, Platini, Zico, Careca, Van Basten, Signori, Oliveira, Bierhoff,...Và nhiều trong số các tiền đạo đó thực sự rất "ớn" mỗi khi đụng độ anh.

Tuy nhiên, ấn tượng hơn tất cả đó là khi anh đã 37 tuổi, Juventus đã mua anh về từ Sampdoria (mùa bóng 95/96) để rồi anh kịp thời bổ sung vào thành tích của mình một chiếc cúp Champions Leahue). Mùa bóng tiếp theo, Vierchowod lại đến với Milan với một nhiệm vụ thay thế huyền thoại Franco Baresi. Tuy không được thi đấu nhiều, nhưng cũng đủ để ca ngợi tài năng của anh, một cầu thủ 38 tuổi mà vẫn có ích cho hàng phòng thủ thép của Milan.

Sau một năm ở San Siro, Vierchowod về "ẩn dật" trong màu áo của Piacenza. Thi đấu ở đây 3 mùa bóng và thi đậu bằng HLV nhưng anh vẫn chưa chịu treo giày. Năm 2002, anh lại xỏ giày trong màu áo của Florentina Viola và mới kết thúc sự nghiệp vào mùa hè năm 2003, khi anh tròn 44 tuổi.

Tất cả những con số do Vierchowod tạo ra đã chứng minh tài năng không phụ thuộc vào tuổi tác và trong một môi trường khắc nghiệt như Serie A, nơi người ta tôn vinh lối đá phòng thủ như là một nghệ thuật của người Italia, "người lính già" Vierchowod vẫn đứng vững bất chấp thời gian.

Thông tin cá nhân của Vierchowod:

Sinh ngày: 4/6/1959
Quốc tịch: Italia
Thành tích: 2 Scudetto (Roma và Samp), 4 Coppa Italia, 1 C2, 1 Champions League.
Các CLB đã qua: Como, Fiorentina, Roma, Sampdoria (12 mùa bóng), Juventus, Milan, Piacenza.
ACMVN

tonithai
16-02-2005, 10:11
Ferenc Puskas
Ferenc Puskas sinh năm 1962 tại Budapest,thủ đô của Hungary.Vóc dáng của Ferenc Puskas chắc nịt lùn mập,anh chuyên môn sử dụng chân trái để sút làm bàn và ít khi chơi đội đầu.Khi vừa tròn 16t v đã gia nhập CLB Kispest,đây là 1 đội bóng mạnh tại Hun.Cuối năm 1945 Ferenc Puskas được khoác áo đội tuyển quốc gia lần đầu tiên và chẳng bao giờ anh vắng mặt trong danh sách chính thức của đội tuyển Hungary nữa.kể từ giữa năm 1950 cho đến cuối năm 1955 đội tuyển Hungary đã tham gia tất cả là 51 trận thi đấu quốc tế,họ chiến thắng 43 tr6ạn hoà 7 và chỉ thua 1 trận .Hơn thế nữa trong suốt 51 trận đấu ấy tổng cộng đội tuyểy Hun đã ghi 220 bàn,tính trung bình 4,3 bàn/1trận.Tiền vệ Ferenc Puskas luôn luôn là người dẫn đầu sanh sách ghi bàn nhiều nhất của đội Hungary
-năm 1952 Ferenc Puskas giúp cho Hungary đạot chức vô địch tại Olympic.Năm 1953 Ferenc Puskas giữ vị trí thủ quân đội tuểyn Hungary sang thi đấu tại Anh và họ đã làm rung động nước này.tại vận động trường Wembley đội tuyển Hungary đã hạ đo ván đội tuểyn Anh với tỷ số 6-3.Tại WC 1954 đội tuyển Hungary đã thu hút con tim người hâm mộ,họ liên tục chiến thắng chẳng thua trận nào từ vòng loại tứ kết và bán kết.Trận chung kết chính Ferenc Puskas ghi bàn đầu tiên vào hiệp 1.Mặc dù cuối cùng thua cuộc với tỷ số 2-3 trước đội Tây Đức nhưng đội Hun mới thực sự là những người nổi bật nhất tại WC 1954!Đá cho đội tuyển 84 trận Ferenc Puskas ghi 83 bàn
_Năm 1956 Ferenc Puskas dính líu tham gia vào cuộc nổi dậy chính quyền Áo,nên pahỉ trốn sang tỵ nạn chính trị tại Áo.Năm 1958 Ferenc Puskas đầu quân cho Real rồi anh gia nhập quốc tịch TBN.tại TBN tiền vể danh tiếng Ferenc Puskas lại dẫn đầu danh sách vua phá lưới 4 năm liền,anh đã giúp CLB Real đoạt Cup vô địch quốc gia 5 lần và 1 Cup c1
-năm 1962 góp mặt tham dự WC tong màu áo TBN.Năm 1966 anh giã từ sân cỏ và làm HLV cho 1 số CLB Châu Âu

Xú Quận Mã
16-02-2005, 10:34
Gullit và những con số

Ruud Gullit sinh ngày 01/09/1962 ở Amsterdam. Ở anh hội tụ mọi yếu tố để trở thành một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới: tốc độ, sức mạnh, tinh tế và rất thông minh. Gullit chính là hình ảnh thu nhỏ của một học thuyết mà người ta thường gọi "bóng đá tổng lực". Trong những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, Gullit đã tung hoành trong màu áo da cam của tuyển Hà Lan, trong sắc áo đỏ - đen của "đế chế" AC Milan. Một phần nhờ hình ảnh của Gullit mà giới hâm mộ Việt Nam đã trở thành những Fans trung thành với Serie A, đặc biệt là trở thành một Milanista.
Sự nghiệp của Gullit bắt đầu cùng với người bạn thân Frank Rijkaard chơi bóng ở Jordaan, ngoại ô thành phố Amsterdam. Anh đã ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với CLB nhỏ Haarlem khi anh mới 16 tuổi. Anh đã chói sáng tại đây với 32 bàn thắng chỉ trong 91 lần xuất hiện và nhanh chóng được gã khổng lồ của giải VĐ Hà Lan, Feyenoord mang về vào năm 1982. Anh đã có 30 bàn thắng và 1 lần VĐ trong 3 mùa bóng khoác áo CLB thành Rotterdam. Năm 1985, Gullit chuyển đến PSV Eindhoven, đây mới thực là nơi anh thể hiện mình: 2 lần đoạt chức VĐ Hà Lan cùng 46 bàn thắng cho PSV.

Năm 1987, Gullit trở thành cầu thủ thứ 3 sau Paolo Rossi và Michel Platini cùng 1 năm đã đoạt danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu và Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Tài năng của anh đã khiến nhà tỷ phú, chủ tịch AC Milan, Silvio Berlusconi nhanh chóng đưa anh về San Siro với cái giá kỷ lục thời bấy giờ: 5,5 triệu bảng. Ngay trong mùa bóng đầu tiên, Gullit đã giúp Milan đoạt Scudetto bằng 9 bàn thắng trong 29 lần ra sân. Mặc dù gặp chấn thương đầu gối trong mùa bóng 1989, nhưng Gullit cũng đã giúp Milan lên ngôi VĐ châu Âu lần thứ 3 sau khi đánh bại Steaua Bucharest 4-0 trên sân Nou Camp (Barcelona). Gullit và Van Basten, mỗi người ghi được 2 bàn thắng.

Sau khi cùng Milan đoạt Cúp C1 lần thứ 2 liên tiếp, Gullit đã cùng với tuyển Hà Lan thi đấu tại Cúp thế giới Italia 90, nhưng tại giải đấu này anh chơi không thành công. Bỏ qua thất bại tại Italia 90, Gullit lại cùng Milan đang quang chức VĐ Serie A mùa bóng 1992 & 1993 trước khi anh gia nhập Sampdoria. Tại CLB xứ Genoa, Gullit chơi ở vị trí tự do và ghi được 15 bàn thắng trong 31 lần ra sân. Nhận ra sai lầm của mình, Milan đã mời Gullit quay trở lại, nhưng sự quay trở về của Gullit không được thành công: 7 tháng ở San Siro anh chỉ ra sân có 8 lần và ghi được 3 bàn. Gulllit lại quay trở lại Sampdoria và đoạt cúp QG năm 1995 tại đây.

Sau năm 1995, Gullit đã đến chơi bóng ở Anh, cụ thể là CLB thành London, Chelsea do Glenn Hoddle dẫn dắt. Trong màu áo của Chelsea, Gullit có những năm tháng đẹp đẽ cuối cùng của sự nghiệp và sau đó anh nhận lời dẫn dắt Chelsea. Ở sự nghiệp HLV, Gullit đã trở thành HLV nước ngoài đầu tiên đoạt cúp FA vào năm 1997. Thất bại tại Newcastle khiến Gullit rời xa bóng đá một thời gian khá dài trước khi nhận lời huấn luyện tuyển trẻ Hà Lan. Bắt đầu mùa bóng tới, Gullit sẽ nhận lời làm HLV cho CLB cũ của mình, Feyenoord và chúng ta sẽ có dịp chứng kiến cuộc trình diễn của một phong cách bóng đá rất hấp dẫn mà Gullit đang theo đuổi: "Bóng đá sexy".

Xú Quận Mã
16-02-2005, 15:30
Desailly - Anh ta là ai thế?

Đó là câu hỏi của rất nhiều cổ động viên AC Milan khi vào nữa mùa bóng 1993 – 1994, AC Milan đã mua về một hậu vệ còn vô danh của OM đó là hậu vệ Marcel Desailly. Lúc đó, các cổ động viên của AC Milan chỉ biết Desailly là một cầu thủ của OM tham gia trong trận trung kết Champions League với AC Milan và bắt chết tiền đạo Van Basten. Khi Desailly gia nhập Milan, các cổ động viên tự hỏi "anh ta là ai thế nhỉ? Milan mua anh ta để làm gì?”, vì thời điểm đó Desailly chỉ là một hậu vệ không tên tuổi, chưa có thành tích gì đáng kể, lối đá của anh vụng về, lóng ngóng với 1 hình dáng độ sộ và xoay sở chậm chạp. Gia nhập đội quân của Milan, Desailly còn phải cạnh tranh 3 vị trí cầu thủ nước ngoài trong đội hình với 5 cầu thủ nước ngoài nữa của Milan là Savicevic, Boban, Papin, B. Laudrup và Raduciou, họ toàn là những siêu sao và tất cả các cổ động viên đều nghĩ anh sẽ ngôi dự bị dài dài.
Thật bất ngờ, Desailly liên tục được đá chính tại vị trí tiền vệ phòng thủ, lấp vị trí mà Rijkaard đã để lại. Từ một hậu vệ, chuyển sang chơi tiền vệ phòng thủ, chiếc áo Milan quả là quá rộng đối với anh. Nhưng đó chính là điều kỳ diệu của Milan mà chúa trời đã mang lại, tại Milan, như cá gặp nước Desailly đã chứng tỏ rằng Milan lựa chọn anh là sự đầu tư đúng đắn và đầy hiệu quả. Chỉ sau một thời gian ngắn hòa nhập, đá cùng với Albertini, họ đã tạo ra cặp tiền vệ phòng ngự hay nhất Serie A. Công thủ toàn diện và ghi một số bàn thắng quan trọng tại Serie A và Champions League, Desailly đã giúp AC Milan vững chắc tiến vào chung kết Champions League và đoạt Scudetto lần thứ 2 liên tiếp dưới triều đại HLV tài năng F.Capello.

Trước trận chung kết Champions League 1994, lực lượng AC Milan tổn thất nghiêm trọng vì vắng mặt của 2 trung vệ Baresi và Costacuta, 2 mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Milan. Trong khi đó đối thủ của họ là nhà vô địch Tây Ban Nha Barcelona với cặp tấn công hay nhất Châu Âu là Stoichkov, Romario, cùng với tiền vệ chuyền bóng hay nhất thế giới M. Laudrup, dưới sự dẫn dắt của Vua “Johan”. Tất cả các tạp chí, chuyên đề về bóng đá đều dự đoán Milan sẽ bại trận trước Barce, thậm chí với tỷ số nặng nề. Khi đọc những hàng tít lớn của các bài báo “Những pháo thủ xứ Catalan sẽ tự do đánh chiếm thành Milano”, tất cả các Rossoneri đều rất lo lắng. Bước vào trận đấu, đội hình xuất phát của Milan có 3 cầu thủ nước ngoài là Savicevic, Boban và Desailly, hàng hậu vệ bổ sung hai cầu thủ thay thế là Galli và Tasotti, trong khi đó Barca ra quân với thành phần mạnh nhất. Những phút đấu tiên chậm dải trôi qua trong sự hồi hộp, lo sợ của các cổ động viên Milan. Nhưng thật bất ngờ, với lối đá chắc chắn, tấn công hiệu quả cùng với sự toả sáng của các cá nhân như Savicevic, Desailly, Massaro, Dodadoni, Maldini,… Milan đã đè bẹp Barca với tỷ số không tưởng 4-0, một tỷ số quá đậm trong một trận chung kết đỉnh cao của bóng đá hiện đại. Phân tích qua trận đấu này cho thấy chìa khóa chính cho thành công của Milan chính là Desailly chứ không phải là Massaro ghi 2 bàn thắng và bàn thắng đẹp mắt, những pha bóng kỹ thuật lắt léo của Savicevic. Desailly thực sự là ông chủ ở giữa sân, chính anh đã cản phá thành công hầu hết các đợt tất công của Barca, làm lu mờ những ngôi sao sáng như Stoichkov, Romario, Laudrup, lam cho toàn bộ tuyến tiền vệ của Barca tê liệt; không những thế, anh còn kết liễu số phận của Barca bằng bàn thắng nâng tỷ số lê 4-0 sau khi băng lên nhận đường chuyền của đồng đội hạ gục thủ môn tài năng Zurizabeta. Qua thành công tại trận chung kết Champions League 1994, Desailly đã trả lời cho những cổ động viên nào còn nghi ngờ: “anh là ai”?, anh chính là một viên đá thô được gọt rủa tại Milan thành một viên kim cương toả sáng trên bầu trời đầy sao của thành Milano.

Từ đó, Desailly đã bay cao cùng với AC Milan trên tất cả các đấu trường, anh là sự lựa chọn số một trong đội hình Milan. Cho dù Milan có thành công hay thất bại, Desailly vẫn được đánh giá là cầu thủ xuất sắc, anh đã thay thế hoàn hảo vai trò của Rijkaard để lại, một món quà vô giá mà Milan đã có.

Kế từ khi gia nhập Milan đến nay, tất cả những vinh quang cao quý nhất của một cầu thủ đều đến với anh: Vô địch Serie A, Champions League với Milan; vô địch thế giới năm 98, vô địch Châu Âu 2000 với tuyển Pháp, đoạt Cúp FA và C2 với Chelsea. Cuộc đời có nhiều điều bất ngờ và thú vị, từ một cầu thủ vô danh trở thành một cầu thủ xuất sắc nhất trên thế giới, suốt đời anh sẽ mãi mãi không bao giờ quên Milan, nơi phát hiện và đưa anh trở thành một ngôi sao như ngày nay. Cám ơn Desailly vì tất cả những gì anh đã mang lại cho các Rossoneri…

JakeSatan
16-02-2005, 17:57
Zidane: "Tôi xin nhường đường cho lớp trẻ"

"Cậu ấy có một khả năng làm chủ trái bóng đáng kinh ngạc. Bóng đã ở chân Zizou sẽ có một điểm đến chính xác giống như anh đang điều khiển bóng bằng tay vậy. Trên sân cỏ, người ta chỉ còn thấy mình anh với trái bóng là đang sống động”.

Zidane vẫn giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình dù biết điều đó sẽ biết sẽ tạo nên một nỗi hụt hẫng khó bù đắp trong lòng người hâm mộ.

"Một trang sử mới đã mở ra"

Hôm qua, 14/8, trong một cuộc phỏng vấn của giới báo chí, Zinedine Zidane, ông vua bóng đá Pháp, đã khẳng định rằng sự ra đi của anh là một quyết định đúng đắn và đã được cân nhắc rất kỹ. Anh thổ lộ: “Tôi ra đi là để nhường đường cho lớp trẻ”.

"Có lẽ thật khó để nói lời chia tay, thật khó để có thể chấp nhận ý nghĩ rằng mình đã không còn là thành viên của đội bóng. Nhưng điều đó hợp với quy luật cuộc sống”, cựu thủ lĩnh của ĐT Pháp tâm sự, “Một trang mới đã mở ra. Đây là thời của các cầu thủ trẻ”.

Bao nhiêu năm gắn bó với ĐTQG, thành công đáng kể nhất của Zidane là đã đưa đội áo Lam đến với chiếc Cup vô địch France 98. Dù đã có ý định từ lâu xong dường như anh vẫn cảm thấy hụt hẫng với sự thay đổi lớn này trong cuộc đời mình: “Tôi cảm thấy rất lạ. Có cái gì đó vừa đi qua, có cái gì đó vừa đổ vỡ. Một thế hệ đã ra đi!”

Người hâm mộ ĐT Pháp, các CĐV của Zizou cho rằng việc anh ra đi đã làm tan vỡ trái tim của cả đội bóng. Nhưng Zidane tin tưởng cho rằng bóng đá cũng giống như một cuộc chạy tiếp sức. Lớp này ra đi lại có lớp khác mọc lên. Các cầu thủ trẻ bây giờ rất tài năng và họ cũng không thiếu niềm đam mê trái bóng.

"Và tại sao các bạn không nhìn vào những cầu thủ trẻ đã có mặt trong ĐT từ France 98, cho đến bây giờ, họ vẫn không ngừng tỏa sáng. Những người như Patrick Vieira, Thierry Henry, Claude Makélélé, Willy Sagnol, hay thậm chí cả Fabien Barthez đều đang tiếp tục cống hiến, tiếp tục thành công".

Zidane cũng bày tỏ sự ngạc nhiên pha chút khó hiểu trước việc đồng đội Marcel Dessailly giã từ đội tuyển ở cái tuổi mà anh vẫn còn có thể cống hiến được nhiều cho đội bóng.

Zidane, biểu tượng của một thập kỷ bóng đá Pháp huy hoàng

Cùng với lời tuyên bố chia tay của mình, Zinedine Zidane đã khép lại một giai đoạn quan trọng và không kém phần vinh quang trong lịch sử bóng đá Pháp.

Nhớ lại hồi tháng 8 năm 1994, khi đó, Zidane vẫn chỉ là một con số không. Trong mùa World Cup năm đó, anh đã ghi liền 2 bàn thắng trong vòng 3 phút cho đội Pháp trong trận gặp CH Séc. Người ta biết đến anh từ đó.

Tròn một thập kỷ sau, chàng trai Zizou ngày nào, nay đã trong vai trò là một vị thánh, một biểu tượng của cả một triều đại bóng đá, lại nói lời chia tay làm tan nát không biết bao nhiêu trái tim người hâm mộ.

Cho đến lúc này, Zidane vẫn là một trong những cầu thủ đắt giá nhất thế giới. Năm 2001, hợp đồng chuyển nhượng của anh từ Juventus sang Real Madrid đã là 75 triệu euro. Và số 10 vĩ đại của đội áo Lam vẫn được đánh giá là cầu thủ tài năng nhất thập kỷ qua.

Người hâm mộ vẫn nhớ đến anh như một nhân chứng của danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất thập kỷ do FIFA bình chọn, Quả bóng vàng ’98.

"Cậu ấy có một khả năng làm chủ trái bóng đáng kinh ngạc. Bóng đã ở chân Zizou sẽ có một điểm đến chính xác giống như anh đang điều khiển bóng bằng tay vậy. Trên sân cỏ, người ta chỉ còn thấy mình anh với trái bóng là đang sống động”, huyền thoại một thời của đội bóng Hoàng gia Real, Alfredo Di Stefano, đã từng nhận xét về Zidane như thế, "Khi nhìn Zidane chơi bóng, tôi có cảm giác tìm lại được hình ảnh của mình ngày nào. Đó thật sự là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mà tôi từng biết”.

Thậm chí, ông còn so sánh anh với Pelé, Maradona hay chí ít cũng là Michel Platini. “Dù mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng rõ ràng đội tuyển Pháp đã chịu ảnh hưởng bởi phong cách của anh rất nhiều. Zidane cũng mang dấu ấn của Pelé trong những năm 60 hay của Maradona trong những năm 80. Hai cú ghi bàn của cậu ấy ở World Cup 1998 mãi mãi đi vào lịch sử’.

Giờ đây, ở độ tuổi 32, có thể Zidane đã là một “người già” lọt vào giữa các cầu thủ trẻ. Và anh đủ thông minh để biết dừng đúng lúc cuộc phiêu lưu đầy vinh quang của mình.

JakeSatan
16-02-2005, 17:59
Marco van Basten: Vực dậy "cơn lốc da cam"?

30 phút lắng nghe lời tham mưu của Cruyff, 2 tiếng thương lượng với Van Basten và một cuộc họp báo. Thế là xong. Kesler, GĐĐH Liên đoàn bóng đá Hà Lan (KNVB), chính thức thông báo với giới báo chí và người hâm mộ: “Marco Van Basten sẽ kế nhiệm Dick Advocaat đảm nhận chức vụ HLV đội tuyển Hà Lan kể từ ngày 29/7/04”.


Sự nghiệp cầu thủ oai hùng & 9 năm ẩn tích

Van Basten thuộc về trường hợp hy hữu. Quá khứ, hiện tại và tương lai của Hà Lan không thể sản sinh ra một tiền đạo kinh hoàng như vậy. Điều khiến Van Basten trở nên vĩ đại không phải là số lượng hay độ tuyệt đẹp của các bàn thắng; đơn giản đó là bản năng sát thủ, sự nhạy cảm cũng như lối chơi hào hoa. Không một hậu vệ nào thuộc thế hệ anh đủ can đảm tuyên bố “tôi có thể khoá chặt Van Basten.” Đó là một thực tế đã được chứng minh trong quá khứ.

Van Basten đến đâu, vinh quang theo chân đến đó. Ajax trở thành “Vua” của Hà Lan và bước lên ngai vàng châu Âu. AC Milan lật đổ sự cai trị của Inter đồng thời hưởng thụ những ngày tháng mơ mộng nhất trong lịch sử của mình. Còn với “Cơn lốc màu da cam”, đó là sự hoàn hảo của “bóng đá tổng lực” và danh hiệu duy nhất của họ cho đến nay: VĐ EURO 1988

Cú chuồi bóng ác ý của Basile Boli, sự cẩu thả của những bác sỹ phẫu thuật đã phá nát mắt cá chân và sự nghiệp cầu thủ của anh. Van Basten đã khóc rưng rức như một đứa trẻ khi tuyên bố treo giày vào một buổi chiều năm 1995. Kể từ đó, anh gần như ẩn tích trên “giang hồ”, suốt ngày theo đuổi các khoá học đánh golf và tennis để giải sầu. Mãi đến năm 1999, Van Basten đột nhiên xuất hiện trên sân cỏ, trong màu áo ĐT Hà Lan. Đó là “Trận đấu thế kỷ” nhằm tôn vinh “Cơn lốc màu da cam” huyền thoại do KNVB tổ chức. Sau trận đấu, Van Basten đã rơi lệ. 3 năm sau đó, Van Basten trở lại Ajax, làm trợ lý cho John Van ‘t Schip và đảm nhận chức HLV đội trẻ.

Tương lai chông gai

Một lần nữa, Van Basten lại đứng ra để cứu rỗi một Hà Lan bệ rạc sau EURO 2004 như thời EURO 1988 khi anh là cầu thủ. Người hâm mộ và ngay chính bản thân anh quá xa lạ với khái niệm “HLV Marco Van Basten”. Và tất nhiên trước mắt là muôn nghìn khó khăn, thậm chí khó hơn cú vô lê tuyệt đỉnh, độc nhất vô nhị của ông vào lưới ĐT Liên Xô ở trận CK EURO 1988. “Tài sản” kế thừa từ người tiền nhiệm Advoocat quá ít ỏi và nghèo nàn. Hàng loạt trụ cột của Hà Lan như Frank De Boer, Edwin van der Sar, Marc Overmars, Paul Bosvelt, Phillip Cocu, Pierre van Hooijdonk, Michael Reiziger, Edgar Davids đã và sẽ từ giã sự nghiệp thi đấu quốc tế trong nay mai. Những gì còn lại chỉ là Van Nistelrooy, Roy Makaay, Patrick Kluivert, Arjen Robben, Wesley Sneijder, Andy van der Meyde, Rafael van der Vaart nhưng chỉ 2 (Van Nistelrooy, Robben) trong số đó thực sự chơi ấn tượng ở EURO 2004.

Liệu Van Basten sẽ mang lại vinh quang cho “Cơn lốc màu da cam” hay lại dẫm lên vết xe đổ của Frank Rijkaard (2000-2002)? Câu trả lời sẽ có sau hơn 1 tháng nữa khi vòng loại World Cup 2006 khởi tranh, hay gần hơn là trận giao hữu với Thuỵ Điển ở Stockholm vào ngày 18/8 tới đây. Hãy chờ xem!

Sinh ngày: 31/10/1964, tại Utrecht, Hà Lan
- 58 lần khoác áo ĐT Hà Lan (1983-1992), ghi 24 bàn thắng
- 1981-1987: thi đấu cho Ajax Amsterdam, ghi 151 bàn/172 trận
- 1987-1995: là người của AC Milan, ghi 90 bàn/147 trận

Thành tích nổi bật nhất:
- VĐ EURO 1988.
- 3 C1: 1989, 90, 94 (với Milan). 1 cúp C2: 1987 (Ajax). 3 siêu cúp châu Âu: 1989, 90, 94 (Milan). 2 cúp Liên lục địa: 1989, 90 (Milan). 3 chức VĐ Hà Lan: 1982, 83, 85. 3 Cúp Quốc gia Hà Lan: 1983, 86, 87. 4 Scudetto (1988, 92, 93, 94).
- “Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm” của FIFA: 1992
- “Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới” do tạp chí World Soccer bầu chọn: 1988, 92 “Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu”: 1988, 89, 92

Xú Quận Mã
17-02-2005, 21:10
Schiaffino - Đao phủ của trái tim

Câu chuyện về một nỗi thất vọng tột cùng. Câu chuyện mà Schiaffino là hiện thân. Câu chuyện về một Cup Thế giới mà cả đất nước Braxin đều mơ ước chinh phục đến mức họ không hề nghĩ đến việc thất bại...
Năm 1950 Braxin được vinh dự tổ chức Cúp Thế giới lần IV, Cúp Thế giới đầu tiên sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Một sự trở lại khá rụt rè vì chỉ có 12 đội tuyển quốc gia thực hiện cuộc hành trình đến vùng đất được chọn là nơi hồi sinh cho bóng đá. Trong vòng một, 13 đội tham dự được chia thành 4 bảng không cân đối. Braxin nằm ở bảng I, mở đầu cuộc tranh tài với việc khánh thành sân vận động Maracana, mang tầm vóc của một con tàu khổng lồ có thể chứa đến 200.000 người, bằng chiến thắng dễ dàng trước Mexico với tỷ số 4-0. Và sau khi vượt qua Nam Tư, họ đă giành được quyền vào vòng trong cùng với Tây Ban Nha, Thụy Điển và Uruguay. Tây Ban Nha đã loại Anh, đội tuyển đầu tiên tham dự Cúp Thế giới và càng nhanh chóng đánh mất uy tín sau thất bại trước đội tuyển Mỹ với tỷ số 0-1 tại Belo Horizonte. ở một bảng khác, Thụy Điển vượt trội hơn một đội tuyển ý (hai lần vô địch và đồng thời cũng là đương kim vô địch) được chắp vá sau một tai nạn máy bay khiến cho các cầu thủ xuất sắc của CLB Torino tử nạn vào năm 1949. Cuối cùng, Uruguay đã đè bẹp đối thủ duy nhất của mình - Bolivia - với tỷ số 8-0, trong đó có 5 bàn của Don Juan, tiền đạo ngôi sao, Juan Alberto Schiafrmo.

Là con của một gia đình ý di cư và được nuôi dưỡng trong một gia đình trung lưu ở một đất nước được xem là Thụy Sĩ của Nam Mỹ, Schiamno đã khởi đầu sự nghiệp của mình ở Penarol, CLB lớn nhất của thủ đô Uruguay. Năm 1949, ông là người tạo nên chiến thắng lịch sử của Uruguay trước đội tuyển Braxin (4-3) tại Saint Paulo. Năm 1950, ông là người hùng của một chiến thắng với những hậu quả còn nặng nề hơn nhiều. Với dáng người cao dong dỏng, rất phong nhã, có kỹ thuật tuyệt vời, Schiaffino còn có khả năng làm được tất cả mọi chuyện với cái chân trái, và nhất là ông thường xuyên thực hiện những đường chuyền dọn cỗ cho đồng đội hoặc trực tiếp ghi bàn.

Vòng đấu chung kết khởi đầu bằng một cuộc biểu diễn của các cầu thủ Braxin, họ nghiền nát Thụy Điển đến 7-1. Trong lúc đó, Uruguay chỉ tìm được một trận hòa 2-2 với Tây Ban Nha. Braxin lại tiếp tục đè bẹp Tây Ban Nha 6-1, trong khi Uruguay chỉ giành được một chiến thắng khiêm tốn trước Thụy Điển (3-1). Sau đó, Thụy Điển chiếm được vị trí thứ ba với chiến thắng 3-1 trước Tây Ban Nha. Nhưng vẫn còn một trận đấu nữa để kết thúc cuộc tranh tài này, một trận đấu mang giá trị của một trận chung kết thật sự.

Ngày 16-7-1950, trong thánh đường Maracana đầy ắp người (khoảng hơn 200.000 người), Braxin chỉ cần một kết quả hòa trong trận đấu cuối cùng với Uruguay. Ngay buổi sáng hôm ấy, vào lúc 6 giờ, vị tướng cầm đầu chính quyền quân phiệt đã tập hợp tất cả các cầu thủ Braxin trong một ngôi nhà thờ ở Rio để thông báo những điều kiện cho họ. Họ chỉ được quyền thắng, và phải thắng một cách sáng chói. Do bộ ba tấn công Zizinho - Ademir - Jair dẫn dắt, được sự ủng hộ của cả dân tộc hình như chẳng cò gì đủ sức chống lại họ.

Tuy nhiên, Schiaffino đã gởi cho họ một lời cảnh cáo đầu tiên vào phút 30 khi cú sút của ông trúng ngay xà ngang khung thành của đội tuyển Braxin. Nhưng rồi cuối cùng Friaca cũng mở được tỷ số cho đội chủ nhà. Phút 65, từ một nỗ lực cá nhân tuyệt vời, Schiafrmo gỡ hòa bằng một cú sút vào góc. Rồi Gigghia, sau một cú vô lê ghi bàn thắng thứ hai cho Uruguay. Braxin sống trong tang tóc. Schiamno và đội tuyển Uruguay buớc vào lịch sử.

Một câu chuyện mà Don Juan và bóng đá còn ve vãn nhau khoảng một chục năm nữa. Năm 1954, một lần nữa ông lại là thủ lĩnh của một đội tuyển Uruguay tạo sự thích thú cho công chúng Thụy Sĩ và họ chỉ chịu nhường bước trước đội bóng vàng Hungari ở vòng bán kết. Trận Hungari - Uruguay, được tổ chúc tại Lausanne, hẳn nhiên là một trong những trận đấu tuyệt vời nhất của thế kỷ.

Cuối cùng, đúng ngay sau Cúp Thế giới này, Schiamno đă chấp nhận sang thi đấu ở Calcio, nơi vốn đã liếc mắt dịu dàng với ông từ nhiều năm trước, ông cùng với hai đồng đội người Thụy Điển - Nordhal và Liedholm - đă biến AC Milan thành đội bóng xuất sắc nhất của cuối thập niên 50. Bảng kết toán: Ba danh hiệu vô địch ý và một trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1958, thất bại trong hiệp phụ trước đội bóng lớn Real Madrid của Tây Ban Nha.

Schiafrmo, con của một gia đình ý di cư cũng đã thi đấu 4 trận cho một đội tuyển ý rất sẫn lòng đón như những đứa con lưu lạc ở Nam Mỹ, những người như ông, như cầu thủ người Uruguay Gigghia hay cầu thủ người Achentina Omar Sivon.

- Ngày sinh: 28-07-1925 tại Montevideo
- Quốc tịch: Uruguay, sau đó là ý
- Vị trí: Tiền đạo
- Đội tuyển quốc gia: Với Uruguay, 30 lần được tuyển, đoạt Cúp Thế giới năm 1950, hạng 4 Cúp Thế giới năm 1954. Với ý, 4 lần được tuyển.
- Câu lạc bộ: Penarol (1944-1954); AC Milan (1954-1959), vô địch ý năm 1955, 1957 và 1959; AS Roma (1959-1961)

(Bóng đá Quốc tế )

Xú Quận Mã
01-03-2005, 10:40
Kurt Hamrin: “Cánh chim nhỏ” của Serie A

Cầu thủ vĩ đại nhất mà đất nước Thụy Điển sinh ra là Kurt Hamrin, được biết tới với biệt danh “I uccellino” (con chim nhỏ), ngôi sao một thời của Serie A. Ông cũng được xem là một trong những tiền vệ lừng danh nhất thế giới.
Đối với cả CLB Padova và Fiorentina, Kurt Hamrin luôn là cầu thủ vĩ đại nhất. Trên sân cỏ, ông là một tiền vệ phải đầy sáng tạo và một cổ máy ghi bàn lạnh lùng. Ông đã từng ghi 20 bàn mùa giải 1958, giúp Padova đứng thứ 3 ở Serie A. Đặc biệt ở Florence, trong 9 năm, ông sút tung lưới đối phương tới 150 lần.

Bắt đầu sự nghiệp ở AIK Stockholm năm 1952, Hamrin là mộ sản phẩm xuất sắc của chiến dịch đào tạo cầu thủ trẻ để tiếp bước chiến thắng lẫy lừng mà Thụy Điển giành được thắng lợi tại Thế vận hội London năm 1948. Ngoài Hamrin, thời gian này, Thụy Điển còn sản sinh ra một số tên tuổi khác như Sgolund, Axbom, Parling và Borjesson. Tất cả đều chơi rất thành công ở các giải trong nước và có mặt ở trận chung kết World Cup 1958. Sau 62 trận đấu cho AIK, Hamrin ghi 54 bàn thắng. Con số này đã làm cho rất nhiều CLB Italia chú ý.

Những năm 50 là thời kỳ mà các cầu thủ Thụy Điển ồ ạt tiến sang đất nước của món mì ống. Gunnar Nordahl, Nils Liedholm cùng gia nhập Milan, Skoglund sang Inter. Selmosson, một tiền đạo tài năng với biệt danh “Ray of Moonlight” (ánh trăng), thì ký hợp đồng với Udinese. Gustavsson đầu quân cho Atalanta, còn Jeppson thì trở thành sao ở Napoli.

Điểm đến của Herim năm 1956 là Juventus nhưng tại đây ông không thể tỏa sáng. Trong khi bản thân ông luôn phải gồng mình cạnh tranh để đá chính thì CLB chỉ đứng ở vị trí thứ 9 khi kết thúc mùa giải. Và tất nhiên đã có một cuộc “thay ngựa giữa dòng”. Hai tiền đạo mới, Omar Sivori và John Charles đến Turin, còn Hamrin sang Padova, CLB có “tiềm năng” giành vị trí rớt hạng ở Serie A thời điểm đó. Tuy nhiên, HLV Rocco nói với các học trò: “Các cậu hãy quên những gì báo chí đang nói đi và hãy tập trung vào chuyên môn”. Kết quả là năm đó họ về thứ ba!

Đối với sự nghiệp tại đội tuyển quốc gia, Hamrin nổi lên như một thiên tài ở World Cup 1958. Ông đã cùng đồng đội vượt qua Liên Xô (cũ) 2-0 tại tứ kết và Tây Đức tại bán kết (3-1). Địch thủ cuối cùng của họ là những chàng trai đến từ Brazil. Tuy nhiên, trong trận này, HLV Brazil, Vicente Feola, đã rất tài tình khi thực hiện một sự thay đổi nhỏ. Ông ta thay tiền vệ phải De Sordi bằng một cầu thủ mạnh mẽ có thiên hướng phòng thủ Djalma Santos. Biện pháp này đã thành công bởi Hamrin bị Santos kèm chặt và kết quả Thụy Điển thua 2-5.

Lúc này Hamrin đã bắt đầu đá cho Fiorentina dưới thời HLV Fulvio Bernadini. Ông về CLB này thay thế vị trí của tiền vệ người Brazil Julinho. Trong hai mùa giải đầu tiên, ông liên tục ghi mỗi mùa 26 bàn và đến khi sang đá cho Milan năm 1967, ông ghi tổng cộng 150 bàn cho Fiorentina. Đây là kỷ lục của đội bóng áo tím mà mãi đến mùa giải 1999-2000 huyền thoạy Gabriel Batistuta mới phá bỏ.

Nhưng Hamrin chưa bao giờ giành ngôi vua phá lưới Serie A (capocannoniere). Hai lần ông cùng CLB về nhì (với Juve của HLV Sivori năm 1960 và Bologna của Nielsen năm 1964). Với Fiorentina, ba lần ông suýt đoạt Scudetto (1959, 1960 và 1962). Khi ông rời khỏi Fio năm 1967, HLV Rocco đã phát biểu rằng: “Chắc họ phải bị điên mới để cậu ấy ra đi!”. Tuy nhiên, với bản thân Hamrin, đế chế đỏ đen là nơi ông gặt hái được nhiều thành công nhất. Riêng trong năm 1968, ông giành cú đúp siêu cúp và Scudetto. Và chỉ một năm sau, ông lại cùng Rossoneri đoạt cúp C1.

Hamrin rời khỏi Milan sau trận thắng 4-1 trước Ajax ở Madrid trên sân Bernabeu. Sau đó, ông đầu quân cho Napoli và giải nghệ năm 1971. Hiện giờ, người tiền vệ vĩ đại với 190 bàn thắng này vẫn đang sống ở thành Florence và thường xuyên có mặt trong các trận đấu của Fiorentina trên sân nhà.

Đôi nét về Hamrin:

Nơi sinh: Stockholm
Ngày sinh: 19/12/1934
Vị trí: Tiền vệ phải
CLB: AIK Stockholm, Juventus, Padova, Fiorentina, AC Milan, Napoli
Thành tích: 1 Scudetto (1968), 1 cúp C1 (1969), 2 siêu cúp (1961, 1968), 2 Coppa Italia (1960, 1966).
(BBĐ)

JakeSatan
04-03-2005, 14:13
Neeskens - Johan đệ nhị

Nếu nói rằng, trong lịch sử chỉ có hai cầu thủ Hà Lan từng vinh dự ghi bàn trong một trận chung kết World Cup, bạn sẽ dễ nghĩ đến Johan Cruyff vĩ đại. Nhưng một đồng đội cùng tên với Cruyff mới là một trong hai người lập được chiến công đó (cầu thủ kia là Naninga tại CK World Cup 78). Chúng ta đang nói về Johan đệ nhị - Johan Neeskens, một trong những tiền vệ hay nhất nền bóng đá Hà Lan và châu Âu mọi thời đại.

Sinh tại Heemstede, một thị trấn nhỏ gần Amsterdam, Neeskens gắn bó với bóng chày và thể dục dụng cụ, những môn mà ông luôn đạt điểm ưu trong trường học, cho tới năm lên 12 tuổi. Nhưng rồi số phận cũng chỉ định Neeskens đến với môn thể thao mà ông có năng khiếu nhất: bóng đá. Chơi nghiệp dư tại đội bóng làng nhàng Heemdale đến năm 19 tuổi, ông bất chợt được lọt vào mắt xanh của các chuyên gia săn lùng tài năng tại Ajax. Và thế là chàng Johan quê mùa gia nhập CLB danh tiếng thủ đô, bắt đầu một sự nghiệp lẫy lừng.

May mắn nhất trong đời Neeskens là ông đến Ajax đúng vào thời điểm CLB này tập hợp được một đội ngũ xuất chúng nhất trong lịch sử bóng đá Hà Lan. Thế hệ của Ajax khi đó có Cruyff, Rep, Krol, Haan, và đặc biệt HLV huyền thoại Rinus Michels. Cùng nhau, họ đã làm nên một Ajax vĩ đại làm say mê lòng người bằng lối chơi tổng lực đi vào sách giáo khoa bóng đá. Báo chí châu Âu khi đó đã ví Ajax như đoàn quân bách chiến bách thắng của Thành Cát Tư Hãn chinh phục sân cỏ châu Âu. Họ đi đến đâu là reo rắc nỗi kinh hoàng đến đó. Và trong đoàn quân đó, Cruyff và Neeskens là hai cái tên tiêu biểu nhất. Bởi “thánh Johan” chỉ có một trên đời (biệt danh của Cruyff), người ta gọi Neeskens là “Johan đệ nhị”. Cả hai Johan đều là ông chủ trung tâm hàng tiền vệ. Trong khi Cruyff có thiên hướng nhô cao thì Neeskens đôi khi kiêm một phần vai trò như tiền vệ phòng ngự ngày nay. Cần nhắc lại đó cũng là nét sáng tạo của chiến thuật Hà Lan khi đó. Ajax và ĐT Hà Lan thường bố trí hai tiền vệ trung tâm trong đấu pháp tổng lực. Nói vậy để thấy Neeskens có tầm quan trọng không hề kém Cruyff, cho dù đồng đội của ông được tôn vinh nhiều hơn.

Sau 4 mùa bóng đầy vinh quang với Ajax, mà đáng kể nhất là cú hattrick tại đấu trường C1 danh giá, Neeskens nối gót hai đồng hương nổi tiếng Cruyff và Michels đến với xứ Catalan đầy thách thức. Những ngày đầu tại Barca, Neeskens chưa thực sự được CĐV sân Nou Camp yêu mến khi cho rằng, chính ông là nguyên nhân khiến tiền đạo người Argentina Sotil phải ra đi. Nhưng cũng vẫn những con người ấy chỉ sau vài trận phải ngả mũ kính phục phong độ của tiền vệ người Hà Lan. Neeskens trở thành lá phổi của Barca, hoạt động không mệt mỏi ở khu vực giữa sân. Đặc biệt, bản lĩnh đối phó với sức ép của ông đến nay vẫn còn được lưu truyền tại xứ Catalan. Neeskens có thể khiến mọi đối thủ phải run sợ, bất chấp khi thi đấu trên những chảo lửa sân khách.

Trở lại trận CK World Cup 1974. Cruyff bị phạm lỗi ngay phút thứ 2 nhưng lại không tự tin thực hiện cú penalty. Chính Neeskens là người đầu tiên giành lấy quả bóng, hiên ngang bước đến chấm phạt đền và lạnh lùng hạ gục thủ thành Sepp Meier (Đức). Và mặc dù Hà Lan đánh mất lợi thế dẫn trước nên đành nhìn Đức lên ngôi, nhưng Neeskens đã chơi giải đấu hay nhất trong sự nghiệp với 5 bàn thắng ghi được cho “Cơn lốc màu da cam”. Ông còn tiếp tục cống hiến cho ĐT Hà Lan đến năm 1981.

Ở cấp độ CLB, Neeskens cũng phiêu bạt khắp nơi sau khi chia tay Barca năm 1979 để nhường chỗ cho ngôi sao trẻ người Đan Mạch Alan Simonsen. Ông từng sát cánh cùng Franz Beckenbauer tại Cosmos (chơi tại đây 5 mùa giải) trước khi quay về châu Âu khoác áo vài CLB nhỏ vào cuối sự nghiệp. Neeskens chính thức giải nghệ năm 1991, khi đã vào tuổi 40.

Tên: Johan Neeskens

Ngày sinh: 15/9/1951 tại Heemstede (Hà Lan)

CLB từng thi đấu: Ajax Amsterdam (69-73), Barcelona (74-79), New York Cosmos (79-84), Groningen (84-85), Fort Lauderdale Sun (86-87), FC Baar (88-90), FC Zug (90-91)
Khoác áo đội tuyển 49 trận, ghi 17 bàn

Thành tích:

2 chức VĐ Hà Lan (72,73), 1 chức VĐ TBN (78), 3 Cúp C1 châu Âu (71,72,73), 2 Siêu Cúp châu Âu (72,73), 2 lần Á quân TG (74,78)
Thành viên trong BHL ĐT Hà Lan từ 1996 đến 2000
HLV trưởng CLB NEC Nijmegen (Hà Lan) từ năm 2000 đến nay.

JakeSatan
04-03-2005, 14:25
Andrea Pirlo: Ngày ấy ở Brescia và bây giờ

Ngày ấy, một Andrea Pirlo mảnh khảnh với mái tóc lãng tử, khiến cho những tifosi phát cuồng bởi những pha bóng đẹp mắt, sự uyển chuyển trong những động tác rê bóng, sự tinh tế trong những đường chuyền...một phiên bản của huyền thoại Roberto Baggio.


Ngày 19 tháng 5 năm 1979, ở Flero thành phố Brescia, cậu bé Andrea Pirlo chào đời và cũng vào một ngày tháng 5, chàng trai trẻ này có trận đấu chính thức trong màu áo Brescia ở Serie A, lần đầu tiên ở tuổi 16 (Reggina-Brescia, 21-5-1995), một con đường thẳng băng và nhanh chóng để chàng trai này bước vào con đường bóng đá chuyên nghiệp.

Pirlo ấy đã lớn lên ở Flero, một thị trấn nhỏ cách Brescia 8 km, đã trưởng thành trong tầng lớp của những người lao động (64,95 % dân số ở Flero thuộc tầng lớp công nhân) cùng với người anh lớn hơn mình ba tuổi và một cô em gái kém mình 10 tuổi, môi trường sống ấy đã tạo nên tính cách của Pirlo bây giờ, không ồn ào, luôn lao động và lao động. Những phẩm chất ấy, khiến những bước tiến của anh trong sự nghiệp bóng đá diễn ra một cách nhanh chóng.

Ở tuổi 16, anh đã có trận đầu tiên chơi ở Serie A, trong trận đấu mà đội bóng của anh thua đội chủ nhà Reggina 0-2, một sự khởi đầu để rồi người ta bắt đầu nói về chàng trai này, một thần đồng mới của bóng đá Italia. Khoảng thời gian sau khá lạnh lẽ với Pirlo, anh cùng với Brescia xuống chơi ở hạng Serie B để rồi anh chìm trong quên lãng ở mùa bóng 95-96, không có trận đấu chính thức nào.

Nhưng đấy chỉ là thời gian thử thách "cậu bé vàng" và thời điểm để anh thực sự bước vào sân khấu lớn của Calcio cũng đến, mùa bóng 96/97, Andrea Pirlo thực sự bùng nổ với Rondinelle(biệt danh của Brescia) với 17 lần ra sân và ghi hai bàn thắng, trong mùa bóng này anh chính là nhân tố quan trọng giúp Brescia trở lại Serie A, để rồi ở đấy, người ta gọi anh là một "Roberto Baggio mới", vì trong lần trở lại Serie A, anh không chỉ ra sân một lần mà có những tới 29 trận và 4 bàn thắng. Ngày ấy, một Andrea Pirlo mảnh khảnh với mái tóc lãng tử, khiến cho những tifosi phát cuồng bởi những pha bóng đẹp mắt, sự uyển chuyển trong những động tác rê bóng, sự tinh tế trong những đường chuyền...một phiên bản của huyền thoại Roberto Baggio.

Nhưng cuộc sống vẫn luôn khó khăn và khắc nghiệt, những thử thách luôn đến với mọi người, Pirlo cũng vậy, mùa bóng toả sáng với Brescia cũng là lúc những người Bresciani biết rằng Brescia đã là quá nhỏ để anh vùng vẫy. Pirlo gia nhập Inter 98/99 và nới đất khách quê người, dù không xa là mấy với Brescia(Đều thuộc vùng Lombardia), anh phải đối diện với khúc quanh của cuộc sống và những cuộc cạnh tranh trong lòng một CLB lớn. Ở Inter, Pirlo đã không thể hiện được mình đã trưởng thành và nhiều người kỳ vọng vào anh đã thất vọng, thời điểm ấy "thần đồng vụt tắt", nhiều người lo lắng cho tương lai của anh, họ nghĩ về Locatelli, hay Lentini, những thần đồng đã không thể vượt lên trên chính mình hơn là nghĩ về một sự nghiệp siêu sao của R.Baggio, Rivera. Những ngày tháng lay lắt, lúc mờ lúc tỏ đến với Pirlo trong những bến đậu mới( theo dạng cho mượn từ Inter): Reggina và lại là Brescia.

Nhưng bước ngoặt lớn cho Pirlo chính lúc mà người ta nghi ngờ nhất cho tương lai của anh là chọn Milan làm điểm dừng chân mới, dù nhiều người không tin vào sự thành công của andrea ở đây. Thời gian đầu quả thật là thế, nhưng có một vị cứu tinh mang tên Ancelotti đã khiến Pirlo "đổi đời", ông đã điều chỉnh vị trí cho anh từ là một "Playmaker"(Người kiến tạo) trở thành một defensive playmaker, một tiền vệ phòng ngự dẫn dắt lối chơi, để chính từ đây tài năng của anh được thừa nhận.

"Cậu ấy là một cầu thủ lạ thường" Johan Cruyff đã phải thốt lên như thế sau trận Milan thắng Ajax ngay tại Arena(0-1), một từ như thế từ Cruyff, người rất không hào phóng ban tặng những lời khen ngợi, đặc biệt là đối với bóng đá Italia, đủ nói lên giá trị của Pirlo. Hai mùa bóng qua với chiếc cúp C1 và Scudetto đã cho thấy Pirlo thực sự trưởng thành và như nhà báo nổi tiếng Dominique Antognoni nói : "Pirlo thực sự trở thành một "thượng nghị sỹ" ở Milan(senators)", giờ đây anh là một trong những cầu thủ không thể thay thế ở Rossoneri, như Sheva, Maldini, Nesta và Gattuso.

Ở Milan, anh là "The Director" (Nhà đạo diễn) là "Key Man" hay là Fantatista (Người làm nên cái đẹp), những mỹ từ mà nhiều người gán tặng cho anh.

Cuộc sống lại tươi đẹp và ngoài những thành công trên sân cỏ, anh còn tạo dựng cho mình một cuộc sống hạnh phúc với Deborah, người mà anh lấy vào ngày 21 tháng 6 năm 2001 và còn dâng tặng cho anh một thiên thần bé nhỏ Niccolo vào ngày 1 tháng 6 năm 2003. Anh đang rất hạnh phúc, vẫn luôn hôn chiếc nhẫn cưới mỗi khi ghi bàn và vẫn thường đánh Golf với Sheva và HLV Tassotti và tất nhiên vẫn luôn cùng Deborah đi Shopping và thỉnh thoảng cùng bạn bè chơi Tennis.

JakeSatan
07-03-2005, 13:37
Rinus Michels - Chân dung một huyền thoại

Nếu Johan Cruyff và đồng đội là những người làm nên tên tuổi của bóng đá tổng lực Hà Lan, thì HLV Rinus Michels chính là cha đẻ của thương hiệu nổi tiếng này.

Michels là một trong những HLV hiếm hoi ở châu Âu từng gặt hái vinh quang cao nhất ở cả CLB lẫn ĐTQG, và chức quán quân World Cup là danh hiệu lớn duy nhất mà ông còn thiếu trong sự nghiệp HLV sáng chói của mình. Được biết đến với những biệt danh như ''Tướng quân'', ''Rinus Sắt thép'' hay ''Nhân sư'', Michels nổi tiếng bởi phong cách huấn luyện chặt chẽ, kỷ luật đặc trưng của một cựu quân nhân, nhưng các đội bóng dưới quyền của ông lại luôn thi đấu cực kỳ quyến rũ và biến hoá.

Michels là một người cực kỳ kiệm lời, và triết lý chủ đạo của ông là "bản thân bóng đá sẽ cất lên tiếng nói của chính nó ở trên sân cỏ". Trong cuốn tiểu sử của mình, Michels từng nói về nghề nghiệp của mình như sau: ''Việc lựa chọn đội hình xuất phát cho mỗi trận đấu đã là một nghệ thuật, bởi người ta phải làm sao để đạt được sự cân bằng giữa những cầu thủ sáng tạo, và làm nên sức mạnh huỷ diệt, với các cầu thủ có nhiệm vụ bảo vệ xây dựng và tấn công, và không bao giờ được phép quên lãng điểm mạnh của đối thủ cũng như sức ép cụ thể của từng trận đấu''.

Thành công rực rỡ ở cả CLB lẫn ĐTQG

Sinh năm 1928 và trải qua sự nghiệp cầu thủ ở vị trí trung phong trong những năm 1950, nhưng Michels chỉ thực sự tạo dựng được tên tuổi khi chuyển sang làm HLV. Lần lượt hành nghề tại Los Angeles, Đức và nhất là Barcelona, nơi ông đã thiết lập nên mối ''lương duyên'' Hà Lan-Catalan kéo dài cho tới tận hôm nay, nhưng chỉ có ở Ajax Amsterdam và ĐT Hà Lan, Michels mới đoạt được những chiến tích quý giá nhất trong sự nghiệp.

Chính tại đây, Michels đã khai sinh khái niệm ''bóng đá tổng lực'' từng làm mê hoặc người hâm mộ trong suốt những năm cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Khi Michels được bổ nhiệm làm HLV trưởng Ajax Amsterdam vào ngày 22/01/1965, đội bóng này vẫn còn lận đận ở nửa dưới bảng xếp hạng và chỉ vừa tránh được nguy cơ tụt hạng trong gang tấc.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, Ajax Amsterdam đã trở thành một kẻ thách thức đáng sợ tại châu Âu, mà đỉnh cao là chiếc Cúp C1 họ giành được vào năm 1971 trong trận đấu cuối cùng mà HLV Michels cầm quyền. Sau đó, dựa trên nền tảng mà Michels đã tạo nên, Ajax Amsterdam còn giành thêm 2 Cúp C1 châu Âu nữa.

Những thành công ở Ajax và Barcelona đã đưa Michels đến với chiếc ghế HLV trưởng ĐT Hà Lan vào tháng 3 năm 1974. Nhưng cũng giống như kịch bản từng xảy ra ở Ajax 9 năm về trước, Michels đã bắt đầu công việc tại De Oranje (biệt danh của ĐT Hà Lan) trong hoàn cảnh chẳng mấy thuận lợi.

Michels không phải là người dẫn dắt ĐT Hà Lan vượt qua vòng loại World Cup 1974 nhờ ưu thế về hiệu số bàn thắng bại so với Bỉ, mà HLV người CH Czech Frantisek Fadrhonc mới chính là người làm được điều này. Khi Michels trở thành HLV ĐT Hà Lan, Fadrhonc lui xuống đảm nhận nhiệm vụ trợ lý.

Lúc đó, hầu như không có nhà chuyên môn nào đánh giá cao ĐT Hà Lan, và De Oranje với thành phần chủ yếu là các cầu thủ của Ajax và Feyenoord cũng chỉ kịp chơi thử nghiệm có 3 trận dưới quyền Michels trước khi bước vào VCK World Cup 1974 tại Đức. Thế nhưng, ĐT Hà Lan của Michels đã thi đấu cực kỳ ấn tượng tại Đức với những chiến thắng thuyết phục trước Uruguay (2-0, Bulgaria (4-1), Argentina (4-0), CHDC Đức (2-0) và thậm chí cả Brazil (2-0), nhờ phong độ chói sáng của các ngôi sao như Jonny Rep, Johan Neeskens, Rob Rensenbrink và đặc biệt là Johan Cruyff.

Mặc dù sau đó ĐT Hà Lan đã thất bại 1-2 trước chủ nhà Đức trong trận chung kết World Cup 1974, nhưng De Oranje của Michels vẫn được giới chuyên môn và người hâm mộ coi là đội bóng số một của kỳ giải năm ấy. Nếu như Michels và các học trò giành chiến thắng trong trận chung kết tại Munich năm 1974, chắc hẳn Hà Lan sẽ tránh được cái dớp ''chơi hay nhưng luôn thất bại tại các kỳ World Cup''.

Không thành công tại World Cup, nhưng nhờ Michels, cuối cùng De Oranje vẫn có một danh hiệu lớn với chức vô địch EURO 1988. Trở lại ĐT Hà Lan sau một thời gian dẫn dắt Barcelona, Michels cùng với dàn sao mới Marco Van Basten-Ruud Gullit-Frank Rijkaard đã thẳng tiến tới trận chung kết, và trở thành ông vua mới của bóng đá châu Âu. Số phận cũng đã đền đáp cho Hà Lan khi giúp họ đánh bại nước chủ nhà EURO 1988 Đức tại vòng bán kết với tỷ số 2-1, để De Oranje đăng quang tại chính nơi mà họ đã thất bại trước ĐT Đức 14 năm về trước.

Michels-Cruyff, sự kết hợp của 2 huyền thoại

Phát biểu khi được tin Michels qua đời, ông Clemence Ross-van Dorp, Bộ trưởng Bộ Y tế, Phúc lợi xã hội và Thể thao, nhận xét: "Cùng với Johan Cruyff, Michels là người giúp bóng đá Hà Lan trở thành một ông lớn trong làng cầu thế giới''. Thật vậy, nếu như Michels là cha đẻ của bóng đá tổng lực, thì chính Cruyff đã biến triết lý của ông thầy trở thành hiện thực trên sân cỏ.

Trong sự nghiệp của 2 huyền thoại này, thành công của Michels luôn gắn liền với những đóng góp của Cruyff và ngược lại. Sinh thời, Michels luôn đánh giá rất cao các cầu thủ dẫn dắt thế trận, và theo ông, đây mới là những cầu thủ quan trọng nhất của mỗi đội bóng.

Ở một cuộc phỏng vấn được thực hiện không lâu trước lúc mất, khi trả lời câu hỏi ''liệu có thể coi Ronaldo là cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại theo quan điểm của ông hay không?'', Michels đã nói: ''Nếu bạn đánh giá tài năng của một cầu thủ dựa trên tiêu chí được hâm mộ nhất, thì tôi sẽ nói rằng Ronaldo là người xuất sắc nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, cầu thủ nổi tiếng nhất không phải lúc nào cũng là người giỏi nhất.

Người ta thường không để ý tới những cầu thủ đã góp phần trực tiếp tạo nên bàn thắng, mặc dầu chính họ mới là những người phải thực hiện công việc khó khăn nhất. Phần lớn sự chú ý đều được dành cho các tiền đạo, nhưng nhiệm vụ chuyền bóng để ghi bàn cũng quan trọng như chính việc ghi bàn vậy''.

Có lẽ chính vì thế mà Cruyff luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong tất cả các đội bóng mà Michels từng huấn luyện, và ngay cả khi đã chia tay Ajax để chuyển sang Barcelona, Michels vẫn tìm mọi cách để đưa bằng được cậu học trò cưng của mình cùng có mặt tại Nou Camp.

Và người dân xứ Catalan hẳn sẽ nhớ mãi công lao của Michels, bởi nhờ có ông mà Barca mới có Cruyff, và Cruyff chính là người đã tạo nên giai đoạn thành công nhất trong lịch sử của Barca khi họ làm mưa làm gió ở giải VĐQG Tây Ban Nha hồi đầu thập niên 90, và giành được chiếc Cúp C1 châu Âu duy nhất cho tới nay (và tác giả bàn thắng duy nhất giúp Barca giành Cúp C1 châu Âu cũng là một người Hà Lan, Ronald Koeman).

Bạn có biết

- Trong 5 trận đấu quốc tế mà Michels khoác áo ĐT Hà Lan, De Oranje thua cả 5 với tổng tỷ số là 4-21.
- ĐT Hà Lan của Michels đã ghi bàn mở tỷ số trong trận chung kết World Cup 1974 với ĐT Đức khi mà đối thủ của họ còn chưa kịp chạm bóng. Sau 15 đường chuyền, Cruyff đột phá vào vòng cấm và kiếm được một quả để Johan Neeskens thực hiện thành công.

- Michels đã sử dụng gần như nguyên vẹn duy nhất 1 đội hình xuất phát trong tất cả các trận tại VCK World Cup 1974, ngoại trừ trong trận hoà 0-0 với Thuỵ Điển ở vòng bảng khi Piet Keizer thế chỗ Rob Rensenbrink.

Thành tích của Rinus Michels

ĐTQG

Á quân World Cup 1974
Vô địch châu Âu 1988

CLB

VĐQG Hà Lan 1966, 1967, 1968, 1970
Vô địch Cúp quốc gia Hà Lan 1967, 1970, 1971
Á quân Cúp C1 châu Âu 1969
Vô địch Cúp C1 châu Âu 1971
VĐQG Tây Ban Nha 1974
Vô địch Cúp quốc gia Tây Ban Nha 1978
Vô địch Cúp quốc gia Đức 1983


theo VNN

JakeSatan
17-03-2005, 13:36
Âm thanh của chiếc "Máy nhịp"

(Baobongda.com.vn) - Anh là người không thích nói, nhưng tất cả những gì anh làm đã nói lên tất cả. Với một bản thành tích cá nhân dày cộp và một quãng thời gian cống hiến bền bỉ ngót hai chục năm, Demetrio Albertini xứng đáng được mọi người vị nể.


Là tâm điểm của hàng chục ngàn khán giả trên khán đài, cũng như hàng triệu cặp mắt theo dõi qua màn ảnh nhỏ, các ngôi sao thường rất muốn tạo ra một cái gì đó khác biệt, lắm lúc cả sự lập dị hoặc hợm hĩnh, mỗi khi hiện diện trên sân. Có người chuyên dựng cổ áo như Eric Cantona, có kẻ không ngớt cằn nhằn với trọng tài như Stoichkov, nhưng tóm lại, đa số vẫn thích nói nhiều. Đồng đội chuyền sai - nói, đối phương phạm lỗi - nói, bị thay ra - nói... Albertini không thuộc vào những dạng người ấy. Bao nhiêu giây phút có mặt trên sân là bấy nhiêu khoảnh khắc giữ im lặng, là chuyền, là chạy, là chú tâm hết mình vào từng pha bóng.

Tất nhiên chừng đó không