View Full Version : Lịch sử bóng đá !!!
neverback
02-09-2004, 05:24
Tóm tắt lịch sử môn bóng đá
chúng ta nói thêm một chút về bóng đá nha
Theo những nhà nghiên cứu bóng đá trên thế giới khẳng định bóng đá đã có lịch sử hình thành từ lâu đời và được chia ra làm 4 thời kỳ:
Thời trước công nguyên và công nguyên
Nhằm mục đích phát triển các khả năng vận động để duy trì sự sống và xuất phát từ nhu cầu giải trí văn hoá, con người đã biết tổ chức các trò chơi có hình thức gần với môn bóng đá sau này, sử dụng các vật thể có hình dáng thô sơ (tròn hoặc dẹt), bằng nhiều loại nguyên liệu (quả bưởi, cuộn rơm, búi cỏ được bọc bằng da hay bong bóng bò).
Thời kỳ công nguyên đến thế kỷ 19
Lịch sử cũng ghi nhận nhiều trò chơi có những điểm tương đồng với môn bóng đá. Hoàng đế La Mã Jules César có cho phép và đã cổ vũ hai làng chơi tranh nhau một quả bóng mang vào một đích. Bên nào thực hiện được nhiều hơn bên đó thắng, bên thua bị đòn. ở Italia thế kỷ thứ 17 môn chơi này phát triển ở thành phố Florence và ở Pháp môn này cũng phổ biến. Người Pháp gọi nó là soule còn ở Italia là calcio. Ngày nay ở Italia người ta vẫn còn gọi bóng đá là Calcio.
Thời kỳ mới
Thế kỷ 19 với tất cả những chuyển biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã nảy sinh và phát triển nhiều hoạt động văn hoá.
Đã có một nhà nghiên cứu lịch sử bóng đá châu Âu khẳng định về lịch sử bóng đá rằng: Bóng đá là con đẻ của cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất là kế tục bóng dáng của những cuộc chơi thời tiến sử, tiếp tục triển khai sáng tại các môn Soule, Calcio... bóng đá đã tái sinh, tự lập và sáng tạo ở ngoại ô Luân Đôn, tại xóm công nhân công nghiệp và những trường trung học ở Luân Đôn.
Sau nước Anh một thời gian, các nước châu Âu như Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha lần lượt xuất hiện bóng đá.
Các mốc lịch sử phát triển bóng đá hiện đại:
Ngày 26/10/1963, trong một cuộc chơi tại trường trung học Rugby, hai đội đang chơi thì có một cầu thủ mang bóng bằng tay chạy vào cầu môn và làm nổ ra một cuộc tranh cãi. Người ta đi đến quyết định rằng phải chơi bóng bằng chân, được phép dùng đầu, thân người, trừ tay (kể cả thủ môn). Cũng trong buổi chiều đó, hội bóng đá được thành lập và nó đã tồn tại ở nước Anh từ đó cho đến nay.
1886: Cầu thủ không bị phạt việt vị nếu có ba cầu thủ đối phương xuất hiện gần sát khung thành của họ hơn so với anh ta.
1871: Thời gian trận đấu thu lại trong 1,5 tiếng đồng hồ. Thủ môn được phép bắt bóng bằng tay, nhưng chỉ trong khu vực của khung thành.
1872: Xuất hiện phạt góc
1877: Không có việt vị nếu bóng từ chân cầu thủ đối phương bay đến.
1878: Trọng tài ra sân bóng có còi. Trước kia trọng tài cùng với các trọng tài phụ chỉ được phép đứng ngoài sân bóng để giải quyết những tranh cãi của các cầu thủ khi họ yêu cầu
1882: Thời gian trận đấu được chia làm hai hiệp, có nghỉ giải lao. Sau nghỉ, hai đội đổi sân.
1891: Phía sau khung thành có lưới
1892: Xuật hiện luật phạt penalty 11 m.
Người phát minh ra quả phạt penalty là một người Ailen tên là Rid. Lúc đầu quả phạt này được sút từ bất cứ góc nào miễn là với khoảng cách đến khung thành là 11m. Sau đó quy định: Thủ môn không được đứng gần bóng ở khoảng cách dưới 5,5m.
1903: khi khu vực 16m50 được quy định thì xuất hiện chấm phạt 11 m, không được xê xích.
1923: xuất hiện đường vạch tròn phía sau khu vực 16m50 bắt buộc các cầu thủ phải đứng ở đó khi thực hiện quả phạt.
1929: quy định thủ thành trong quả đá phạt penalty phải đứng trên đường vạch cầu môn. Sau đó ít lâu lại quy định: quả penalty có thể được thực hiện trên bất cứ điểm nào thuộc khu vực 16m50.
1894: Thủ môn được phép dùng tay trong khu vực 16m50.
1900: Trọng tài được phép ra sân để điều khiển trận đấu.
1903: Luạt quy định quả phạt trực tiếp được thực hiện bằng quả sút thẳng vào khung thành của đối phương.
1907: xuất hiện phạt việt vị chỉ xảy ra ở phía sân của đối phương.
1909: Thủ thành buộc phải mặc trang phục khác màu với các cầu thủ đồng đội.
1913: Các cầu thủ của đội bóng đang trong tình thế phòng ngự phải đứng cách bóng 9m khi đá phạt trực tiếp hoặc đá phạt tự do.
1923: Quả sút phạt góc trực tiếp rót thẳng vào cầu môn được tính.
1935: Không bị phạt việt vị nếu trước cầu thủ tiền đạo không phải là ba, mà là hai cầu thủ phòng ngự (kể cả thủ thành).
1939: Trên những chiếc áo cầu thủ có đeo số.
bạn nào biết thêm thì tiếp tục
neverback
02-09-2004, 06:53
TOP 100 CẦU THỦ CỦA PELE
Alan Shearer England
Alessandro Del Piero Italy
Alesandro Nesta Italy
Alfredo Di Stefano Argentina & Spain
Andrei Shevchenko Ukrane
Bobby Charlton England
Cafu Brazil
Carlos Alberto Brazil
Carlos Valderamma Columbia
Christian Vieri Italy
Clarence Seedorf Holland
Daniel Passarella Argentina
David Beckham England (MU-REAL)
David Trezeguet France
Davor Suker Croatia
Denis Bergkamp Holland
Didier Deschamps France
Diego Maradona Argentina
Dino Zoff Italy
Edgar Davids Holland
El Hadji Diouf Senegal
Emilio Butragueno Spain
Emre Belozoglu Turkey
Enzo Francescoli Uruguay
Eric Cantona France (...MU)
Eusebio Portugal
Falcao Brazil
Ferenc Puskas Hungary
Francesco Totti Italy
Franco Baresi Italy
Frank Rijkaard Holland
Franz Beckenbauer Germany
Gabriel Batistuta Argentina
Gary Lineker England
George Best Northern Ireland (MU)
George Weah Liberia
Gerd Muller Germany
Gheorge Hagi Romania
Giancinto Facchetti Italy
Gianluca Buffon Italy
Gianni Rivera Italy
Gordon Banks England
Hernan Crespo Argentina
Marc Vivien Foe Cameroon
Hong Myung Bo South Korea
Hristo Stoichkov Bulgaria
Hugo Sanchez Mexico
Javier Zanetti Argentina
Jay-Jay Okocha Nigeria
Jean-Pierre Papin France
Jean-Marie Pfaff Belgium
Jens Ceulemens Belgium
Johan Neeskens Holland
Johann Cruyff Holland
Juan Sebastian Veron Argentina
Jurgen Klinsmann Germany
Karl-Heinz Rummenigge West Germany
Kenny Dalglish Scotland
Kevin Keegan England
Laudrup brothers, Michael and Brian Denmark
Lilian Thuram France
Lothar Matthaeus Germany
Luis Enrique Spain
Luis Figo Portugal
Marcel Desailly France
Marco Van Basten Holland
Mario Kempes Aregentia
Michael Ballack Germany
Michael Owen England
Michel Platini France
Oliver Kahn Germany
Paolo Rossi Italy
Paolo Maldini Italy
Patrick Kluivert Holland
Patrick Vieira France
Paul Breitner Germany
Pavel Nedved Czech Republic
Peter Schmeichel Denmark
Robert Pires France
Raul Spain
Resenbrink Van de Kerkhof Belgium
Rivaldo Brazil
Roberto Baggio Italy
Roberto Carlos Brazil
Roger Milla Cameroon
Romario Brazil Ronaldinho Brazil
Ronaldo Brazil
Roy Keane Republic of Ireland (MU)
Rui Costa Portugal
Rustu Recber Turkey
Ruud Gullit Holland
Ruud Van Nistelrooy Holland (MU)
Sepp Maier West Germany
Socrates Brazil
Teofilo Cubillas Peru
Thierry Henry France
Zblgniew Boniek Poland
Zico Brazil
Zinedine Zidane France
neverback
11-09-2004, 00:59
7 linh vật của các kỳ Euro.
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/kinas-2004.jpg
Kinas - linh vật của EURO 2004.
Kể từ khi VCK EURO, giải đấu được coi là World Cup vắng mặt Argentina và Brazil ra đời năm 1960 tại Pháp, rất nhiều những công việc, những ý tưởng được đưa ra để giải bóng đá lớn nhất lục địa được nâng lên một tầm cao mới. Linh vật, một trong những ý tưởng sáng tạo tuyệt vời nhằm mang lại nét đặc trưng cho một VCK và cũng để hiểu thêm về văn hoá của quốc gia đăng cai đã ra đời.
Euro 2004, Bồ Đào Nha (Kinas)
Việc lựa chọn linh vật cho VCK EURO lần này quả là điều khó. Cuối cùng, sau bao cân nhắc, Kinas ra đời. Người Bồ Đào Nha (BĐN) tin rằng, có một cậu bé mang tên Kinas được sinh ra ở một ngôi làng nhỏ hẻo lánh ở một vùng quê BĐN và có tài chơi bóng bẩm sinh. Trong con người chú hội tụ đầy đủ những tinh hoa bóng đá của quá khứ và hiện tại. Với Kinas, người ta có thể tìm thấy những tinh tuý của bóng đá BĐN từng hội tụ ở Osebio hay Luis Figo. Chú là đại diện cho tình yêu bóng đá mãnh liệt của người BĐN và cũng là biểu trưng cho sự may mắn. Kinas là linh vật thứ 7 trong lịch sử VCK EURO, chú mang chiếc áo màu cờ tổ quốc với số 04 (2004) trước ngực, những động tác với trái bóng của Kinas cũng thật khác biệt. Nếu như trước đây, các linh vật thường cầm bóng hoặc chơi bằng chân thì với Kinas, chú còn biết chơi bóng bằng đầu và nhiều động tác khác một cách thuần thục. Một hình ảnh ngộ nghĩnh và nhiều ý nghĩa. Hy vọng, không chỉ mang lại sự may mắn cho các đội bóng tham dự VCK, Kinas còn đem đến một mùa hè sôi động và bổ ích cho những fan hâm mộ bóng đá khắp hành tinh.
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/2000.gif
Euro 2000, Bỉ - Hà Lan (Benelucky, Mistura De Lion Com Diabo)
Lần đầu tiên trong lịch sử, một VCK EURO do hai quốc gia đồng đăng cai. Bỉ và Hà Lan - hai quốc gia, hai nền văn hoá khác biệt. Chọn linh vật chung cho VCK EURO 2000 là một việc chẳng dễ chút nào cho BTC. Đắn đo mãi, một linh vật mang ý nghĩa khá đặc trưng cho cả 2 nước đã ra đời. Đó chính là Benelucky, chú sư tử sống tận nơi núi rừng sâu thẳm ở biên giới giữa hai nước Bỉ, Hà Lan. Với đủ màu sắc mang trên mình, trông chú thật mạnh mẽ và tiềm ẩn sự huyền hoặc xen lẫn vui tươi. Ngoài ý nghĩa mang biểu tượng của tình đoàn kết, Benelucky còn là hiện thân của sự vui vẻ, cuồng nhiệt với niềm say mê với trái bóng.
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/1996.gif
Euro 1996, Anh (Lion)
Nhắc đến vương quốc Anh, ngoài cái tên xứ sở sương mù, không thể không nhắc tới hình ảnh những chú sư tử. Hoàng gia Anh coi sư tử như một biểu tượng của sức mạnh, sự thống trị và yếu tố mang lại may mắn không nằm ngoài quan niệm đó. Sư tử trở thành linh vật của nước chủ nhà VCK EURO ?96. Không phải ngẫu nhiên mà Sư tử Anh lại có thân hình to lớn đến vậy, 2 tay chống nạnh, bóng cắp một bên trông chú thật hiền nhưng cũng rất đỗi oai phong. Đôi mắt mở to nhìn xuống như để chứng tỏ cái uy của mình. Đây là VCK EURO đầu tiên tổ chức trên quê hương của bóng đá, Lion không hãnh diện sao được.
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/1992.gif
Euro 1992, Thuỵ Điển (Coelho)
Người Thuỵ Điển tỏ ra rất ngưỡng mộ Coelho và họ quyết định chọn chú thỏ này làm linh vật biểu trưng cho VCK. May mắn là điều mà Coelho luôn mang lại. Trước đó 4 năm, chú thỏ xám đã góp phần làm nên một VCK rất ý nghĩa và thành công. Với chiếc áo vàng, quần xanh (màu cờ Thụy Điển) Coelho của Thuỵ Điển khá giống với người anh em Đức của chú. Cũng dáng chạy khoẻ mạnh tràn đầy sức sống, đôi chân đá cao hào hứng, Coelho là một phần không thể thiếu khi nói về VCK tại Thuỵ Điển. Khi EURO ?92 kết thúc cũng là lúc chú thỏ Coelho tự bổ sung vào kho tàng chuyện kể về mình thêm một trang mới với bao điều đáng nhớ.
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/1988.gif
Euro 1988, Tây Đức (Berni, Um Coelho)
Với người Đức, Coelho là biểu tượng cho sự may mắn, thông minh, lanh lợi và vươn tới thành công. Chú thỏ xám Coelho được chọn làm linh vật VCK EURO 1988. Miệng cười rộng ngoác vui vẻ, hai tay vung cao với nhịp chạy mạnh mẽ, mắt dõi theo trái bóng đầy đam mê, Coelho làm cho VCK như sôi động hơn lên. Đâu đâu cũng thấy chú thỏ xám góp mặt. Không nghi ngờ gì nữa chú là một linh vật quá đẹp và ý nghĩa.
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/1984.gif
Euro 1984, Pháp (Peno, Um Galo)
Một chú gà trống chính hiệu vừa mang đậm phong cách của văn hoá Pháp, vừa mang ý nghĩa lịch sử. Chân đi đôi giày cỡ lớn, "tay" cắp quả bóng, một tay dang rộng đón chào. Chú gà trống Peno là linh vật thứ 2 trong lịch sử của VCK EURO. Đương nhiên, Pháp cũng đã chọn Peno như một biểu tượng của niềm hy vọng, sự may mắn và chiến thắng. Quả đúng như mong ước, với thắng lợi 2-0 trước Tây Ban Nha trong trận CK năm đó, ĐT Pháp đã đăng quang
http://www.hcmc.netnam.vn/newsimgs/8_6_2004/1980.gif
Euro 1980, Italia (Pinoquio)
Tự hào là quốc gia đầu tiên đưa linh vật biểu trưng cho một VCK EURO, Italia đã lựa chọn hình tượng cậu bé Pinoquio (Pinochio). Một nhân vật bằng gỗ với chiếc mũi dài và cặp mắt to ngộ nghĩnh. Người ý quan niệm, Pinoquio sẽ mang lại may mắn cho tất cả mọi người bởi chú là hiện thân của những điều kỳ diệu, phi thường. Với hình ảnh cậu bé bằng gỗ được nhân cách hoá bằng nụ cười vui vẻ, một tay giữ trái bóng, Pinoquio trở thành biểu tượng đầu tiên đại diện cho một EURO thành công mỹ mãn.
neverback
16-09-2004, 00:35
Tại sao các câu lạc bộ có cái đuôi ‘United’?
’United’ có nghĩa là các thành viên đều thống nhất tập hợp lại dưới một cái tên chung. Họ cùng vì một mục đích muốn phát triển cái tên chung đó. Ví dụ như, một số CLB ở Newcastle vào những năm 1880, bao gồm Newcasttle East End và Newcastle West End. Khi East End tiếp quản sân St James’ Park của West End năm 1892, họ mới quyết định là mang một cái tên chung cho tất cả các CĐV trong thành phố. Do vậy cái tên Newcastle United ra đời. Còn trong trường hợp khác, tuy không phải là chuyện sáp nhập hay chung tên thì cũng là hướng đến vì các CĐV của địa phương. Nổi tiếng nhất đó là CLB Newton Heath FC đã đổi tên thành Manchester United vào năm 1902.
Một số các CLB khác cũng có tên ‘United’
Central United FC, New Zealand
West Ham United, Anh
Arcadia United, Zimbabwe
Ayr United, Scotland
Ballymena United, Bắc Ireland
Cambridge United, Anh
Caps United, Zimbabwe
Carlisle United, Anh
Christchurch United, New Zealand
Colchester United, Anh
D.C. United, USA
Drogheda United, CH Ireland
Dundee United, Scotland
Fontenoy United, Grenada
Galway United, CH Ireland
Geylang United, Singapore
Gladstone United, Australia
Gombe United, Nigeria
Hartlepool United, Anh
Hazard United, Jamaica
Jasper United, Nigeria
JEF United, Japan
Kwara United, Nigeria
Leeds United, Anh
Leventis United, Nigeria
Mathare United, Kenya
MDC United, Malawi
Newcastle United, Anh
North Shore United, New Zealand
Okwahu United, Ghana
Oxford United, Anh
Peterborough United, Anh
Pettah United, Sri Lanka
Plateau United, Nigeria
Rotherham United, Anh
Scunthorpe United, Anh
Seba United, Jamaica
Sheffield United, Anh
Southend United, Anh
St Michel United, Seychelles
Sunrise Flacq United, Mauritius
Supersport United, Nam Phi
Suzuki Newtown United, St Kitts & Nevis
Sydney United, Australia
Torquay United, Anh
Udoji United, Nigeria
United Petrotin, Trinidad & Tobago
Tại sao các câu lạc bộ có cái đuôi ‘City’
Các CLB có đuôi ‘City’ đa số thuộc ở Anh, ‘City’ ở đây có lẽ mang ngữ cảnh là đại diện chính thức cho Thành phố đó. Về mặt lý thuyết bất kỳ một CLB nào cũng có thể gắn cho mình cái tên ‘United’ đằng sau. Tuy nhiên, không phải CLB nào trực thuộc thành phố đó đều gọi là ‘City‘. Chẳng hạn không có CLB nào có tên Glasgow City (scotland) hay Liverpool City (Anh).
Một số CLB có tên ‘City’:
London City, Canada
Bristol City, Anh
Manchester City, Anh
Adelaide City, Australia
Awassa City, Ethiopia
Birmingham City, Anh
Bradford City, Anh
Brechin City, Scotland
Cardiff City, Wales
Chester City, Anh
Cork City, CH Ireland
Coventry City, Anh
Derry City, CH Ireland
Exeter City, Anh
Hull City, Anh
Leicester City, Anh
Lincoln City, Anh
Norwich City, Anh
Stoke City, Anh
Swansea City, Wales
Waitakere City, New Zealand
York City, Anh
Các CLB có tên ‘Athletic’
Các CLB này không có dính dáng gì đến điền kinh cả, chỉ mang tinh thần của môn thể thao đó mà thôi: nhanh hơn, xa hơn. Nhưng không phải cứ cótên mạnh mẽ như thế là thi đấu xuất sắc, bằng chứng là các CLB có tên này đều đang rất khốn đốn, chưa biết bao giờ mới lên hạng (trừ Charlton Athletic)
Oldham Athletic, Anh thành lập năm 1895
Forfar Athletic, Scotland thành lập năm 1881
Athletic Club, TBN
Charlton Athletic, Anh
Cork Athletic, CH Ireland
Djoliba Athletic, Mali
Dunfermline Athletic, Scotland
Lija Athletics, Malta
St Patrick's Athletic, CH Ireland
Wigan Athletic, Anh
Hull City AFC, Anh
Những CLB ngoài nước Anh có mang tên thuần Anh
Một số CLB nổi tiếng TG được thành lập bởi sự góp đỡ của những người Anh sống và làm việc ở những quốc gia đó vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tên của CLB thường cho ta biết gốc gác, xuất xứ của CLB. Một số thì chỉ đơn giản là có ‘Made in England’
AC Milan (1899)
được thành lập bởi một người Anh, Alfred Edwards, do vậy tên của đội bóng thành Milano đã bị Anh hoá thành Assocazione Calcio Milan (tên nửa Ý, nửa Anh!).
Tương tự như vậy, CLB lâu đời nhất Italia, Genoa được thành lập bởi người Anh năm 1893, mặc dù tên tiếng Ý của thành phô là Genova
Athletic Club de Bilbao (1898)
được thành lập bởi sự sát nhập của 2 CLB địa phương trong đó có thành viên người Anh, CLB xứ Basque (TBN) đã quyết định chọn tên ‘athletic’ thay vì tiếng TBN ‘athletico’
River Plate
CLB ”Dòng sông bạc” nổi tiếng của Buenos Aires, tên tiếng TBN là Rio de la Plata
Ngay cả tên Boca Juniors cũng thuần Anh
Red Star (1897)
Đây là CLB lâu đời của Paris được thành lập bởi Jules Rimet (thành viên sáng lập FIFA)
’Sao đỏ’ hiện nay đang chơi ở giải hạng 3 của Pháp
Corinthians (1910)
CLB thuộc thành phố Sao Paolo, Brazil
Màu sắc trong bóng đá
Ở Tây Ban Nha, CLB được mệnh danh là ‘những người làm đệm’ vì áo thi đấu của họ có màu sọc đỏ trắng, giống màu của những chiếc đệm
Aletico Madrid, TBN
Là CLB được khán giả ủng hộ nhiều chỉ xếp thứ 2 sau Real, Aletico luôn luôn phải phấn đấu cật lực để vượt qua cái bóng khổng lồ của ‘Những chú kền kền trắng’. Aletico đang trong quá trình tìm lại ánh hào quang xưa. Họ đã từng 9 lần vô địch Tây Ban Nha và có ông chủ tịch nổi tiếng là ‘Điên khùng’ Gesus Gil
Sunderland, Anh
gần đây họ đã từ bỏ sân bóng đá cũ là Roker Park để chuyển đến sân The Light-một trong những SVĐ lớn nhất và đẹp nhất của bóng đá Anh
Những CLB có sắc phục trắng-đỏ:
Aalborg Boldspilklub af (1885), Đan Mạch
Athletic Bilbao, TBN
Brentford, Anh
Cannes, Pháp
Cheltenham Town, Anh
Clyde, Scotland
Crvena Zvevda, Nam Tư
Exeter City, Anh
Fortuna Dusseldorf, Đức
1FC Koeln, Đức
Lincoln City, Anh
Olympiakos, Hy Lạp
Royal Antwerp FC, Bỉ
PSV, Hà Lan
Sheffield United, Anh
Southampton, Anh
Sparta, Hà Lan
Stoke City, Anh
Tromso, Na Uy
Vicenza, Italy
Sọc trắng xanh
Gần đây, các CLB của Anh thường chơi không thành công trong màu áo này. Vào mùa bóng 1999-2000, đội bóng cuối cùng mặc sắc phục sọc xanh trắng ở giải PL là Sheffield Wednesday, nhưng câu lạc bộ này đã xuống hạng. Tuy nhiên, không phải là màu áo này không đem lại may mắn như vậy. Deportivo La curona đã chứng tỏ điều đó bằng chức vô địch giải Prima Liga cũng mùa bóng 1999-2000.
Argentina
Nhắc tới màu áo này không thể không nhắc tới đội tuyển Argentina. Đội bóng đã từng 2 lần vô địch Thế giới và là lò sản sinh ra các thế hệ cầu thủ xuất sắc của bóng đá Thế giới. Năm 1978, trước 77000 người hâm mộ Mario Kempes và Bertino đã ghi hai bàn thắng vào lưới Hà Lan đem lại chức vô địch Thế giới cho đất nước ngay tại quê nhà – Buenos Aires. 8 năm sau, Argentina lặp lại chiến công tại Mexico 1986. Và cũng tử đó, Thế giới biết đến vị Chúa của Bóng đá – Maradona.
Một số đội có sắc phục sọc Xanh-Trắng
Brighton and Hove Albion, Anh
Chester City, Anh
Colchester United, Anh
Coleraine FC Ai Len
De Graafschap, Hà Lan
Deportivo La Coruna, TBN
Halifax Town, Anh
Hartlepool United, Anh
Hertha BSC, Đức
HJK, Fần Lan
Huddersfield Town, Anh
IFK Goteborg, Thuỵ Điển
Kilmarnock, Scotland
Odense Boldklub, Đan Mạch
Porto, BĐN
Racing Club, Argentina
Real Sociedad, TBN
Sheffield Wednesday, Anh
Slovan Bratislava, Slovakia
West Bromwich Albion, Anh
Màu xanh lá cây
Trong bóng đá, có một luật bất thành văn là áo thi đấu của các cầu thủ, trọng tài, màu quả bóng và cả màu sân đấu phải được phân biệt một cách rõ ràng, để khán giả có thể tiện theo dõi. Do vậy, ở châu Âu, có ít các đội bóng có màu xanh lá cây vì giống với màu cỏ. Tuy nhiên, ở châu Phi màu xanh lá cây có vẻ phổ biến hơn. Theo các chuyên gia về màu sắc, màu xanh lá cây tượng trưng cho sự bền bỉ, gan lỳ, ngoan cường, bất khuất, rực rỡ, kiêu hãnh, tràn đầy sức mạnh.
Mãi đến năm 1911, Burnley, CLB hạng nhất của Anh, là đội bóng đầu tiên thi đấu trong trang phục xanh lá cây! Họ quyết định mặc màu áo này để đối chọi với CLB Aston Villa (sắc phục: Đỏ Bordeaux-Xanh dương), sau khi có người nói màu xanh lá cây là màu không đem lại may mắn.
Cameroon
Một trong những đội bóng lớn nhất của châu Phi là đội tuyển Cameroon. Cameroon trở thành đội bóng đầu tiên của châu Phi có mặt ở vòng Tứ kết World Cup Italia’90. Họ đã đánh bại nhà đương kim vô địch Thế giới lúc đó là đội tuyển Argentina ở trận khai mạc giải.
Ở các kỳ World Cup tiếp theo, Cameroon lọt được vào vòng chung kết nhưng thi đấu không thành công. Trong trận chung kết Cup vô địch châu Phi CAN 2000, những chú “Sư tử bất khuất” đã đánh bại những chú “Đại bàng” Nigeria, cũng là đội có trang phuc xanh lá cây
Panathinaikos
Panathinaikos được thành lập vào đầu thế kỷ 20 (1908) bởi một người Anh, nhưng mang một cái tên thuần Hy Lạp.
Biểu tượng của CLB là hình một cái cây có 3 lá (shamrock-tôi cũng ko biết là cây zì) và màu đặc trưng dễ nhận thấy là bộ trang phục xanh lá cây của họ. Panathinaikos đoạt cả thay 18 danh hiệu các loại, đội cũng đã lọt vào trận Chung kết cúp châu Âu năm 1971. Thành công này đạt được nhờ sự dẫn dắt của danh thủ Puskas, ngôi sao của ĐT Hungary và CLB Real Madrid.
Một số đội bóng có trang phục xanh lá cây:
Đội tuyển Ai Len
Đội tuyển Bắc Ai Len
Đội tuyển Mexico
Đội tuyển Belarus
Colorado Rapids, Mỹ
Ferencvaros, Hungary
Glentoran FC, N. Ai Len
Glostrup FK, Đan Mạch
Hibernian, Scotland
Legia Warsaw, Ba Lan
Maccabi Haifa, Israel
Northwich Victoria, Anh
Plymouth Argyle, Anh
Rapid Vienna, Áo
Sociedade Esportiva Palmeiras, Brazil
S.E. Palmeiras, Brazil
St Etienne, Pháp
Yeovil Town, Anh
Màu trắng
Màu trắng là màu biểu trưng cho cái chết và nỗi sợ hãi, băng tuyết và sự lạnh lẽo; là sự ngây thơ và tinh khiết. Nhưng, màu trắng cũng nhanh chóng bị nhuốm bẩn khi các đội thi đấu trong trời mưa, hay mùa đông.
Màu trắng là màu còn có thể tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng, là màu nổi bật giữa đám đông bởi sự tương phản của nó. Màu trắng cũng rất được ưa thích ở những xứ sở nhiệt đới, bởi vì nó tán xạ nhiệt, giúp cho các cầu thủ cảm thấy mát hơn khi trời nóng.
Vào thời kỳ sơ khai của bóng đá, vào giữa thế kỷ 19, màu trắng là màu phổ biến nhất trong việc lựa chọn trang phục thi đấu của các đội bóng. Hầu hết các chàng trai đều có ít nhất một chiếc áo thi đấu màu trắng.
Một số đội có những biến tấu cho những chiếc áo trắng của mình. Ví dụ, để phân biệt với một đội bóng cùng thành phố cũng có áo thi đấu màu trắng, River Plate kẻ thêm một sọc chéo màu đỏ qua vai. Màu áo này còn được sử dụng cho tới tận bây giờ.
Ở nước Anh, những năm 70, việc ra sân với màu áo trắng đối với các đội khách là một sự khó khăn. Đơn giản bởi đội chủ nhà đã chiếm nó trước rồi.
Vào năm 1961, khi Don Revie lên nắm chức chủ tịch CLB Leed United, ông liền thay màu hiện tại (xanh-vàng) bằng bộ trang phục toàn màu trắng giống như Real Madrid (hồi đó Real Madrid đang làm mưa làm gió trên đấu trường châu Âu) với mong muốn đội bóng sẽ hấp dẫn & hiện đại hơn như là Real!
Leeds United
Vào những năm 70, Leeds là một trong số những CLB hàng đầu của nước Anh, đoạt cúp UEFA năm 1971, cúp FA năm 1972 và cúp Liên đoàn 1974-1974.
Trong suốt những năm 90, đội hình thi đấu của Leeds toàn những cầu thủ trẻ do một HLV cũng còn rất trẻ là David O’Leary. Lối chơi tấn công giúp họ đạt được một số thành công (Vô địch PL 1992) và dự cúp C1 mùa bóng 2000-01.
Real Madrid, TBN
Có thể nói gì về CLB xuất sắc nhất trong thế kỷ 20?
Đến năm 2000, Real đã giành tổng cộng 27 lần chức vô địch Prima Liga và cúp Châu Âu (bây giờ gọi là cúp của Những nhà vô địch-C1). Real cũng là CLB giành nhiều cúp C1 nhất, là bá chủ châu Âu những năm 50 (5 năm liền). Real có thể lại là CLB xuất sắc nhất thế kỷ tới? Hiện tại đội hình của ‘Những chú kền kền trắng’ gồm toàn các siêu sao thế giới (“6 giải thiên hà”) mà các CLB muốn có chỉ trong mơ.
Màu áo thi đấu của họ cũng đã quá nổi tiếng với các CĐV. Mùa bóng 1999-2000, họ đã bán được 700.000 chiếc áo đấu!
Một số đội bóng có trang phục màu trắng
Đội tuyển Anh
Đội tuyển Mỹ
Đội tuyển New Zealand
Airdrieonians, Scotland
Auxerre, Pháp
Ayr United, Scotland
Bolton Wanderers, Anh
Borussia Mönchengladbach, Đức
Bury, Anh
Clyde, Scotland
Derby County, Anh
Dumbarton, Scotland
Dynamo Kiev, Ukraine
FC Copenhagen (FC København), Đan Mạch
FC Hajduk Split Croatia
Fulham, Anh
IFK Norrkoping, Thụy Điển
Iona FC, Ai Len
Port Vale, Anh
Preston North End, Anh
Santos FC, Brazil
Swansea City, xứ Wales
Tottenham Hotspur, Anh
Tranmere Rovers, Anh
Valencia, TBN
Vancouver Whitecaps FC, Canada
Hoàng Anh Gia Lai, Việt Nam
Màu vàng
Các chuyên gia về màu sắc cho rằng màu vàng tượng trưng cho sự vui vẻ, lạc quan, lộng lẫy, rực rỡ. Đội bóng nổi tiếng nhất có trang phục màu vàng dĩ nhiên là đội tuyển Brazil. Các CLB có trang phục màu vàng rất phổ biến ở Hà Lan và NaUy nhưng thật đáng ngạc nhiên, rất ít xuất hiện ở các giải đấu cao nhất của Áo, Anh, Hungary, Ai Len, Ý, TBN và Thuỵ Điển. Điều này có thể lí giải là bởi ở Tây Âu, người ta quan niệm rằng màu vàng đi cùng với sự nhút nhát. Thật khó tin là trong lịch sử của giải hạng nhất hay Premier League, chưa từng có CLB nào bước lên bục cao nhất trong trang phục màu vàng! (trừ Wolverhampton Wanderers với trang phục màu vàng kim).
Romania đã tham gia 7 kỳ World Cup và 3 kỳ Euro, nhưng thành tích lớn nhất mà họ đạt được là lọt vào vòng Tứ kết World Cup ’94 tại Mỹ.
Các cầu thủ Rumani nổi tiếng về kỹ thuật tuyệt vời, với hầu hết các tuyển thủ quốc gia đang thi đấu tại nước ngoài. (các nước Đông Âu thường sản sinh ra những nhạc trưởng tài ba và giàu kỹ thuật )
Có lẽ cầu thủ nổi tiếng nhất của Rumani là Georghi Hagi, cầu thủ được mệnh danh là ‘Maradona của vùng Carpat’. Hagi đã từ giã sự nghiệp quốc tế sau Euro 2000 với thành tích 113 lần khoác áo đội tuyển Quốc gia.
Một số đội bóng trong trang phục màu vàng
ĐTQG Brazil
ĐTQG Litva
ĐTQG Thuỵ Điển
AEK Athens, Hy Lạp
Albion Rovers, Scotland
Alloa Athletic, Scotland
Al Wasl, UAE
Barnet, Anh
Borussia Dortmund, Đức
Brondby, Đan Mạch
Cambridge United, Anh
ChievoVerona, Ý
Coloumbus Crew, Mỹ
East Fife, Scotland
Fenerbahce, TNK
Galatasaray, TNK
Las Palmas, TBN
Livingston FC, Estonia
Luton, Anh
Maccbi-Natanya, Israel
Mansfield, Anh
Nantes, Pháp
Oxford United, Anh
Sport Clube Beira Mar, BĐN
Sutton United, Anh
Torquay United, Anh
Villarreal FC, TBN
Watford, Anh
Young Boys, Thuỵ Sỹ
Norwich City, Anh
Trong thế giới bóng đá có rất nhiều điều tưởng như nhỏ nhặt nhưng rất thú vị, ví như hai cái tên Athletic Bilbao và Aletico Madrid cùng của Tây Ban Nha mà đã thấy khác nhau rồi, hay xuất xứ các CLB, mối duyên nợ giữa các đội bóng…. nói chung là tất cả những gì liên quan đến bóng đá mà chúng ta có thể chưa biết. Do vậy chúng tôi muốn mở mục này mong mọi người đóng góp nhiều câu chuyện, chi tiết thú vị xung quanh trái bóng tròn.
Đồng thời đây có thể là nơi để ta có thể hỏi những điều chưa biết mà muốn biết hay muốn biết mà chưa biết (chắc chắn không fải là luật BĐ hay những điều tương tự như vậy),
Bóng đá và chim có liên hệ gì với nhau không các bạn. Các bạn có thể cho rằng: thật vớ vẩn, chim thì có dính dáng gì đến bóng đá. Thế mà có đấy!
Một số đội bóng ở Giải PL có những hình con chim trên huy hiệu hay logo của mình và biệt danh của các đội bóng cũng xuất phát từ đó mà ra.
Gà bantam: Bradford City, Anh
Chim sơn ca: Cardiff City, xứ Wales
Barrow AFC, Anh
Chim hoàng yến: Norwich City, Anh
FC Nantes, Pháp
Đại bàng đen: Bestika, TNK
Đại bàng: Crystal Palace, Anh
Chim ác là:Newcastle United, Anh
Notts County, Anh
Con cú: Sheffield Wednesday, Anh (đây là ngoại lệ vì sân của SW nằm trong quận Owlerton của Sheffield)
Chim cổ đỏ: Bristol City, Anh
Swindon Town, Anh
Muông biển: Brighton & Hove Albion, Anh
Thiên nga: Swansea City, xứ Wales
Chim hoàng yến vàng: Fenerbache SK Istanbul, TNK
Own Goal
Bàn thắng phản lưới nhà đầu tiên ở một giải World Cup được thực hiện bởi cầu thủ Ernst Loertscher, Thuỵ Sĩ trong trận Đức-Scotland 9/6/1938
Trong tổng số 17 lần World Cup từ Uruguay 1930 đến Korean-Japan 2002, đã có tổng cộng tất cả 1803 bàn thắng, và chỉ có 24 bàn phản lưới nhà. Bàn thắng ‘phản chủ’ gần đây nhất thuộc về cầu thủ Jeff Agoos (Mỹ) trong trận đấu với Bồ Đào Nha tại Suwon (WC 2002). Ở độ tuổi 34, Jeff Agoos mới có lần ra mắt đầu tiên ở Đội tuyển quốc gia sau khi bỏ lỡ 2 kỳ WC trước đó. Đây cũng là một trong những trận đấu thú vị nhất của giải WC lần thứ 17. Đội tuyển Mỹ đã gây bất ngờ cho khán giả khi dẫn trước BĐN 3-0 ngay trong 30’ đầu tiên của trận đấu, trong 3 bàn thắng đó có bàn phản lưới nhà của hậu vệ Jorge Costa (BĐN). Để như ‘đáp lễ’ đối với Costa, Agoos đã làm thủ môn Brad Fridel trở tay không kịp khi cẩu thả phá bóng trong khu cấm địa rút ngắn khoảng cách xuống còn 2-3 cho BĐN. Nếu để nói về ‘chuyên gia’ phản lưới nhà không thể không nhắc đến Travor Sinclair (Leicester). Là một hậu vệ, anh rất tích cực lên tham gia tấn công và ghi được không ít bàn thắng quan trọng cho đội, nhưng hình như cứ sau mỗi lần ghi bàn anh lại ‘đổ xuống sông, xuống biển’ bằng cái cách chẳng ai muốn. Trong những tình huống quyết định trong trận đấu với Boro, Everton (2002), hay với các đội Arsenal và Chelsea (1999) … anh đều là kẻ tội đồ của đội bóng.
Kỷ lục về số bàn thắng phản lưới nhà trong một trận đấu (không chính thức) đã thuộc về đội bóng Stade Olympique L’Emyrne (SOE) trong một trận đấu thuộc giải vô địch quốc gia đảo Toamasina. Để phản đối các quyết định của trọng tài, họ đã liên tục đốt lưới nhà 149 lần, tương đương với 49 cú hattrick, tốc độ ghi bàn 1bàn/36,2 giây. có nghĩa là cứ vừa đặt giao bóng xong họ gần như ngay lập tức đá bóng về phía cầu môn của mình, còn thủ môn của đội thì đứng dựa khung thành ngắm trời đất và sốt sắng … đưa bóng vào cuộc. Ngay ngày hôm sau, Bộ trưởng Thể thao của Madagascar quyết định giải tán Liên đoàn bóng đá luôn. Có lẽ vì siêu tiêu cực như vậy nên Guiness đã không công nhận ‘kỷ lục’ này.
Một kỷ lục khác không kém thú vị thuộc về Chrish Nicholl (Aston Villa) khi anh là nhân vật chính khi ghi cả … 4 bàn thắng trong trận hòa 2-2 với Leicester!
Bàn thắng ‘đốt lưới nhà’ nổi tiếng nhất, được nhiều người biết đến nhất có lẽ thuộc về Escobar. World Cup 94, tháng 6 trên SVĐ Pasadena Rose Bowl chật cứng 93000 khán giả, Escobar ghi bàn thắng nhưng không phải vào lưới đội Mỹ mà là vào đội nhà Colombia. Không ai ngờ, kể cả Escobar lại tưởng tượng được rằng bàn thắng đó lại có giá đắt đến như vậy. ‘Thật nhục nhã!’ đó là những cái tít của báo chí Colombia đăng tải sau trận đấu với người … láng giềng Mỹ. Sau khi WC kết thúc Escobar trở về Meddelin, một thành phố chỉ có 2 triệu dân nhưng lại có đến … 7000 vụ giết người mỗi năm!
2/7 – 11 ngày sau, Escobar ngồi trong một hộp đêm gần nhà của anh, một nhóm gã ‘gay’, trong đó có anh em nhà Gallon khét tiếng, đã phỉ báng Escobar vì lỗi ngớ ngẩn trên, cuộc cãi vã xô xát diễn ra. 6 phát súng nhằm vào Escobar kèm theo nhứng lời nguyền rủa ‘Own goal! Own goal!’ từ băng nhóm tội phạm này. Đó là một trong những đỉnh điểm của bi kịch khi một cầu thủ chẳng may đá phản lưới nhà. Hàng vạn người đã tham dự lễ tang của anh và yêu cầu công lý. Bạn của Escobar, Galeano và anh trai Santiago cùng từ bỏ bóng đá ngay sau cái chết thương tâm này. Thật đáng sợ khi phải sống ở đất nước có tỉ lệ tội phạm cao nhất thế giới, người ta nói ở Colombia có 2 điều đáng để biết đến đó là: Valderama & ma túy. Thật trớ trêu, thế giới tội phạm ở Colombia nhúng tay khá sâu vào bóng đá của nước này & với số vũ khí bất hợp pháp, người dân Colombia có thể dùng thay… dĩa để ăn tối. Một tên giết người sẵn sàng hành động chỉ với giá thuê có … 10$.
Trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình Pele đã ghi tổng cộng hơn 1200 bàn thắng nhưng thật đáng ngạc nhiên là Pele chưa một lần phải ghi bàn thắng ngược như vậy. Có lẽ nhiệm vụ của Pele không phải là quanh quẩn trong khu cấm địa để bảo vệ đội nhà mà chỉ đơn giản là săn bàn thắng.
‘Kaiser’ Franz Beckenbauer cũng đã từng đốt cháy lưới nhà bằng đầu trong trận đấu giữa Cosmos và America thuộc giải đấu Soccer League.
Thủ môn Zubizarretta, một tượng đài trong làng bóng đá TBN, được nhớ tới không chỉ bởi là người đang giữ kỷ lục 126 lần khoác áo ĐTQG, hơn 600 trận thi đấu trong giải La Liga mà còn bởi pha bắt bóng ngớ ngẩn của anh tại giải France ’98 ‘góp phần’ giúp TBN phải xách vali sớm về nước. Tiếp nối truyền thống, gần đây nhiều thủ môn hàng đầu cũng là đối tượng để mọi người chê cười như F.Bathez, D.Seaman, O.Kahn…
Ở Việt Nam thì sao? Tại Tiger Cup ’98, để tránh đội chủ nhà Việt Nam (Việt Nam nhì bảng A) tại bán kết, 2 đội Indonesia và Thái Lan trong trận cuối cùng của vòng đấu bảng đã thi đấu vật vờ ‘tranh nhau’ thua nhường đối phương vị trí nhất bảng B. Indonesia cao tay hơn khi hậu vệ của họ vào phút cuối đã đá phản lưới nhà để tự thua kèm theo đó là thái độ vui vẻ đáng ngạc nhiên! Rốt cục cả 2 đội đều thua trong trận bán kết và bị phạt 40000$. Thủ môn đội Indonesia và hậu vệ Effendi bị cấm thi đấu suốt đời. Đây là một vết đen của bóng đá Đông Nam Á do căn bệnh thành tích.
neverback
17-09-2004, 03:08
Bản danh sách của Pele: Chưa thuyết phục!
Vua bóng đá Brazil vừa thay mặt FIFA đưa ra một danh sách gồm 125 cầu thủ xuất sắc nhất thế giới còn sống. Xứ sở Samba đóng góp nhiều cầu thủ nhất (15 người), tiếp đến là Pháp và Italia (14 người). Tuy nhiên, bản danh sách này đã vấp phải khá nhiều chỉ trích từ làng bóng đá thế giới.
Brazil, nước đang có số lần vô địch thế giới nhiều nhất (5 lần) có đến 15 người đứng trong danh sách của Pele, tất nhiên là có cả tên ông. Trong số 15 người này, có những cầu thủ từ những năm 50, 60 như Pele, Nilton Santos. Lùi về một chút có Carlos Alberto, cầu thủ có cú sút ''tên lửa'' trong trận chung kết World Cup 1970 (Brazil thắng Italia 4-1) hay ''Con báo'' Rivelino, nổi danh với cú sút phạt ''Lá vàng rơi''. Đại diện của thập kỷ 80 là những tên tuổi như Falcao, Socrates, Zico. Các cầu thủ đang thi đấu gồm: Ronaldo, Rivaldo, Ronaldinho, Cafu, Roberto Carlos và Romario. Tất nhiên, do yêu cầu của FIFA là chỉ chọn lựa những tên tuổi còn sống nên danh sách này thiếu khá nhiều cầu thủ lừng danh của bóng đá xứ sở Samba như Garrincha hay Leonidas.
Tiếp sau Brazil, Pháp và Italia là 2 nước có đông đại diện nhất trong ''danh sách Pele''. Những cái tên tiêu biểu của Italia, 3 lần VĐTG, có Roberto Baggio, Franco Baresi, Gianni Rivera, Paolo Maldini, Dino Zoff... Gần một nửa trong số 14 cầu thủ Italia hiện còn thi đấu (Gianluca Buffon, Paolo Maldini, Alessandro Del Piero, Alessandro Nesta, Francesco Totti và Christian Vieri). Tuy nhiên, báo chí Italia thất vọng khi trong danh sách này không có Sandro Mazzola. Trong 14 cầu thủ Pháp, chỉ có 2 tên tuổi của những năm 50, 60 là Just Fontaine, người đang giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được tại 1 VCK World Cup (13 bàn) và Raymond Kopa, cầu thủ Pháp đầu tiên đoạt Quả bóng vàng châu Âu. Đại diện cho thập kỷ 80 là Michel Platini, cầu thủ vĩ đại nhất của bóng đá Pháp, và ''Viên ngọc đen'' Marius Tresor. Đầu những năm 90 có Jean Pierre Papin, Quả bóng vàng châu Âu 1991, Eric Cantona, cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử Manchester United và Didier Deschamps, thủ quân Pháp vô địch World Cup 1998 và Euro 2000. Đông nhất vẫn là các cầu thủ thuộc ''thế hệ Zidane'', những người đang thi đấu toả sáng, gồm: Zidane, Henry, Trezeguet, Patrick Vieira, Robert Pires, Lilian Thuram và Marcel Desailly. Theo Pele, Zidane, Trezeguet, Henry là những người mà ông cảm thấy ''hài lòng nhất'' khi đưa vào danh sách.
Thật khó hiểu khi Pele không đưa Bobby Moore vào danh sách.
Láng giềng và là kình địch của Brazil ở Nam Mỹ, Argentina cũng góp mặt 10 cầu thủ, dĩ nhiên là không thể thiếu ''Cậu bé vàng'' Diego Maradona. Thập kỷ 60 có thiên tài Alfredo Di Stefano và Omar Sivori, thần tượng của Juventus; thập kỷ 70 có Mario Kempes, Vua phá lưới của World Cup 1978. Đại diện của thập kỷ 80 là Diego Maradona, cầu thủ vĩ đại nhất Argentina và Daniel Passarella. Những năm 90 và hiện tại có Gabriel Batistuta, Hernan Crespo, Juan Veron, Javier Saviola và Javier Zanetti. Sự lựa chọn Saviola, và Javier Zanetti gây ra khá nhiều tranh cãi bởi với nhiều người, đây chỉ là những cầu thủ ''trung bình khá'', chưa thể so sánh với Claudio Caniggia, Jorge Valdano hay Oscar Ruggeri.
Đức, quốc gia chỉ xếp sau Brazil về thành tích tại các kỳ World Cup, được Pele chọn 10 cầu thủ. Đứng đầu danh sách là ''Hoàng đế'' Franz Beckenbauer, người duy nhất cho đến nay đoạt chức VĐTG trên cương vị cầu thủ và HLV trưởng. Thập niên 60, 70 còn có Uwe Seeler, Gerd Mueller và muộn hơn một chút là Paul Breitner. Thập kỷ 80 có Sepp Maier, Karl - Heinz Rummenigge. Tiếp đến là Lothar Matthaus, Juergen Klinsmann của những năm 90. Chỉ có 2 cầu thủ hiện còn đang thi đấu là Michael Ballack và Oliver Kahn. Dĩ nhiên, người Đức cũng không thể hài lòng khi danh sách này vắng mặt Mathias Sammer, Quả bóng vàng châu Âu 1996, người được coi là libero xuất sắc nhất của Đức, sau Beckenbauer.
Một cầu thủ như Seedorf (trái) mà cũng được lựa chọn.
Đảo quốc sương mù Anh có 7 cầu thủ (Gordon Banks, David Beckham, Bobby Charlton, Kevin Keegan, Gary Lineker, Michael Owen, Alan Shearer) nhưng lại không có mặt Bobby Moore, trung vệ được coi là xuất sắc nhất lịch sử bóng đá Anh, và Geoff Hurst, cầu thủ duy nhất cho đến nay lập hat-trick trong một trận chung kết World Cup (1966). ''Cơn lốc màu da cam'' Hà Lan có đến 13 người được chọn, đứng đầu là ''Thánh'' Johan Cruyyf, Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu thế kỷ 20 của UEFA. Bên cạnh đó là bộ ba Gu - Ba - Ri (Van Basten, Gullit, Rijkaard), ''Johan đệ nhị'' Neeskens, Rob Rensenbrink và cả Van Nistelrooy. Bất ngờ nhất là sự có mặt của Clarence Seedorf, ít hơn một chút là Edgar Davids, Patrick Kluivert trong khi Ruud Krol hay Ronald Koeman lại vắng bóng.
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có mỗi nước 3 đại diện: Butragueno, Raul, Luis Enrique (Tây Ban Nha); Eusebio, Figo, Rui Costa (Bồ Đào Nha). Bóng đá Đông Âu khá thiệt thòi khi Pele chỉ chọn mỗi nước 1 cầu thủ, nhiều nhất là CH Czech cũng chỉ có 2 (Masopust, Nedved). Các nước khác chỉ có 1, gồm: Rinat Dassaev (Nga), Andriy Shevchenko (Ukraina); Davor Suker (Croatia); Stoichkov (Bulgaria); Georghe Hagi (Rumania); Ferenc Puskas (Hungaria); Boniek (Ba Lan). Serbia&Montenegro, quốc gia sản sinh ra nhiều tài năng bóng đá, thậm chí không có đại diện nào.
Cha Bum kun (phải) xứng đáng hơn Hong Myong-bo.
Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Hàn Quốc có đại diện trong ''danh sách của Pele''. Nếu như đại diện của Nhật Bản là Hidetoshi Nakata nhận được sự tán đồng cao thì việc Hong Myung Bo vượt qua Cha Bum Kun để đại diện cho Hàn Quốc gây ra khá nhiều tranh cãi. Trong cuộc bầu chọn của AFC năm 2000, Cha Bum Kun đã được bầu là cầu thủ châu Á xuất sắc nhất thế kỷ 20. FIFA giải thích gượng gạo là họ phải ưu tiên tiêu chí chọn cầu thủ đang thi đấu. Châu Phi cũng chỉ có 5 cầu thủ lọt vào ''mắt xanh'' của Pele, gồm: Roger Mila (Cameroon), Abedi Pele (Ghana), George Weah (Liberia), Jay Jay Okocha (Nigieria) và El Hadji Diouf (Senegal). Sự có mặt của El Hadji Diouf là kém thuyết phục nhất khi mà cầu thủ này thậm chí chưa có chân trong đội hình chính của Liverpool và thua xa những tên tuổi như Badou Zaki (Maroc) hay Hossam Hossan (Ai Cập).
Đáng chú ý trong danh sách 125 cầu thủ do Pele đưa ra có 2 nữ cầu thủ, đều đến từ Mỹ, là Michelle Akers Star và Mia Hamm. Đây cũng là 2 trong số những cầu thủ nữ xuất sắc nhất trong cuộc bầu chọn cuối thế kỷ 20 của FIFA và đóng góp rất lớn vào sự phát triển của bóng đá nữ. Bản danh sách trên của Pele có thể chưa phải là danh sách cuối cùng bởi Vua bóng đá chọn đến 125 cầu thủ trong khi FIFA chỉ yêu cầu có 100, đúng bằng số năm tồn tại của tổ chức này. Ngoài ra, danh sách còn phải đáp ứng yêu cầu, 50 cầu thủ còn đang thi đấu và 50 giải nghệ.
Tuy nhiên, ngay từ thời điểm này, ''bản danh sách của Pele'' đã gây nên phản ứng khá tiêu cực từ nhiều phía. Enzo Scifo, cầu thủ xuất sắc nhất bóng đá Bỉ thập niên 90, đánh giá bản danh sách quá ''ngoại giao''. Làn sóng chỉ trích Pele còn nặng nề hơn tại quê hương Brazil khi hôm thứ 4, tờ Folha de Sao Paolo cho đăng một bản ''nháp'' danh sách 100, trong đó chỉ có 12 cầu thủ Brazil và không có tên của Jairzinho, Gerson hay Tostao. Pele ngay sau đó đã vội thêm vào danh sách tên của Rivelino và Nilton Santos, cầu thủ được mệnh danh là ''Bách khoa thư'' về bóng đá. Dù vậy, Vua bóng đá vẫn không thoát được những lời trách móc. ''Tất nhiên là Pele có thể chọn bất kỳ ai mà ông ấy muốn. Nhưng thật chẳng hay ho gì khi bỏ quên những đồng đội đã giúp ông lên đến đỉnh cao'' - Gerson, người ghi bàn thứ hai trong trận CK World Cup 1970, lên tiếng. Cựu tiền vệ này còn gay gắt hơn: ''Nếu ông ta nghĩ lại và điền tên tôi vào danh sách thì tôi cũng không chấp nhận''. Ngay cả Mario Zagallo, người có tiếng là mềm mỏng, cũng tỏ ra phật ý: ''Tôi biết Pele là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới nhưng bản danh sách này cần phải xem lại''. Về phần mình, Rivelino, người mới được bổ sung, thì dửng dưng: ''Tôi chẳng thất vọng. Tôi biết giá trị của mình''.
Phát biểu tại London , Pele thanh minh ''Tôi thậm chí có thể chọn 100 cầu thủ xuất sắc chỉ đến từ Brazil. Do đó, phải ''đóng khung'' 100 cầu thủ xuất sắc nhất của thế giới là việc không thể''. Ông cũng cho biết, bản danh sách này vẫn chưa hoàn chỉnh và thừa nhận mình sai lầm khi sớm công bố ra dư luận. , danh sách này sẽ được FIFA công bố chính thức như một phần trong lễ kỷ niệm ''Bách niên''
Danh sách 125 cầu thủ (Theo thứ tự ABC)
Xem chi tiết» Anh (7):
Gordon Banks, David Beckham, Bobby Charlton, Kevin Keegan, Gary Lineker, Michael Owen, Alan Shearer
Argentina (10):
Gabriel Batistuta, Hernan Crespo, Mario Kempes, Diego Maradona, Daniel Passarella, Javier Saviola, Omar Sivori, Alfredo Di Stefano, Juan Sebastien Veron, Javier Zanetti
Bỉ (3):
Jan Ceulemans, Franky Van der Elst, Jean-Marie Pfaff
Brazil (15):
Carlos Alberto, Cafu, Roberto Carlos, Falcao, Junior, Pele, Rivaldo, Rivelino, Romario, Ronaldinho, Ronaldo, Djalma Santos, Nilton Santos, Socrates, Zico
Bulgaria (1):
Hristo Stoichkov
Ba Lan (1):
Zbigniew Boniek
Bồ Đào Nha (3):
Manuel Rui Costa, Eusebio, Luis Figo
Bắc Ireland (1):
George Best
Cameroon (1):
Roger Milla
Chile (2):
Pablo Figueroa, Ivan Zamorano
Colombia (1):
Carlos Valderrama
Croatia (1):
Davor Suker
CH Czech (2):
Josef Masopust, Pavel Nedved
Đan Mạch (3):
Brian Laudrup, Michael Laudrup, Peter Schmeichel
Pháp (14):
Eric Cantona, Marcel Desailly, Didier Deschamps, Juste Fontaine, Thierry Henry, Raymond Kopa, Jean-Pierre Papin, Robert Pires, Michel Platini, Lilian Thuram, Marius Tresor, David Trezeguet, Patrick Vieira, Zinedine Zidane
Đức (10):
Michael Ballack, Franz Beckenbauer, Paul Breitner, Oliver Kahn, Juergen Klinsmann, Sepp Maier, Lothar Matthaeus, Gerd Mueller, Karl-Heinz Rummenigge, Uwe Seeler
Ghana (1):
Abedi Pele
Hungary (1):
Ference Puskas
Hà Lan (13):
Marco van Basten, Denis Bergkamp, Johann Cruyff, Edgar Davids, Ruud Gullit, Willy van de Kerkhof, Rene van de Kerkhof, Patrick Kluivert, Johann Neeskens, Ruud van Nistelrooy, Rob Rensenbrink, Frank Rijkaard, Clarence Seedorf
Ireland (1):
Roy Keane
Italia (14):
Roberto Baggio, Franco Baresi, Giuseppe Bergomi, Giampiero Bonip erti, Gianluca Buffon, Giancinto Facchetti, Paolo Maldini, Alessandro Del Piero, Alessandro Nesta, Gianni Rivera, Paolo Rossi, Francesco Totti, Christian Vieri, Dino Zoff
Mỹ (2):
Michelle Akers, Mia Hamm
Nhật Bản (1):
Hidetoshi Nakata
Liberia (1):
George Weah
Mexico (1):
Hugo Sanchez
Nigeria (1):
Jay-Jay Okocha
Paraguay (1):
Romerito
Peru (1):
Teofilo Cubillas
Romania (1):
Gheorghe Hagi
Nga (1):
Rinat Dasaev
Scotland (1):
Kenny Dalglish
Senegal (1):
El Hadji Diouf
Hàn Quốc (1):
Hong Myung-bo
Tây Ban Nha (3):
Emilio Butragueno, Luis Enrique, Raul
Thổ Nhĩ Kỳ (2):
Emre, Recber Rustu
Ukraina (1):
Andriy Shevchenko
Uruguay (1):
Enzo Francescoli
neverback
24-09-2004, 18:16
Mười quyết định dở nhất trong lịch sử World Cup
Thủ môn Shilton chịu thua bàn tay của Maradona, năm 1986.
Công tác trọng tài tại Vòng chung kết năm nay đang bị ca thán là quá sức tệ hại. Tuy nhiên, trong lịch sử, thế giới bóng đá từng chứng kiến rất nhiều quyết định sai lầm, làm thay đổi không chỉ kết quả trận đấu mà còn cả số phận của những người liên quan, và không phải tất cả đều xuất phát từ những ông vua sân cỏ.
1. Kết thúc trận đấu ở phút 84
Pháp là đội có nhiều duyên nợ nhất với những trận đấu gây tranh cãi, ngay từ Vòng chung kết đầu tiên năm 1930. Phút 84, các chú gà trống Goloa vẫn mê mải tấn công, hòng gỡ hòa 1-1 với Argentina. Tuy nhiên, tất cả chợt đứng khựng lại khi nghe tiếng còi mãn cuộc vang lên. Trọng tài giải thích là ông đã nhìn nhầm đồng hồ và cho trận đấu tiếp tục. Thế nhưng, đội Pháp chẳng còn tìm đâu ra hứng khởi để dâng lên, chịu thất bại 0-1 và bị loại.
2. Công nhận một bàn thắng chưa bao giờ tồn tại (vụ thứ nhất)
Đó là bàn thắng thứ hai của tuyển thủ Anh Geoff Hurst tại trận chung kết World Cup 1966. Thời gian này, người ta chưa có đủ phương tiện kỹ thuật hiện đại để xác định là bóng đã ở trong vạch vôi cầu môn sau khi bật xuống từ xà ngang đội Đức hay chưa. Những nhân vật duy nhất được quyền quyết định trong trường hợp này là trọng tài và giám biên, và cả hai đều trả lời: “Có, bàn thắng đã được ghi”.
Ở trận đấu này, người cầm còi còn xử lý sai một tình huống khác. Trận chung kết lẽ ra đã kết thúc với tỷ số 2-1 chứ không phải 4-2, khi tới phút 90, Anh vẫn đang dẫn 2-1. Thế nhưng, đúng phút cuối cùng, khi Jack Charlton (Anh) bị phạm lỗi, trọng tài lại cho người Đức được hưởng một quả phạt và họ đã gỡ hòa. Cả hai đội phải đấu thêm hiệp phụ. Tuy nhiên, ngôi vô địch vẫn thuộc về Anh.
3. Kết thúc trận đấu khi cầu thủ đang đá phạt góc
Nạn nhân chịu oan ức trong vụ này là Brazil. Khi trận đấu giữa đội bóng áo vàng xanh và Thụy Điển tại World Cup 1978 đang dừng ở tỷ số 1-1, Brazil được hưởng một quả phạt góc chỉ vài giây trước khi kim đồng hồ chỉ phút thứ 90. Cú sút từ điểm phạt góc làm tung lưới Thụy Điển, nhưng hai đội vẫn rời sân với kết quả hòa, bởi trọng tài đã thổi còi kết thúc trận đấu khi quả bóng đang bay trong không trung.
FIFA đã quyết định gửi gấp trọng tài Clive Thomas về nhà ngay sau đó, để ông có thời gian chạy chữa cho những vết bầm tím trên mặt - dấu vết của vô số đồng xu được ném xuống từ trên khán đài.
4. Công nhận một bàn thắng rồi thay đổi ý kiến
Sự việc xảy ra vào mùa hè 1982, Pháp tranh tài với Kuwait tại vòng đấu bảng Espana. Alain Giresse ghi bàn nâng tỷ số lên 4-1 khi các cầu thủ vùng Vịnh đã dừng cả lại. Trọng tài chỉ tay vào chấm tròn giữa sân, vụ náo loạn lập tức nổi lên, có sự tham gia của toàn bộ đội Kuwait và nhiều quan chức nước này. Họ cho rằng trọng tài đã thổi còi chấm dứt tình huống bóng. Người cầm đầu vụ phản đối là Hoàng tử Fahid, Chủ tịch LĐBĐ Kuwait. Ông lao từ chỗ ngồi danh dự trên khán đài xuống tận đường pitch và dọa sẽ đưa cả đội bóng nước mình rời sân, không tiếp tục trận đấu.
Không thể tin nổi, phản đối được chấp nhận: Trọng tài Miroslav Stupar (Liên Xô cũ) đã thay đổi quyết định. Tỷ số vẫn là 3-1. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, Pháp đã ghi được bàn thắng thứ tư và không ai còn dám bác bỏ. Đội Kuwait vẫn phải về nhà, nhưng họ có thể tự hào vì đã làm nên một chuyện hy hữu trong lịch sử bóng đá.
5. Dung túng cho một hành vi giết người
Tây Đức gặp Pháp tại Espana 1982. Trong một tình huống khung thành nhà bị uy hiếp, thủ môn Đức Harald Schumacher không cần để ý đến quả bóng, mà xông thẳng vào cầu thủ Patrick Battiston đang lao tới, quyết chí "vặt đầu vặt cẳng" anh này. Kết quả là Battiston mất 3 cái răng, chấn thương nghiêm trọng ở cổ và phải thở ôxy trong nhiều tuần.
Vậy trọng tài Charles Corver đã xử lý như thế nào?
a. Cho Pháp hưởng một quả đá phạt, đuổi Schumacher ra khỏi sân và ra tòa làm chứng rằng thủ môn này đã cố ý hành hung, khiến anh ta phải ngồi bóc lịch ít nhất 7 năm.
b. Thổi phạt, tặng Schumacher thẻ vàng và ban một quyết định có lợi cho Pháp.
c. Cho Tây Đức phát bóng, với lý do Schumacher vẫn chưa chạm vào bóng trước khi đi hết biên ngang và biến anh ta thành người hùng với việc cản phá một loạt cú sút penalty sau đó.
Đáp án là c.
6. Công nhận một bàn thắng chưa bao giờ tồn tại (vụ thứ hai)
Trận tứ kết World Cup 1986 giữa Anh và Argentina. Đội bóng Nam Mỹ vươn lên dẫn trước nhờ “bàn tay của Chúa”. Thủ môn Peter Shilton bay người hết cỡ vẫn phải chịu thua Maradona nhỏ con + 1 cánh tay.
Mãi về sau này, người ta vẫn cứ phải đặt câu hỏi tại sao ông trọng tài có thể tưởng tượng được một người vừa mập vừa lùn như Maradona lại có thể nhảy cao đến mức ấy để đánh đầu vào lưới.
7. Để cho Maradona tiếp tục dùng tay chơi bóng
Sau khi thua Cameroon tại trận mở màn World Cup 1990, Argentina - nhà đương kim vô địch thế giới lúc bấy giờ - có thể đã phải xách valy về nước nếu cú đánh đầu của Kuznetsov mang tới bàn mở tỷ số cho đội Liên Xô cũ. Tuy nhiên, số phận và trọng tài đã giúp họ vào tới tận trận chung kết. Còn Maradona lại trở thành người hùng. “Ngựa quen đường cũ”, cậu bé vàng lại dùng đến cánh tay “nhỏ nhắn” của mình, lần này là để phá bóng.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Liên Xô vươn lên dẫn trước 1-0, bất kể là nhờ cú đánh đầu trong tư thế thoải mái hay từ chấm phạt đền, nhất là khi Maradona bị đuổi khỏi sân vì động tác chơi bóng chuyền quá lộ liễu?
8. Mời ca sĩ Diana Ross tới sút penalty tại lễ khai mạc World Cup 1994Trong buổi trình diễn tại sân vận động Soldier Field ở Chicago, nữ ca sĩ nổi tiếng này đã chứng minh rằng hát và sút penalty là hai việc hầu như không thể làm đồng thời, khi cô để bóng bay ra ngoài khung thành từ khoảng cách 3,5 m.
Thực ra, việc một cô gái chưa bao giờ biết đến quả bóng sút hỏng không gây nhiều ngạc nhiên. Điều tồi tệ là đám cổ động viên Mỹ đã đồng loạt bật dậy, hò reo chúc mừng Ross, như thể cô vừa lập được một kỳ tích. Màn trình diễn của giọng ca “Endless love” gây ấn tượng đến nỗi, Liên đoàn bóng bầu dục thế giới đã mời ngay Ross tới hát tại lễ khai mạc World Cup của họ tại Wembley sau đó. Có lẽ trước khi nhận lời, Ross đã phải đặt điều kiện là không thực hiện bất cứ một quả penalty nào nữa.
9. Hệ thống phân phối vé tại World Cup 1998
Cứ cho là France 98 là một vòng chung kết thành công đi (đặc biệt là đối với người Pháp), nhưng câu chuyện về những chiếc vé tại kỳ World Cup này là không thể tưởng tượng nổi. Thay vì phân phối vé tới những nước có đội bóng tham gia tranh tài, ban tổ chức lại rao bán gần như toàn bộ số đó cho những người Pháp. Cổ động viên từ 31 nước còn lại phải tranh nhau 8% suất theo dõi 64 trận đấu của World Cup. Thậm chí, nếu muốn mua một chiếc vé bị người ta trả lại, bạn cũng sẽ chỉ được ưu tiên nếu gọi điện trong biên giới đất nước hình lục lăng.
10. Đưa một Ronaldo "có vấn đề" ra sân tại trận chung kết
Trước trận tranh Cup vàng giữa Brazil và Pháp năm 1998, cầu thủ hay nhất thế giới lúc bấy giờ có dấu hiệu suy giảm thể lực. Một giờ trước khi trận chung kết khai cuộc, Ronaldo không có tên trong danh sách xuất phát, nhưng cuối cùng anh vẫn ra sân. “Người ngoài hành tinh” đã vật vờ trong suốt thời gian thi đấu, còn Frank Leboeuf - người được phân công kèm Ronaldo - trở nên nhàn rỗi và làm được vô số việc không thuộc phận sự của mình.
Cho đến giờ, vẫn chưa ai có thể khẳng định cái gì đã khiến Ronaldo bị co giật - sự căng thẳng, chứng dị ứng thuốc hay một cơn đau dạ dày. Và cũng chẳng ai biết rằng có phải nhà tài trợ Nike đã gây áp lực để chàng tiền đạo răng thỏ được thi đấu hay không.
Soccer for the word
Cái này đã lên hàng Chú ý rồi thì cũng là đặc biệt hơn các topic khác do đó các bác hạn chế những bài ngắn. Khi nào có bài hay như của neverback thì post lên làm tài liệu tham khảo, còn không thì bàn luận chứ đừng nói nhảm. Tui sẽ xoá hết các bài nhảm.
Lịch sử bóng đá Việt Nam (1896-1975)
1. PHÁT TRIỂN NỘI BỘ:
Theo những tài liệu còn lưu giữ được thì bóng đá đã theo chân người Pháp du nhập vào nước ta vào khoảng năm 1896. Và tất nhiên, trước tiên là tại Nam Kỳ, sau mới lan ra Bắc và Trung.
a. MIỀN NAM
Những người chơi bóng đầu tiên ở Sài Gòn là người Pháp (công chức thuộc địa, thương gia, binh lính), và sân chơi của họ mỗi cuối tuần là công viên thành phố, tên Pháp lúc bấy giờ gọi là Jardin de la Ville (Vườn Ông Thượng, sân Tao Đàn bây giờ). Dần dà, những người Âu có điều kiện khác cùng tới chơi. Sau đó, một số ít người Việt Nam, công chức hoặc thương gia mang quốc tịch Pháp, cũng bắt đầu tham gia. Quả bóng bầu dục đôi khi còn xuất hiện lúc đầu được thay hẳn bằng bóng tròn, và họ tập hợp nhau lại thành câu lạc bộ, lấy tên là Cercle Sportif Saigonnais.
Năm 1905, đội bóng của chiến hạm Anh mang tên King Alfred ghé thăm Sài Gòn, và đã đấu giao hữu với một đội Pháp Việt; đây là trận bóng quốc tế đầu tiên tại Việt Nam. Năm 1906, E. Breton, một uỷ viên Pháp trong L'Union des Sociétés Francaises des Sports Athlétiques đem luật lệ bóng đá sang Việt Nam phổ biến, và trong vai trò Hội Trưởng, chấn chỉnh lại Cercle Sportif Saigonnais theo cách tổ chức của các câu lạc bộ bóng đá bên Pháp. Nhiều câu lạc bộ khác được bắt chước thành lập và hoạt động, như Infanterie, Saigon Sport, Athletic Club, Stade Militaire, Tabert Club... Các giải bóng đá cũng bắt đầu được tổ chức từ đó.
Do được tổ chức, huấn luyện có quy củ hơn, Cercle Sportif Saigonnais liên tiếp thắng nhiều mùa giải: 1907, 1909, 1910, 1911, 1912, 1916... Dân ta rất nhạy cảm với bóng đá, sớm yêu thích và tự thấy mình cũng có thể chơi bóng đá giỏi nên bắt chước; học sinh, thợ thuyền, công chức rủ nhau chơi, dù trong điều kiện cực kỳ khó khăn, nhất là về sân bãi. Nhưng chỉ trong vài năm, nhiều người Việt đã nắm được luật lệ và kỹ thuật bóng đá nên tự lập đội bóng của mình, lấy tên là Gia Ðịnh Sport (đội bóng Việt Nam đầu tiên, thành lập năm 1907, do các ông Ba Vẻ, Phú Khai dẫn dắt, sau nhập một với đội Ngôi Sao Xanh (Etoile Bleue) của ông huyện Nguyễn Ðình Trị, thành Ngôi Sao Gia Ðịnh).
Từ năm 1920 thì ta đã có nhiều cầu thủ hay. Ngôi Sao Gia Ðịnh đã thắng tất cả các đội bóng khác mà số đông là đội người Âu, kể cả đội Cercle Sportif Saigonnais của ông Breton (1917), giành Cúp vô địch. Suốt thập kỷ 1925-1935, đội Ngôi Sao đã lừng danh với một thế hệ cầu thủ còn được nhiều người nhắc nhở cho đến nay: Sách, Thơm, Nhiều, Quý, Tịnh, Xường, Trung, Thi, Vi, Mùi, Tiếc, Rớt, Tài, Út, Danh, Giỏi, E. Quang... Sang thập kỷ 1945-1954, đội Gia Ðịnh còn tiếp tục ngự trị trên bóng đá Nam Kỳ với một thế hệ cầu thủ xuất sắc khác: Maurice Tài, Coón, Lý Ðức, Quới, Hiếu, Thọ 2, Tư, Mai, Mỹ, Thách, Thọ Ve, Bùi Nghẻn, Khê…
Cũng trong thập kỷ 1920, tự thấy mình có thể đứng độc lập được, giới hâm mộ và những nhà dẫn dắt hợp tác thành lập một Tổng Cuộc Bóng Ðá riêng cho người Việt, bầu ông Nguyễn Đình Trị làm Trưởng Ban Trị Sự, và mua đất làm sân riêng. Lúc ấy đã có một Tổng Cuộc Bóng Ðá do người Pháp chủ trì, nên việc hợp tác giữa hai Tổng Cuộc không thể tốt đẹp. Dù vậy, hai bên vẫn phải hợp tác tổ chức những cuộc thi đấu, như Giải Vô Ðịch Nam Kỳ chẳng hạn.
Trong một trận nẩy lửa giữa Cercle Sportif Saigonnais và Ngôi Sao Gia Ðịnh năm 1925, việc trọng tài người Pháp đã đuổi cầu thủ Paul Thi ra khỏi sân sau một cuộc xô xát, khiến cầu thủ này của đội Ngôi Sao bị treo giò vĩnh viễn sau đó, càng làm cho việc hợp tác thêm khó khăn. Giải Vô Ðịch Nam Kỳ bị gián đoạn trong nhiều năm, chỉ bắt đầu lại năm 1932, với 6 đội người Việt và 3 đội người Pháp. Tuy vậy, từ 1925 đến 1935 cũng có đến khoảng 29 giải bóng đá đủ loại được tổ chức, Gia Ðịnh một mình đăng quang hết 8 lần, xác định vai vế vua bóng đá miền Nam Việt một thời, số còn lại chia đều cho các đội Victoria, Khánh Hội, Cercle Sportif Saigonnais, Jean Comte, Auto-Hall (Nam), Commerce Sport, Thủ Dầu Một…
Ở miền Nam, về các đội bóng vùng Sài Gòn, ngoài Ngôi Sao Gia Ðịnh, còn có Victoria Sportive, Commerce Sport, Jean Comte, Sport Cholonaise, Khánh Hội Sport, Tân Định Sport, Gò Vấp, Hiệp Hoà, Chợ Quán, Phú Nhuận, Đồng Nai, Enfants de Troupe…; ở các tỉnh có: Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Gò Công, Châu Đốc, Mỹ Tho... Còn về sân bãi, phải kể đến các sân Vườn Ông Thượng (tức sân Tao Đàn), sân Citadelle (tức sân Hoa Lư), sân Renault (sau đổi thành sân Cộng Hoà, tức sân Thống Nhất ngày nay); một số khác chỉ còn trong ký ức như các sân Fourières (ở Bà Chiểu, gần lăng Lê Văn Duyệt), Mayer (góc đường Võ Thị Sáu - Trần Quốc Thảo ngày nay), và Marine (ở gần Trung tâm Mắt Thành Phố hiện nay)... Trên các sân này, đã xuất hiện bao thế hệ cầu thủ bóng đá Việt Nam mà tên tuổi vẫn còn lưu mãi trong ký ức tập thể của giới mộ điệu.
Ngoài các giải, cúp khá rầm rộ tại Sài Gòn và ở các tỉnh, Tổng Cuộc Bóng Ðá An Nam còn tổ chức tiếp đón nhiều đội bóng nước ngoài, và cử đội tuyển đi thi đấu tại Thái Lan, Campuchia, Malaysia,... Cao trào ấy đã làm môn thể thao vua này lan rộng ra cả nước. Đi đến đâu, bóng đá cũng được dân ta hưởng ứng, luyện tập, và tham gia nhiệt tình. Thuở ấy bóng đá chưa thành nghề mưu sinh, và người chơi bóng chỉ xem đây là một thú tiêu khiển, tập luyện nhằm nâng cao sức khỏe là chính yếu. Đa phần cầu thủ đều sống đạm bạc, đi bộ hay đón xe thổ mộ đến sân tập dượt; thỉnh thoảng mới được các chủ hội cho vài cắc ăn hủ tiếu, uống cà phê khi đá thắng.
Một khía cạnh lý thú khác: mặc dù là cội nguồn bóng đá của cả nước, Sài Gòn chưa có bóng đá nữ. Khoảng năm 1932, ở miệt vườn Cần Thơ mới xuất hiện đội bóng nữ Cái Vồn do ông bầu Sửu thành lập (kỹ sư canh nông Trần Khắc Sửu, sau làm tổng thống VNCH khoảng 1964-1965; còn Cái Vồn là đội nữ đầu tiên của Việt Nam và có thể của cả Á Châu!). Vài năm sau, có thêm đội Bà Trưng ở miệt Rạch Giá - Long Xuyên. Vào những dịp lễ Tết, các đội này kéo "gánh" lên Sài Gòn... biểu diễn. Một kỳ tích: năm 1933, đội nữ Cái Vồn thi đấu với đội nam Paul Bert tại sân Mayer, và hòa 2-2!
b. MIỀN BẮC VÀ MIỀN TRUNG:
Ở miền Bắc, cho đến khoảng năm 1900, ba môn thể thao mà người Pháp thường chơi và được báo chí nói đến là đua ngựa, đấu kiếm và ném quả lăn. Như vậy, bóng đá có lẽ đã chỉ xâm nhập vào đất Bắc khoảng 1906-1907, sau tiếng vang do cuộc viếng thăm của đội King Alfred ở Sài Gòn.
Ngày 22/12/1909, tờ báo tiếng Pháp Tương Lai Bắc Kỳ (L'Avenir du Tonkin) mới viết vài dòng về trận đấu giữa đội bóng Lê Dương Đáp Cầu (Legion Đáp Cầu) và đội Olympique Hải Phòng (đội Hải Phòng khi đó bao gồm cả cầu thủ người Pháp lẫn người Việt), với mấy dòng tường thuật như sau: Trận đấu diễn ra sôi nổi khiến khán giả rất thích. Các cầu thủ Đáp Cầu chơi có phần hay hơn, nhưng Hải Phòng chơi cũng chặt chẽ, lại không biết dùng đầu. Hai bên biểu diễn hòa nhã, không kêu hét ầm ỹ. Trọng tài công bằng. Cuối cùng Hải Phòng thắng: 2-1. Nhưng ở trận phục thù, cũng tờ Tương Lai Bắc Kỳ ngày 30/1/1910 cho biết Lê Dương Đáp Cầu đã thắng lại đội Hải Phòng 8-1, ngay trên sân Hải Phòng.
Riêng ở Hà Nội, tháng 2 năm 1912, một Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội (Stade Hanoien) cũng ra đời, bao gồm các đấu thủ người Việt và một số người Pháp như Menin, Megy, Bernard, Bonardi... Về phía quân đội Pháp, họ có Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa (Régiment d’Infanterie Coloniale, RIC), Ngôi Sao Xanh (Étoile Bleue), Lê Dương Đáp Cầu, Lê Dương Việt Trì, và một vài đội nữa. Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa có trình độ khá cao, với nhiều cầu thủ còn để lại tiếng tăm lâu dài như Luier, Lauroix, Marinelli, Beye.
Ngày 1/11/1913, trận cầu giữa Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội và Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa đã lôi cuốn được gần 3.000 khán giả, kết quả đội bộ binh Pháp thắng 5-3.
Trong hai thập kỷ 1910-1920, các đội bóng của người Việt phát triển mạnh. Mới đầu chỉ là những đội chân đất do học sinh các trường đi tiên phong. Bóng dùng là bóng cao-su mầu trắng mua từ các cửa hàng người Hoa, Việt hoặc Nhật. Nhiều khu phố cũng có đội bóng riêng. Hà Nội thuở ấy chỉ có khoảng trên dưới 10 vạn dân, các trận giao hữu thường diễn ra ở mọi bãi trống, thậm chí cả trên các ngã ba, ngã tư phố vắng, đặc biệt là gần Nhà thương Đồn Thủy (bệnh viện Hữu Nghị hiện nay) hoặc trước Trường Hàng Kèn (Quang Trung hiện nay), đường Gambetta (Trần Hưng Đạo hiện nay)...
Sau này, để có sân chơi tương đối đúng kích thước cho các giải chân đất và chân giày của người Việt, Ðội Chớp Nhoáng (Eclair) và Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội mới hợp tác lập ra sân Nhà Dầu (gần kho xăng hãng Shell, sát cầu sông Cái, nay là cầu Long Biên). Riêng sân Mangin (sân Hàng Cỏ, nay gọi là sân Cột Cờ) có kích thước chính xác nhất, thuộc về nhà binh Pháp quản lý và chỉ được dùng cho các giải thi đấu chân giày chính thức. Chính trên sân Mangin, một giải vô địch bóng đá riêng cho Bắc Kỳ đã được tổ chức lần đầu vào khoảng 1918-1919, với không khí tưng bừng của ngày lễ hội: một tiểu đội quân nhạc vừa đi vừa thổi kèn quanh sân, sau đó trận bóng mới bắt đầu. Lúc đầu khán giả vào xem không mất tiền; về sau, ban tổ chức mới kê bàn ngăn bốn đường vào sân bán mỗi vé một hào.
Ðấy là về sân chơi. Về các đội bóng, những năm cuối thập niên 1930 đầu 1940 là đỉnh cao của bóng đá Việt Nam thời kỳ đầu, cả về phong trào cũng như thành tích. Thời kỳ này hầu như tỉnh nào cũng có một đội bóng, từ Bắc vào Trung, không kể Nam Bộ là nơi khởi thủy. Ở phía Bắc, ngoài Chớp Nhoáng (do nhà mạnh thường quân, kiêm tiền vệ nổi danh Trần Văn Quý cầm đầu) và Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội, còn phải kể đến Racing Club, Lạc Long Ngọn Giáo (La Lance), Hoả Xa (Usaga), Trường Bưởi (Chu Văn An hiện nay), Đại học (Université Club), Ngân Hàng, Ô-tô Han (Auto Hall)…ở Hà Nội, Voi Vàng Ðất Cảng, Olympique Hải Phòng, Mũi Tên (La Flèche), Radium (Trung Học), Thanh Niên Bắc Kỳ (La Jeunesse Tonkinoise) ở Hải Phòng, Hồng Bàng ở Nam Định, Phủ Lý Thể Thao ở Phủ Lý, đến như Lạng Sơn là một địa đầu biên giới miền núi cũng có Le Semeur. Miền Trung cũng có ASNA Vinh, Sept Huế, Touranne, Faifo Cheminot Nha Trang.
c. HỮU NGHỊ ĐÔNG DƯƠNG:
Năm 1931, nhận lời mời của Tổng Cuộc Bóng Ðá ở Sai Gòn, các đội Chớp Nhoáng ở Hà Nội và Thanh Niên Bắc Kỳ ở Hải Phòng là những đội đầu tiên từ miền Bắc đi ô-tô vào Nam thi đấu giao hữu; chuyến "Nam du" vô cùng vất vả và chật vật (Ngôi Sao Gia Định hạ Chớp Nhoáng 5-0, Victoria Sport thắng Thanh Niên Bắc Kỳ 1-0), nhưng có tác dụng chắp nối nhịp cầu thể thao Bắc - Nam rất lớn.
Năm 1936, khi khánh thành đường xe lửa Đông Dương, Thứ Trưởng Bộ Thuộc Ðịa Pháp Léo Lagrange đã có điều kiện tổ chức lần đầu tiên một cuộc thi đấu gồm 5 đội tuyển: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia (lúc đầu mang tên là Giải Léo Lagrange, sau đổi thành Giải Petain, rồi Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương). Từ đấy, cuộc thi đấu tranh giải trở thành truyền thống hàng năm, khi hội đủ điều kiện.
Cũng vào khoảng thời gian này, thế chiến thứ hai bùng nổ. Mặt Trận Việt Minh ra đời và công khai vận động nhân dân đứng lên giành độc lập. Nhà cầm quyền Đông Dương khởi xướng phong trào Khoẻ Ðể Phụng Sự, giao cho đại tá Ducroy tổ chức Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương, hầu lôi kéo một bộ phận thanh niên thành thị lao vào thể thao mà xa lánh chính trị. Cùng với nhiều bộ môn thể thao khác như bóng bàn, đua xe đạp, đấu quyền Anh,... bóng đá cũng đã thừa cơ phát triển rộng khắp, và đạt được nhiều kết quả khả quan. Nhưng từ 1945 trở đi, do tình hình chính trị khẩn trương và sau đó là chiến tranh, việc tổ chức cũng như trình độ bóng đá đều đình trệ và xuống cấp. Riêng về Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương, có thể ghi lại kết quả của 4 năm đầu:
- Lần 1 (1941) Hà Nội: Nam Kỳ hạ Trung Kỳ 4-2, đoạt chức vô địch.
- Lần 2 (1942), Huế: Nam Kỳ hạ Bắc Kỳ 3-2, giữ chức vô địch
- Lần 3 (1943) Pnôm Pênh: Nam Kỳ hạ Trung Kỳ 1-0, giữ chức vô địch
- Lần 4 (1944) Pnôm Pênh: Bắc Kỳ hạ Nam Kỳ 3-0, giành chức vô địch.
2. THÀNH TÍCH QUỐC TẾ:
Nếu như những năm đầu thập kỷ 1930, đội bóng Nam Hoa của Hồng Kông thắng các đội Việt Nam dễ dàng, và trung phong Lý Huệ Đường đã ngạo mạn nhận xét: bóng đá An Nam như ếch ngồi đáy giếng làm sôi máu làng cầu nước ta thì chỉ mấy năm sau, cùng với đội hình chưa mấy đổi thay, Lý "Cầu Vương" và các đồng đội Phùng Cảnh Tường, Lê Triệu Vinh đã hết qua nổi các hậu vệ Cao Hoài Cúi, Nguyễn Hữu Đước, Trương Tấn Bửu của đội An Nam. Ngược lại, hậu vệ Lưu Khánh Tài, Lý Thiên Sanh của Nam Hoa không cản được cặp Tiền - Tốt phá lưới, buộc thủ môn Bảo Gia Bình của Nam Hoa phải nhiều lần vào cầu môn nhặt bóng.
Năm 1938, Hoa Nam thua đội tuyển Nam Kỳ 1-2 tại Gia Định. Tháng 5/1938, sang thi đấu tại Hồng Kông, Tuyển Nam Kỳ thắng Tuyển Hồng Kông 4-0, hoà Hoa Nam 1-1, thắng Hải Quân Anh 6-2, thắng Quân Ðội Anh ở đó 3-0, sang Philipin thắng Létan 4-0, và La Salle (đương kim vô địch Philipinnes) 3-0...
Sau đó là Thế Chiến thứ hai, rồi chiến tranh Việt - Pháp; và tất nhiên là chiến tranh đã làm nền bóng đá Việt Nam dậm chân tại chỗ. Về thành tích chung cả ba miền thì năm 1951, một đội tuyển Việt Nam (với thành phần gồm Quyền, Quới, Waico, Vẹn, Thọ 2, Tư, Mỹ, Cưỡng, Hiếu, Trọng, Ðức của miền Nam, Hiệt của miền Trung, Thọ Ve, Ứng, Hợi, Khuê của miền Bắc)... được phép đi thi đấu giao hữu ở Algeria, Pháp (thua Nice 1-4, Rouen 1-3) và Thụy Ðiển (thua Stockhom 1-4).
Cho đến năm 1954, thành tích quốc tế chính thức duy nhất (đồng thời có thể xem như đầu tiên và cuối cùng) của đội tuyển quốc gia Việt Nam thời Pháp thuộc là tham dự Á Vận Hội lần thứ hai được tổ chức tại Manila (Philipin), dù không vượt thoát nổi vòng loại (thắng Philipin 3-2, thua Ðài Loan 1-2). Mặt khác, cột mốc đáng ghi nhớ nhất ở đây nằm ngoài lĩnh vực thể thao: trong khi thi đấu thì hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm thời chia đôi, nên đội tuyển Việt Nam (với thành phần: Lâm Kinh, Quí, Quới, Pierre Nhung, Thọ, Hiếu, Maurice Tài, Myo Hồ, Coón, Mỹ, Thách, Phải, Ðức, Tư, Chạc của miền Nam, thêm Ứng, Hợi, Khê từ miền Bắc) vừa về đến Sài Gòn thì đành phải chia thành hai ngả.
Nhưng cũng từ năm 1954 trở đi, khi hoà bình được lập lại phần nào sau hiệp định Genève, phong trào bóng đá ở cả hai miền mới được phục hồi và nhanh chóng phát triển trở lại, dù trong điều kiện đất nước chia đôi và sau đó là chiến tranh lần nữa.
Ở miền Bắc, đội bóng đá Thể Công, ra đời từ phong trào thể thao của QĐNDVN và được chính thức thành lập ngày 23/9/1954, thi đấu và phát triển mỗi ngày một mạnh, nhiều năm đoạt chức vô địch.
Năm 1960, do yêu cầu xây dựng "mũi nhọn đỉnh cao", Trường Huấn luyện TDTT Trung ương được thành lập. Đội tuyển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà thời đó (thực chất là lấy Trường Huấn luyện quốc gia làm nòng cốt, phối hợp cùng Thể Công) được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Đức... đã đạt được thành tích cao ở các giải Galefo (Indonesia, 1963) và Galefo Châu Á (Campuchia, 1966), và trong các cuộc thi đấu thuộc khu vực cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, đương đầu ngang ngửa với các đội mạnh như đội tuyển Trung Quốc, Triều Tiên, có lần còn thắng cả đội tuyển trẻ Liên Xô tại Moscow. Lớp cầu thủ: Thọ, Long, Phàn, Ngọc, Chính, Vinh, Từ Hiển, Hùng (xồm), rồi tiếp đến lớp Khánh, Giáp, Thế Anh thực sự đã đạt được những bước tiến dài, đáng tự hào của bóng đá miền Bắc Việt Nam.
Trong Nam, bóng đá cũng phát triển mạnh suốt thời gian ấy, làm cho các nước trong khu vực phải kính nể. Vào cuối thập kỷ 1950, đội tuyển Việt Nam Cộng Hoà đã trở thành 1 trong 4 "cường quốc bóng tròn Châu Á", khi lọt vào vòng chung kết giải Vô địch châu Á 1960 cùng với Nam Hàn, Ấn Độ, Trung Hoa quốc gia (do Hồng Kông đại diện). Cựu "Đại Vương Túc Cầu" Lý Huệ Đường, HLV của đội tuyển Hồng Kông, người trong thập niên 1940 đã từng chê bóng tròn Việt Nam như ếch ngồi đáy giếng, bây giờ phải công nhận rằng đội Việt Nam có lối đá đa dạng nhất trong các đội châu Á, và các cầu thủ Việt Nam là những thuật sĩ bóng tròn trên sân cỏ.
Một chứng cớ khác: khi ghé Sài Gòn để đá giao hữu với Ðội Tuyển Việt Nam Cộng Hoà năm 1959, nhà dìu dắt đội Nhật đã tặng cho Tổng Cuộc Bóng Đá Việt Nam một đôi giầy nhỏ trước khi thi đấu, với ý nghĩa trình độ bóng đá của Nhật chỉ như đôi giầy nhỏ này so với Việt Nam, mong rằng sau các lần thi đấu, Nhật sẽ học hỏi được nhiều bài học quý giá từ một làng bóng có tiếng ở châu Á. Song chỉ 5 năm sau, bóng đá Nhật không còn là đôi giầy nhỏ nữa.
Từ năm 1960 đến năm 1966, Việt Nam Cộng Hoà thường được xếp hạng từ thứ ba đến thứ nhất trong các giải bóng đá tại châu Á. Một trong những sự kiện đáng ghi nhớ nhất của lịch sử thể thao Việt Nam là Ðội Tuyển Việt Nam Cộng Hoà, dưới sự hướng dẫn của huấn luyện viên Weigang người Ðức, đã đoạt Cúp Merdeka lần thứ 10 do Malaysia tổ chức năm 1966, với sự tham dự của 12 đội bóng của 12 nước. Giải này ra đời từ năm 1957, do sáng kiến của Thủ Tướng Malaysia Abdul Rahman (vốn là cựu hậu vệ của đội tuyển quốc gia, và Merdeka có nghĩa là Ðộc Lập), lúc bấy giờ đã trở thành một giải bóng đá quốc tế hàng năm rất có uy tín trên khắp lục địa.
Về nội bộ, năm 1954 cũng đánh dấu một thay đổi lịch sử khác là sự mất mát của Ngôi Sao Gia Định. Vì nhiều lý do khác nhau, nhóm cầu thủ đã làm rạng danh bộ áo màu xanh đen với ba sọc ngang và ngôi sao trên ngực trái mỗi người bỗng đi một ngả, song chủ yếu là về đầu quân cho AJS (Association de la Jeunesse Sportive), hoặc Cảnh Sát. Cùng với hai đội khác là Tổng Tham Mưu (TTM) của Quân Ðội và Quan Thuế ít lâu sau, bốn đội này luân phiên thống trị bóng đá miền Nam cho đến năm 1975. Năm 1968, khi giải vô địch Á Châu dành cho các câu lạc bộ vô địch ở mỗi quốc gia (C1) được tổ chức lần đầu tiên tại Bangkok, đội AJS đại diện cho VNCH đã sang dự thi, hoà với Bangkok Bank (Thái Lan), và Mysou State (Ấn Ðộ) 1-1, hạ Lions (Philipin) 6-1, thắng Yangzee (Ðại Hàn) 5-3, chung cuộc đứng thứ 5 trong số 10 đội tham dự.
Nói tóm lại, dù ở mức độ quốc gia hay câu lạc bộ, bóng đá cả hai miền đều phát triển khả quan. Riêng trong Nam, nền bóng đá VNCH đã nghiễm nhiên trở thành một cường quốc trong vùng Ðông Nam Á, và đang trên đường chinh phục toàn bộ lục địa thì bị gián đoạn.
BÓNG ĐÁ MIỀN NAM VÀ THÀNH TÍCH QUỐC TẾ (1930-1975)
Thành tích quốc tế của các đội tuyển miền Nam (với những danh xưng khác nhau, từ Ðội Tuyển Nam Kỳ, Nam Việt, Sài Gòn, đến Việt Nam Cộng Hoà), qua các giải bóng đá thế giới, Á Châu, và các trận hữu nghị quốc tế, có thể được ghi lại như sau:
World Cup
- 1974, Khu vực châu Á: VNCH tham dự lần đầu, bị loại sau 3 trận (2 thua 1 thắng: VNCH- Ðại Hàn 0-4, VNCH Hông Kông 0-1, VNCH-Thái Lan 1-0)
Thế vận hội
- 1963, Tranh vòng loại Thế Vận Hội Tokyo 1964, bị loại bởi Ðại Hàn và Israël (VNCH - Isarel 0-1 tại Sài Gòn, Israël - VNCH 0-2 tại Tel Aviv, Đại Hàn - VNCH 3-0 tại Seoul, VNCH- Đại Hàn 2-2 tại Sài Gòn).
- 1968, Tranh vòng loại Thế Vận Hội Mexico 1968, bị loại vì chỉ đứng thứ 4 trên 6 đội trong bảng, với kết quả là 2 trận thắng, 1 hoà, 2 thua (VNCH - Philipin 10-0, VNCH - Ðài Loan 3-0, VNCH - Lebanon 1-1, Nhật Bản - VNCH 1-0, Đại Hàn - VNCH 3-0.
Vô địch quốc gia châu Á
- Lần 1 (1956, Hông Kông), thua Israël và Ðại Hàn, không vượt thoát vòng loại.
- Lần 2 (1960, Seoul) sau khi đứng đầu bảng ở vòng loại (có Malaysia, Singapore), VNCH lọt vào vòng chung kết, xếp thứ 4 sau khi thua Đại Hàn 1-5, Ðài Loan 1-3 và Isarel 1-5.
ASIAD (Á Vận Hội)
- Lần 1 (1951, New Dehli), VN không tham dự
- Lần 2 (1954, Manila), VN không vượt thoát vòng loại, thắng Philipin 3-2, thua Hông Kông (đại diện cho Ðài Loan) 1-2.
- Lần 3 (1958, Tokyo), VNCH hoà Pakistan 1-1, thắng Malaysia 6-1, nhưng vẫn bị loại
- Lần 4 (1962, Jakarta), VNCH đứng thứ 4 trong số 8 đội tham dự (thua Ấn Ðộ 2-3 ở bán kết, thua Malaysia 1-4 trong trận tranh huy chương đồng)
- Lần 5 (1966, Bangkok), VNCH không vượt thoát vòng loại, do thua trận quyết định trước Singapore 1-4.
- Lần 6 (1970, Bangkok), VNCH không vượt thoát vòng loại.
SEA Games
- Lần 1 (1954, Bangkok), VNCH - Thái Lan 3-1, huy chương vàng
- Lần 2 (1961, Rangoon), VNCH - Thái Lan 0-0 (sau khi hạ Lào 7-0), huy chương đồng
- Lần 3 (1965, Kuala Lumpur), VNCH - Singapore 4-1, huy chương đồng.
- Lần 4 (1967, Bangkok), VNCH - Miến Ðiện 0-1, huy chương bạc.
- Lần 5 (1969, Rangoon), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng.
- Lần 6 (1971, Kuala Lumpur), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng.
- Lần 7 (1973, Singapore), VNCH - Miến Ðiện 2-3, huy chương bạc.
- Lần 8 (1975, Bangkok), CHXHCNVN không tham dự.
Giao hữu
- 1930, tiếp Lạc Hoà (Thượng Hải) và Nam Hoa (Hông Kông): Ngôi Sao Gia Định - Lạc Hoà 0-3, Ngôi Sao Gia Ðịnh - Nam Hoa 1- 4 Commerce Sport - Nam Hoa 1-1, Tuyển An Nam - Nam Hoa 2-2.
- 1936, tiếp Đội Tuyển Trung Hoa chuẩn bị dự Thế Vận Hội Berlin 1936 Nam Kỳ B - Tuyển Trung Hoa 1-8, Nam Kỳ A - Tuyển Trung Hoa 1-4.
- 1937, tiếp Đội Tuyển Tinh Châu (Singapore bây giờ) . Liên quân Auto Hall/Cảnh Sát - Tuyển Tinh Châu 1-1 Tuyển Nam Kỳ - Tuyển Tinh Châu 1-3.
- 1949, tiếp Đội Tuyển Pháp B ; Tuyển Nam Việt - Pháp B 1-2.
- 1950, tiếp Djurgarden (Thụy Ðiển, qua chiếc cầu nối là nhà báo thể thao Vol Lyberg). Ngôi Sao Gia Ðịnh - Djurgarden 0-3, Nam Việt B - Djurgarden 1-3 Nam Việt A - Djurgarden 2-3.
- 1951, tiếp Nam Hoa (Hồng Kông) Tuyển Nam Việt - Nam Hoa 1-3 ; Liên Quân Cảnh Sát/Ngôi Sao Gia Ðịnh - Nam Hoa 1-3 ; AJS - Nam Hoa 1-1 ; AJS - Nam Hoa 3-1.
- 1952, tiếp Nam Hoa Tuyển Nam Việt - Nam Hoa 1-3 ; AJS - Nam Hoa 3-1, Liên Quân AJS/TTM - Nam Hoa 1-3 ; Cảnh Sát - Nam Hoa 1-0.
- 1953, tiếp Lask (Áo) và Djurgarden (Thụy Ðiển) Cảnh Sát - Lask 1-2 ; AJS - Lask 0-1 và 2-0 Nam Việt B - Lask 1-8 ; Nam Việt A - Lask 1-4 AJS - Djurgarden 0-2 ; Nam Việt B - Djurgarden 1-2 ; Nam Việt A - Djurgarden 2-3 ; (Bắc Việt - Djurgarden 1-7).
- 1954, tiếp AIK (Thụy Ðiển) ; AJS - AIK 2-2.
- 1958, tiếp Wacker (Áo) Tuyển Quân Ðội - Wacker 0-1 ; Tuyển Sài Gòn - Wacker 4-1.
- 1959, tiếp Đội Tuyển Vienner (Áo), Djurgarden (Thụy Ðiển) và Đội Tuyển Nhật Bản Tuyển Sài Gòn - Vienner 4-1 ; Liên Quân AJS/Cảnh Sát - Djurgarden 1-3 Tuyển Quân Ðội - Djurgarden - 1-1 ; Tuyển Sài Gòn - Djurgarden 3-1. Tuyển Quân Ðội - Nhật Bản 3-1 ; Tuyển Sài Gòn - Nhật Bản 3-1.
- 1961, tiếp Nơrkoping (hạng ba Thụy Ðiển) và Young Boys (vô địch Thụy Sĩ) Tuyển Sài Gòn - Nơrkoping 1-1 và 0-4. TTM - Nơrkoping 2-1 ; Cảnh Sát - Young Boys 3-2.
- 1962, tiếp Lima (Peru), Đội Tuyển Quân Ðội Hoàng Gia Anh và Đội Tuyển Đài Loan TTM – Lima 0-3 ; Tuyển Sài Gòn - Lima - 2-2. Tuyển Quân Ðội - Quân Ðội Anh 1-4 ; Tuyển Sài Gòn - Quân Ðội Anh 0-2 Quan Thuế- Ðài Loan 0-1 ; Liên quân AJS/TTM - Đài Loan 0-0 Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 1-1 ; Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 3-1.
- 1963, tiếp Nguyên Lãng (Hồng Kông) ; AJS - Nguyên Lãng 4-1. 1965, tiếp Odense (vô địch Ðan Mạch) ; Tuyển Sài Gòn - Odense 1-2.
- 1969, tiếp Đội Tuyển Đài Loan do Lý Huệ Đường hướng dẫn TTM - Ðài Loan 2-1 ; Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 2-0. 1973, tiếp FC Hertha 03 (Tây Ðức) ; Tuyển Sài Gòn FC Hertha 1-1.
- 1975, tiếp FC Hertha 03 (Tây Ðức) Tuyển Sài Gòn - FC Hertha 1-2. Tuyển Sài Gòn - FC Hertha 0-1
Viễn du
- 1938, Lần đầu tiên Đội Tuyển Nam Kỳ viễn du thi đấu (với thành phần Tịnh, Tài, Cúi, Xê, Bạch, Bửu, Vẹn, Paccini, Vân Bông, Mạnh, Guichard, Quang, Tốt, Tiền, Đại). Tại Hông Kông, thắng 3, hòa 1 (1-1với Nam Hoa). Tại Philipin thắng 4 hoà 1, thua 2...
- 1940, Đội Tuyển Nam Kỳ sang Hồng Kông thi đấu, thua Nam Hoa 0-1, thắng Macau 2-1, và Hồng Kông 3-0.
- 1955, Đội TTM thi đấu giao hữu tại Pnôm Pênh và thua Cảnh Sát Cao Miên 1-3. 1962, Đội Tuyển Sài Gòn sang Indonesia thi đấu, thắng Jakarta 4-3, Sourabaga 2-0 và Tuyển Indonesia 2-1.
Các giải khác
- 1934, Giải Liên Cảng do Lãnh Sự Pháp ở Hồng Kông tổ chức tại Sài Gòn. Tuyển Nam Kỳ thắng Hồng Kông 3-1 và 6-0. Giải này sau đó vì nhiều lý do nên không được tổ chức nữa.
- 1959, Giải Merdeka lần thứ 3: TTM đại diện VNCH thắng Ấn Ðộ 3-1, Nhật 3-2, Singapore 2-1, và chỉ thua Malaysia ở vòng đầu, chung cuộc đứng hạng ba trong số 9 nước tham dự.
- 1961, Giải Bóng Ðá Quốc Tế tại Sài Gòn lần 1, VNCH đoạt chức vô địch VNCH - Indonesia 4-1 ; VNCH - Malaysia 1-0.
- 1964, Giải Vô Ðịch Thiếu Niên Á Châu tranh tại Sài Gòn, Ðội Tuyển Thiếu Niên VNCH xếp thứ ba ở bảng loại và chung cuộc đứng thứ 7 trong số 8 đội tham dự. Hai đội Miến điện và Israël đồng vô địch, sau khi hòa 0-0 ở trận chung kết.
- 1966, Giải Merdeka lần thứ 10: Ðội Tuyển VNCH thắng Singapore 5-0, Nhật Bản 3-0, Malaysia 5-2, Ðài Loan 6-1 đứng đầu bảng vòng loại (4 chiến thắng, 8 điểm, hiệu số bàn thắng bại 19/3), trên đội thứ nhì là Ấn Ðộ rất xa (6 điểm, 2 thắng, 2 hoà). Ðể dưỡng quân, Huấn Luyện Viên Weigang xếp thành phần trừ bị để đấu với Ấn Ðộ và chỉ thua 0-1, sau đó thắng Miến Ðiện 1-0 trong trận chung kết, đoạt cúp (Ðội Tuyển VNCH 1966, với thành phần tuyển thủ: Châu, Chinh, Ngôn, Mộng, Lắm, Tam Lang, Có, Hiển, Hội, Thanh, Vinh, Thuận, Chiêu, Quang, Chánh, Phụng, Ðức, Xê)
- 1969, Giải King's Cup (Thái Lan), Ðội Tuyển VNCH xếp thứ ba sau khi thắng Tây Úc 3-1, Lào 7-0, hòa Singapore 1-1, thua Indonesia 1-3 và Đại Hàn 0-3.
- 1971, Giải Presta Sukan lần 1 tại Singapore, Ðội Tuyển VNCH đồng vô địch với Ấn Ðộ sau khi hòa 0-0 ở trận chung kết.
- 1971, Giải Vô Ðịch Quân Ðội khu Viễn Ðông (CISM), Ðội Tuyển Quân Ðội VNCH đoạt chức vô địch (với thành phần có Tiết Anh, Võ Thành Sơn, Quang Đức Vĩnh, Võ Bá Hùng...).
- 1974, Giải Vô địch Học Sinh Á Châu tại Philipin, Ðội Tuyển Học Sinh VNCH xếp hạng ba sau khi thắng Thái Lan 3-1, trước đó ở vòng loại đã thắng Indonesia 3-1, Singapore 2-0 và thua Malaysia 1-2. Chức vô địch thuộc về Malaysia.
neverback
04-11-2004, 18:02
Trong thế giới bóng đá có rất nhiều điều tưởng như nhỏ nhặt nhưng rất thú vị, ví như hai cái tên Athletic Bilbao và Aletico Madrid cùng của Tây Ban Nha mà đã thấy khác nhau rồi, hay xuất xứ các CLB, mối duyên nợ giữa các đội bóng…. nói chung là tất cả những gì liên quan đến bóng đá mà chúng ta có thể chưa biết.
Bóng đá và chim có liên hệ gì với nhau không các bạn. Các bạn có thể cho rằng: thật vớ vẩn, chim thì có dính dáng gì đến bóng đá. Thế mà có đấy!
Một số đội bóng ở Giải PL có những hình con chim trên huy hiệu hay logo của mình và biệt danh của các đội bóng cũng xuất phát từ đó mà ra. :D
Gà bantam: Bradford City, Anh
Chim sơn ca: Cardiff City, xứ Wales
Barrow AFC, Anh
Chim hoàng yến: Norwich City, Anh
FC Nantes, Pháp
Đại bàng đen: Bestika, TNK
Đại bàng: Crystal Palace, Anh
Chim ác là:Newcastle United, Anh
Notts County, Anh
Con cú: Sheffield Wednesday, Anh (đây là ngoại lệ vì sân của SW nằm trong quận Owlerton của Sheffield)
Chim cổ đỏ: Bristol City, Anh
Swindon Town, Anh
Muông biển: Brighton & Hove Albion, Anh
Thiên nga: Swansea City, xứ Wales
Chim hoàng yến vàng: Fenerbache SK Istanbul, TNK
St
JakeSatan
11-11-2004, 14:24
10 vụ phản bội
http://images6.us.tintucvietnam.com/Uploaded/yennh/Figo.jpg
Figo, "tên phản bội" to gan nhất xứ bò tót.
Luis Figo
Chuyển từ Barcelona sang Real Madrid để được lĩnh 72.000 bảng/tuần, đây là quyết định vì tình yêu? Sự đối nghịch giữa Real và Barca còn hơn cả thù địch giữa Tin lành và Cơ đốc. Nhưng, bằng “nghị lực”, Figo đã vượt lên tất cả để trở thành tên... Judas to gan nhất ở xứ sở bò tót. Và trong một lần trở lại Camp Nou (năm 2002), Figo nhận được 1 rừng chai lọ, dao và cả... thủ lợn.
Ronaldo
Chấn thương 33 tháng ở Inter Milan là cực kỳ đen đủi nhưng Ronaldo cũng nhờ dịp đó mà anh nhận ra “người cha thứ 2” - Chủ tịch Massimo Moratti. Ấy thế mà, vừa nhận đủ 132 tuần lương (75.000 bảng/tuần), chờ Moratti trả tiền điều trị xong, “người ngoài hành tinh” Ronaldo đã đứng dậy, “vuốt đuôi”, rồi “dông” thẳng một mạch sang Real Madrid. Cay lắm nhưng báo chí Italia chỉ biết chửi với theo: “Real, hãy mua nốt Moratti!’
Benito Carbone
Từng khoác áo 14 CLB, tình yêu của Benito trở nên quá “vĩ đại”. Với Bradford, “Tôi sẽ ở lại đây vì cầu thủ, CĐV, BLĐ là 1 gia đình”. Với Feyenoord, “Trái tim tôi là dành cho Feyenoord”… Vậy thực ra thì trái tim anh thuộc về ai đây!?
Pierre van Hooijdonk
‘‘7.000 bảng/tuần? OK! Chừng đó đủ. Nhưng không phải cho tôi mà là một đứa đánh giày!” và Pierre rời Celtic (1997) để đến Nottingham Forest với mức lương 4,5 triệu bảng/năm. Được đúng 11 trận, anh này lại chê ỏng chê eo “Forest là CLB hạng... gà” và chuyển đến Arnhem, rồi Benfica. Thậm chí, tháng 6/2003, Pierre còn quay lại kiện Forest đòi 650.000 bảng + 50.000 bảng tiền thưởng. Bó tay!
Alf Common
Đây được coi là kẻ phản bội lớn nhất thời “tiền sử”, người đầu tiên trên thế giới cán kỷ lục chuyển nhượng 1.000 bảng Anh. Cứ ở đâu mùi tiền “nặng” hơn là ở đó có Alf. Khởi nghiệp ở Sunderland, chạy sang Sheffield United năm 1901 vì 325 bảng, lộn lại Sunderland năm 1904 (520 bảng), bắt tàu đến Middlesbrough năm 1905 để phá kỷ lục thế giới (1.000 bảng)... Mọi chuyện đều có thể xảy ra, miễn là có tiền.
Charlie Mitten
Năm 1948, tiền vệ cánh của MU cũng chạy theo tiếng leng keng của những đồng tiền xu. Do không được tăng lương (10 bảng/tuần), Mitten đã “chạy” sang tận Santa Fe (Bogota, Colombia) chỉ vì 5.000 bảng (hoa hồng), mức lương mới 100 bảng/tuần, 1 ngôi nhà và 1 chiếc xe hơi. Nhưng rồi, do phạm luật, Mitten đã bị “đuổi” về Anh, bị cấm thi đấu 6 tháng và phạt 250 bảng.
Fabrizio Ravanelli
100 năm sau thời “tiền sử”, Alf Common có một hậu duệ xứng đáng mang quốc tịch Italia: Fabrizio Ravanelli. Yêu Boro, “Tôi dành cho Middlesbrough một tình yêu đặc biệt”. Nhưng vừa đặt chân đến Marseille: “Tôi không muốn trở lại Anh. Thành phố cảng này mới thật sự là thiên đường”. Lúc khoác áo Derby County, “Con người và thành phố này thật tuyệt với, tôi thậm chí có thể ở lại đây mà không cần lĩnh lương”.
Louis Saha
Ngay khi MU đưa ra đề nghị, tiền đạo của ĐT Pháp đã cuống cuồng gói ghém hành lý để chuyển từ London đến Manchester như thể nếu không đi ngay, anh sẽ... tắt thở! Bất chấp những lời chèo kéo của HLV Chris Coleman, của ông chủ Mohammed Al Fayed, Saha vẫn nằng nặc đòi đi và Luật Bosman đã “giúp” vụ phản bội diễn ra chóng vánh.
http://images3.us.tintucvietnam.com/Uploaded/yennh/Saha-MU.jpg
Winston Bogarde
Xét về thời gian, phải nói Bogarde là cầu thủ trung thành nhất thế giới, nhưng về tiền bạc, đây lại là vụ phản bội “chuối” nhất trong lịch sử. Kể từ năm 2000, hậu vệ người Hà Lan mới ra sân... 4 trận, tuy nhiên, vẫn lĩnh lương đều đều 40.000 bảng/tuần ở Chelsea. Đừng coi thường, sự lỳ lợm, trơ trẽn của Bogarde rất có giá: 8,3 triệu bảng/3 năm. Ngồi chơi ở đâu để kiếm chừng ấy tiền!
Xú Quận Mã
17-11-2004, 17:26
Một số tin về các huyền thoại:
+Alfredo Di Stefano :sinh ngày 4/7/1926,biệt danh "người Đức", đá 510 trận ghi 418 bàn
-khoác áo đội tuyển Argentina 6 trận ghi 6 bàn
-khoác áo đội tuyển Tây ban nha 31 trận ghi 23 bàn
Thành tích: 2 lần VĐQG Argentina với River,VĐ copa với ĐT Argentina,3 lần VĐ Colombia với Millinaros,8 lần VĐQG Tây ban nha 4 lần đoạt cúp C1,1 cúp liên lục địa với Real
+Pele (Edson Arantes Do Nascimento): sinh ngày 23/10/1940, Vua bóng đá đã chơi 1356 trận ghi 1281 bàn
Thành tích:16 lần VĐQG và VĐ bang Sao Paulo,2 Copa Libertadores, 1 cúp liên lục địa với Santos,người duy nhất dành 3 cúp thế giới với tư cách 1 cầu thủ
+Johan Cruyff: sinh ngày 25/4/1947, biệt danh "thánh Johan"
Thành tích :10 lần VĐQG Hàlan ,3 cúp C1, 1 cúp liên lục địa với Ajax
+Diego Armando Maradona:sinh ngày 30/10/1960, cầu thủ xuất sắc nhất mà bóng đá thế giới sản sinh ra, "Cậu bé vàng" đã chơi 686 trận ghi 350 bàn
Thành tích đáng chú ý nhất là VĐTG với ĐT Argentina năm 86, 2 lần VĐQG Italia với Napoli, và rất nhiều ...không kể hết được.
+Eric Cantona: 24/5/1966, King Eric đã chơi cho MU 181 trận ghi 80 bàn, đá cho tuyển Pháp 45 trận ghi 19 bàn.
Thành tích: 5 chức VĐQG Anh với MU và Leeds, 2 cúp FA, vô địch Pháp 1 lần với Marseille
JakeSatan
24-11-2004, 14:52
Luật I - SÂN THI ĐẤU
1. Kích thước: sân hình chử nhật, chiều dài tối đa là 120 mét và tối thiểu là 90 mét, chiều ngang tối đa 90 mét và tối thiểu là 45 mét. Sân theo tiêu chuẩn quốc tế có kích thước tối đa là 110 mét x 75 mét và tối thiểu 100 mét x 64 mét.
2. Các đường giới hạn, đường biên: rộng không quá 0, 12 mét. Mỗi góc sân có cột cờ không nhọn đầu, cao tối thiểu 1 mét 50. Điểm giữa đường giới hạn giữa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân hay còn gọi là điểm giao bóng. Lấy điểm này làm tâm kẻ một đường tròn bán kết 9 mét 15.
3. Khu cầu môn: từng đường biên ngang của mỗi phần sân, cách cột cầu môn 5 mét 50 kẻ vào sân hai đoạn thẳng dài 5 mét 50, vuông góc với đường biên cuối sân và kẻ đường nối liền hai đoạn thẳng ấy gọi là khu vực 5 mét 50.
4. Khu phạt đền: từng đường biên ngang của mỗi phần sân, cách cột cầu môn 16 mét 50 kẻ vào sân hai đoạn thẳng dài 16 mét 50, vuông góc với đường biên cuối sân và kẻ đường nối liền hai đoạn thẳng ấy gọi là khu vực 16 mét 50. Trong mỗi khu 16 mét 50 có một điểm được đánh dấu rõ ràng, đường kính 0, 22 mét, cách điểm giữa đường biên ngang 11 mét. Đó là điểm đá quả phạt 11 mét, hay còn gọi là phạt đền (penalty). Lấy tâm là điểm 11 mét kẻ 1 cung tròn bán kính 9 mét 15 ngoài khu 16 mét 50, để xác định vị trí đứng của các cầu thủ (ngoại trừ cầu thủ thực hiện quả 11 mét và thủ môn) khi thực hiện quả phạt.
5. Khu đá phạt góc: Lấy tâm là chân mỗi cột cờ góc, kẻ vào trong sân 1/ 4 vòng tròn có bán kính 1 mét. Đây là vị trí đặt quả bóng đá phạt góc. Một đoạn thẳng kẻ vuông góc vơi đường biên ngang, cách cột cờ góc 10 mét, giúp trọng tài xác định vị trí đứng của cầu thủ phòng ngự khi thực hiện quả phạt góc.
6. Khung cầu môn: đặt ở đường biên ngang cuối sân, gồm 2 cột dọc cách đều các cột cờ góc và khoảng cách giữa hai cột là 7 mét 32 (tính từ mép trong của cột), chiều cao cột là 2 mét 44 (tính từ mép dưới xà ngang). Các cột dọc và xà ngang có cùng kích thước và không quá 0, 12 mét. Lưới cầu môn phải làm bằng sợi vải, sợi đay hoặc sợi nylon.
Luật II - BÓNG THI ĐẤU
Bóng phải hình tròn. Chất liệu vỏ ngoài của bóng phải bằng da hoặc chất liệu khác được FIFA công nhận.
- Chu vi quả bóng không quá 0, 17 mét và không nhỏ hơn 0, 68 mét.
- Trọng lượng: không nặng hơn 450 gram và nhẹ hơn 410 gram.
- Áp suất của bóng từ 0, 6 đến 1, 1 átmốtphe (600 đến 1100gram/cm2).
- Chỉ có trọng tài chính mới được quyền thay bóng trong trận đấu.
Luật III - SỐ LƯỢNG CẦU THỦ
- Trong một trận đấu phải có 2 đội bóng. Mỗi đội có tối đa 11 cầu thủ trên sân, trong đó có 1 thủ môn.
- Một trận đấu không hợp lệ nếu một trong hai đội bóng không có tối thiểu 7 cầu thủ trên sân. Đội bóng không đủ cầu thủ chơi trên sân sẽ bị xử thua.
- Một cầu thủ bị đuổi khỏi sân trước khi trận đấu bắt đầu thì đội bóng đó có quyền thay thế bằng một cầu thủ khác. Trường hợp cầu thủ bị đuổi sau khi trận đấu bắt đầu thì không được phép thay thế cầu thủ dự bị khác.
Luật IV - TRANG PHỤC
- Trang phục cơ bản và bắt buộc của một cầu thủ gồm: áo, quần, vớ, giầy và bọc bảo vệ ống chân.
- Bọc ống chân phải được vớ dài phủ kín. Nguyên liệu của bọc ống chân phải thích hợp (bằng cao su, plastic, sáp hoặc các chất liệu tương tự) và có khả năng bảo vệ cao.
- Cầu thủ không được mang bất cứ vật gì gây nguy hiểm cho mình và cầu thủ khác khi vào sân.
- Thủ môn phải mặc áo khác màu với các cầu thủ trên sân và trọng tài.
Luật V - TRỌNG TÀI CHÍNH
- Mỗi trận đấu có 1 trọng tài chính để điều khiển. Quyền hạn và việc thi hành quyền lực của trọng tài chính do Luật bóng đá qui định, có hiệu lực khi trọng tài bước vào sân.
- Trọng tài có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm, kể cả trong những lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định của trọng tài chính, kể cả kết quả của trận đấu là quyết định cuối cùng.
- Trang phục của trọng tài khác màu hai đội.
Luật VI - TRỢ LÝ TRỌNG TÀI
Trong mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý trọng tài được xác định rõ nhiệm vụ như sau:
- Xác định bóng vượt qua giới hạn của sân.
- Xác định đội được hưởng phạt góc, đá quả phát bóng trong khu 5 mét 50 hoặc ném biên.
- Thời điểm cầu thủ đội tấn công phạm luật việt vị. - Xác định lỗi khiếm nhã hoặc sự cố khác xãy ra ngoài tầm nhìn của trọng tài chính.
- Phối hợp thực hiện thủ tục thay thế cầu thủ. Trường hợp trợ lý trọng tài không đảm đương được công việc, phạm sai sót thì trọng tài chính có quyền thay thế bằng trọng tài thứ tư.
Luật VII - THỜI GIAN TRẬN ĐẤU
- Một trận đấu được chia làm 2 hiệp và mỗi hiệp 45 phút.
- Thời gian nghỉ giữa hai hiệp không quá 15 phút. Điều lệ thi đấu phải xác định rõ thời gian nghỉ giữa hiệp.
- Việc bù giờ đã mất trong hiệp đấu vì các lý do: thay thế cầu thủ mất nhiều thời gian, cầu thủ chấn thương, nằm sân nhiều, cầu thủ có hành động kéo dài thời gian hoặc bất kỳ lý do nào khác.
- Trọng tài chính có quyền kết thúc trận đấu sớm hơn qui định vì một lý do nào đó (như an ninh, bạo động), nếu xét thấy thời gian không nhiều thì kết quả trận đấu được trọng tài chính công nhận, ngược lại trận đấu sẽ phải tổ chức lại.
Luật VIII - QUẢ GIAO BÓNG BẮT ĐẦU TRẬN ĐẤU VÀ QUẢ TUNG BÓNG
1. Quả giao bóng:
- Trước trận đấu bắt đầu bằng việc chọn sân. Đội chọn sân thì đội kia được giao bóng.
- Cầu thủ của đội mỗi đội phải đứng trên phần sân nhà, đội không giao bóng phải đứng bên ngoài vòng cung giữa sân (tức khoảng cách 9 mét 15). Khi trọng tài nổi còi bắt đầu trận đấu, cầu thủ giao bóng đá quả bóng ở vị trí trung tâm sân, bóng phải lăn đủ 1 vòng thì trận đấu mới được coi đã bắt đầu. Cầu thủ đá phải giao bóng đầu tiên không được chạm bóng lần hai.
- Sau mỗi bàn thắng, đội bị lọt lưới thực hiện quả giao bóng từ chấm giữa sân.
- Bắt đầu hiệp hai, hai đội đổi sân và đội không giao bóng khởi đầu trận đấu ở hiệp 1 sẽ được giao bóng đầu hiệp hai.
- Khi cầu thủ thực hiện quả giao bóng không đúng luật thì phải thực hiện lại lần hai. Trường hợp, cầu thủ đội giao bóng tiếp tục phạm luật lần hai thì đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp.
2. Quả tung bóng, hay còn gọi là quả "thả bóng chạm đất" được thực hiện sau khi trọng tài tạm dừng trận đấu.
Luật IX - BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC
Bóng ngoài cuộc:
- Khi đã vượt hẳn ra ngoài đường biên dọc hoặc đường biên ngang, dù bóng ở trên không hay dưới mặt sân.
- Khi trọng tài thổi còi dừng trận đấu.
Bóng trong cuộc:
- Tức ngoài hai trường hợp vừa nêu trong phần bóng ngoài cuộc.
- Kể cả các trường hợp sau: bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc, bóng bật vào sân từ trọng tài chính hoặc trợ lý trọng tài đứng bên trong sân, khi trọng tài chưa thổi dừng trận đấu sau một hành động phạm luật của cầu thủ.
Luật X - BÀN THẮNG HỢP LỆ
Bàn thắng được công nhận là hợp lệ khi toàn bộ quả bóng đã vượt qua đường cầu môn giữa hai cột dọc khung thành và dưới xà ngang, ngoại trừ: -
Những trường hợp đặc biệt do luật qui định.
- Quả bóng do cầu thủ tấn công dùng tay hoặc cánh tay ném, ôm hoặc đấm vào cầu môn.
Luật XI - LUẬT VIỆT VỊ
1. Một cầu thủ ở vị trí việt vị là khi cầu thủ đó đứng gần đường biên ngang cuối sân đối phương hơn bóng, trừ các trường hợp:
- Cầu thủ đó đang ở phần sân đội mình.
- Có ít nhất 2 cầu thủ đối phương gần biên ngang sân đối phương hơn.
2. Một cầu thủ đứng ở vị trí việt vị, nhưng vẫn chưa coi là vi phạm luật việt vị nếu:
- Không tham gia vào tình huống tấn công đó.
- Không gây trở ngại cho đội phòng ngự.
- Không tìm cách chiếm lợi thế trong vị trí việt vị.
- Nhận bóng trực tiếp từ quả ném biên, quả phát bóng. Việt vị chỉ được tính từ khi cầu thủ đồng đội chuyền bóng. Trọng tài cho đội phòng ngự được hưởng quả phạt việt vị bằng quả phạt gián tiếp ngay vị trí phạm lỗi, nhưng nếu điểm phạt trong khu cầu môn thì có thể đá ở bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn.
Luật XII - LỖI VÀ HÀNH VI THIẾU ĐẠO ĐỨC
1. Những lỗi phạt trực tiếp:
- Đá hoặc tìm cách đá vào người đối phương.
- Ngáng chân đối phương.
- Nhảy vào ngừơi đối phương.
- Chèn đối phương.
- Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.
- Xô đẩy đối phương.
Hoặc phạm 1 trong 4 lỗi sau đây:
- Khi xoạc bóng, chân tiếp xúc với người đối phương trước khi chạm bóng.
- Lôi kéo đối phương.
- Nhổ nước bọt vào mặt đối phương.
- Cố tình dùng tay chơi bóng. Nếu điểm phạm lỗi trong khu vực 11 mét, trọng tài cho đội tấn công được hưởng quả 11 mét.
2. Những lỗi phạt gián tiếp:
Một cầu thủ phạm 1 trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt gián tiếp:
- Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có lối chơi nguy hiểm.
- Cố tình ngăn cản đường di chuyển của đối phương.
- Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
- Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác, không được đề cập ở luật XII, mà trận đấu phải dừng để cảnh cáo hoặc đuổi cầu thủ.
3. Những lỗi cảnh cáo:
Cầu thủ sẽ bị cảnh cáo bằng thẻ vàng nếu phạm vào 1 trong 7 lỗi sau:
- Hành vi phi thể thao.
- Hành động, lời nói phản đối quyết định của trọng tài và các thành viên khác trong sân.
- Vi phạm luật nhiều lần.
- Hành vi kéo dài thời gian.
- Không chấp hành qui định khoảng cách 9 mét 15 trong các quả đá phạt.
- Cố tình rời sân khi chưa được phép của trọng tài.
- Vào sân trở lại mà không xin phép trọng tài.
4. Những lỗi bị đuổi khỏi sân:
Cầu thủ bị phạt thẻ đỏ đuổi khỏi sân nếu phạm một trong những lỗi sau đây:
- Vi phạm lỗi đặc biệt nghiêm trọng.
- Có hành vi bạo lực.
- Nhổ nước bọt vào đối phương hay bất kỳ ai khác.
- Cố tình phạm lỗi nhằm ngăn cản một đường bóng ghi bàn rõ rệt.
- Có lời lẽ kích động, lăng mạ hay thô tục.
- Cố tình dùng tay chơi bóng nhằm ngăn chặn một cơ hội ghi bàn rõ rệt (trừ thủ môn trong khu 16 mét 50).
- Nhận thẻ vàng thứ 2 trong trận đấu.
Ngoài ra, FIFA lưu ý "động tác xoạc bóng từ phía sau gây nguy hiểm cho sự an toàn cơ thể đối phương phải được xem là hành vi cực kỳ nghiêm trọng". Cầu thủ phạm lỗi phải bị truất quyền thi đấu ngay lập tức.
Luật XIII - NHỮNG QUẢ PHẠT
- Phạt trực tiếp.
- Phạt gián tiếp.
Khi thực hiện các quả phạt, bóng phải được đặt “chết” tại chỗ, cầu thủ đá phạt không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác.
1. Quả phạt trực tiếp:
- Bóng đá trực tiếp vào cầu môn đối phương, bàn thắng được công nhận.
- Nếu bóng đá trực tiếp vào cầu môn đội nhà, bàn thắng không được công nhận và đội đối phương được đá quả phạt góc.
2. Quả phạt gián tiếp:
- Ký hiệu: trọng tài xác nhận quả gián tiếp bằng cách giơ thẳng cánh tay lên cao và giữ nguyên tư thế đó cho đến khi quả phạt đã thực hiện, bóng đã chạm cầu thủ khác hoặc ra ngoài các đường giới hạn sân.
- Bóng vào cầu môn:
+ Bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, đã chạm một cẩu thủ khác.
+ Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương, đội đối phương được hưởng quả đá phạt bóng.
+ Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội nhà, đội đối phương được hưởng quả phạt góc.
Với thủ môn có 5 lỗi vi phạm sau đây bị phạt gián tiếp:
- Di chuyển quá 4 bước khi giữ bóng bằng tay, đập bóng xuống đất (nhồi bóng), rồi tung bóng lên và bắt lại bóng mà không đưa bóng vào cuộc.
- Sau khi ôm bóng di chuyển đủ 4 bước, thả bóng lăn vào cuộc lại nhận bóng lại bằng tay.
- Dùng tay chạm bóng do đồng đội đá về bằng chân.
- Bắt bóng trực tiếp từ quả ném biên của đồng đội.
- Theo nhận định của trọng tài, thủ môn có hành động kéo dài thời gian (câu giờ).
JakeSatan
24-11-2004, 15:04
Các trận chung kết Cúp C1 châu Âu
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images362719_cup.jpg
1956 Parc des Princes, Paris
Real Madrid - Reims 4-3
* Real Madrid (HLV Villalonga): Alonso; Atienza, arquitos, Lesmes; Munoz, Zarraga; Joseito, Marchal, Di Stefano, Rial, Gento
* Reims (HLV Batteux): Jacquet; Zimny, Jonquest, Giraudo; Leblond, Siatka; Hidalgo, Glovacki, Kopa, Bliard, Templin.
Ghi bàn: Real Madrid - Di Stefano (14'), Rial (30', 79'); Marquitos (67'); Reims - Leblond (6'), Templin (10'), Hildago (62')
1957 Bernabeu, Madrid
Real Madrid - Fiorentina 2-0
* Real Madrid (HLV Villalonga): Alonso; Torres, Marquitos, Lesmes; Muñóz, Zárraga; Kopa, Mateos, Di Stéfano, Rial, Gento
* AC Fiorentina (HLV Bernardini): Sarti; Magnini, Orzan, Cervato; Scaramucci, Segato; Julinho, Gratton, Virgili, Montuori, Bizzarri.
Ghi bàn: Di Stefano (70'), Gento (76')
1958 Heysel Stadium, Brussels
Real Madrid - AC Milan 3-2
* Real Madrid (HLV Carniglia): Alonso; Atienza, Santamaria, Lesmes; Santisteban, Zarraga; Kopa, Joesito, Di Stefano, Rial, Gento
* AC Milan (HLV Viani): Soldan; Fontana, Maldini, Beraldo; Bergamaschi, Radice;
Danova, Liedholm, Schiaffino, Grillo, Cucchiaroni.
Ghi bàn: Real Madrid - Di Stefano (74'), Rial (79'), Gento (104'); AC Milan - Schiaffino (69'), Grillo (78')
1959 Neckarstadion, Stuttgart
Real Madrid - Reims 2-0
* Real Madrid (HLV Carniglia): Dominguez; Marquitos, Santamaria, Zarraga; Santisteban, Ruiz; Kopa, Meteos, Di Stefano, Rial, Gento
* Stade de Reims (HLV Batteux) Colonna; Rodzik, Jonquet, Giraudo; Penverne, Leblond; Lamartine, Bliard, Fontaine, Plantoni, Vincent.
Ghi bàn: Mateos (2'), Di Stefano (47')
1960 Hampden Park, Glasgow
Real Madrid - Eintracht Frankfurt 7-3
* Real Madrid (HLV Múñoz) Domínguez; Marquitos, Santamaría, Pachin; Vidal, Zarraga; Canario, Del Sol, Di Stéfano, Puskás, Gento
* Eintracht Frankfurt (HLV Oswald)Loy; Lutz, Eigenbrodt, Höfer; Wellbächer, Stinka;
Kress, Lindner, Stein, Pfaff, Meier.
Ghi bàn: Real Madrid - Di Stefano (27', 30', 75'), Puskas (45', 56', 60', 71'); Eintracht Frankfurt - Kress (18'), Stein (72', 76')
1961 Wankdorf Stadium, Berne
Benfica - Barcelona 3-2
* SL Benfica (HLV Guttmann): Costa Pereira; Joao, Germano, Angelo; Neto, Cruz;
Augusto, Santana, Aguas, Coluna, Cavem
* FC Barcelona (HLV Orizaola) Ramallets; Foncho, Gensana, Gracia; Verges, Garay;
Kubala, Kocsis, Evaristo, Suarez, Czibor.
Ghi bàn: Benfica - Aguas (30'), Ramallets (32/phản lưới), Coluna (55'); Barcelona - Kocsis (20'), Czibor (75')
1962 Olympisch Stadion, Amsterdam
Benfica - Real Madrid 5-3
* SL Benfica (HLV Guttmann) Costa Pereira; João, Germano, Angelo; Cavem, Cruz;
Augusto, Eusébio, Aguas, Coluna, Simões.
* Real Madrid (HLV Munoz) Araquistain; Casado, Santamaría, Miera; Felo, Pachin;
Tejada, Del Sol, Di Stéfano, Puskás, Gento.
Ghi bàn: Benfica - Aguas (25'), Cavem (34'), Eusebio (65', 68'); Real Madrid - Puskas (17', 23', 38')
1963 Wembley Stadium, London
AC Milan - Benfica 2-1
* AC Milan (HLV Rocco) Ghezzi; David, Maldini, Trebbi; Benitez, Trapattoni;
Pivatelli, Sani, Altafini, Rivera, Mora
* SL Benfica (HLV Riera)Costa Pereira; Cavem, Cruz, Humberto, Raul; Coluna, Santana; Augusto, Torres, Eusebio, Simoes.
Ghi bàn: AC Milan - Altafini (58', 70'); Benfica - Eusebio (19')
1964 Prater Stadium, Vienna
Inter Milan - Real Madrid 3-1
* Inter (HLV Herrera)Sarti; Burgnich, Guarneri, Facchetti; Tagnin, Picchi;
Jair, Mazzola, Milani, Suarez, Corso
* Real Madrid (HLV Munoz) Vicente; Isidro, Santamaria, Pachin; Zoco, Muller; Amancio, Felo, Di Stefano, Puskas, Gento.
Ghi bàn: Inter - Mazzola (43', 76'); Milani (61'); Benfica - Felo (70')
1965 San Siro Stadium, Milan
Inter Milan - Benfica 1-0
* Inter (HLV Herrera) Sarti; Burgnich, Guarneri, Facchetti; Bedin, Picchi;
Jair, Mazzola, Peiro, Suarez, Corso
* SL Benfica (HLV Schwartz) Costa Pereira; Cavem, Cruz, Germano, Raul; Neto, Coluna; Augusto, Eusebio, Torres, Simoes.
Ghi bàn: Jair (42')
1966 Heysel Stadium, Brussels
Real Madrid - Partizan Belgrade 2-1
* Real Madrid (HLV Munoz) Araquistain; Pachin, De Felipe, Zoco; Sanchis; Pirri, Velazquez; Serena, Amancio, Grosso, Gento
* FK Partizan (HLV Gegic) Soskic; Jusufi, Rasovic, Vasovic, Mihailovic; Kovacevic, Becejac; Bajic, Hasanagic, Galic, Pirmajer.
Ghi bàn: Real Madrid - Amancio (70'), Serena (75'); Partizan - Vasovic (55')
1967 Estadio Nacional, Lisbon
Celtic - Inter 2-1
* Celtic (manager Stein) Simpson; Craig, McNeill, Gemmell; Murdoch, Clark;
Johnstone, Wallace, Chalmers, Auld, Lennox
* Inter (HLV Herrera) Sarti; Burgnich, Guarneri, Facchetti; Bedin, Picchi;
Domenghini, Mazzola, Cappellini, Bicicli, Corso.
Ghi bàn: Celtic - Gemmell (63'), Chalmers (85'); Inter - Mazzola (8'/11m)
1968 Wembley Stadium, London
Manchester United - SL Benfica 4-1
* Manchester United (manager Busby) Stepney; Brennan, Stiles, Foulkes, Dunne; Crerand, Charlton, Sadler; Best, Kidd, Aston
* SL Benfica (HLV Otto Gloria) Henrique; Adolfo, Humberto, Jacinto, Cruz; Graca, Coluna, Augusto; Eusebio, Torres, Simoes.
Ghi bàn: M.U - Charlton (53', 99'), Best (93'), Kidd (94'); Benfica - Graca (75')
1969 Bernabeu Stadium, Madrid
AC Milan - Ajax 4-1
* AC Milan (HLV Rocco) Cudicini; Malatrasi, Anquilletti, Schnellinger, Rosato, Trappattoni; Lodetti, Rivera; Hamrin, Sormani, Prati
* Ajax (HLV Michels) Bals; Suurbier (Muller), Hulshoff, Vasovic, Van Duivenbode; Pronk, Groot (Nuninga); Swart, Cruijff, Danielsson, Keizer.
Ghi bàn: AC Milan - Prati (7', 40', 75'), Sormani (67'); Ajax - Vasovic (60')
1970 San Siro Stadium, Milan
Feyenoord - Celtic 2-1
* Feyenoord (HLV Happel) Pieters Graafland; Romeijn (Haak), Laseroms, Israël, Van Duivenbode; Hasil, Jansen; Van Hanegem, Wery, Kindvall, Moulijn
* Celtic (manager Stein) Williams; Hay, Brogan, McNeill, Gemmell; Murdoch, Auld (Connelly); Johnstone, Lennox, Wallace, Hughes.
Ghi bàn: Celtic - Gemmell (29'); Feyenoord - Israel (31'), Kindvall (117')
1971 Wembley Stadium, London
Ajax - Panathinaikos 2-0
* Ajax (HLV Michels) Stuy; Neeskens, Hulshoff, Vasovic, Suurbier; Rijnders (Blankenburg), G.Mühren; Swart (Haan), Cruijff, Van Dijk, Keizer
* Panathinaikos (HLV Puskas) Oeconomopoulos; Tomaras, Kapsis, Sourpis, Vlahos; Kamaras, Elefterakis;Grammos, Antoniadis, Domazos, Filakouris
Ghi bàn: Van Dijk (5'), Kapsis (87'/phản lưới).
1972 Feyenoord Stadium, Rotterdam
Ajax - Inter 2-0
* Ajax (HLV Kovacs) Stuy; Suurbier, Blankenburg, Hulshoff, Krol; Neeskens, Haan, G.Mühren; Swart, Cruijff, Keizer
* Internazionale (HLV Invernizzi) Bordonl Burgnich, Facchetti, Bellugi, Oriali; Giubertoni (Bertini), Bedin, Frustalupi; Jair (Pellizarro), Mazzola, Boninsegna.
Ghi bàn: Cruyff (47', 78')
1973 Crvena Zvezda Stadium, Beograd
Ajax - Juventus 1-0
* Ajax (HLV Kovacs) Stuy; Suurbier, Hulshoff, Blankenburg, Krol; Neeskens, G.Mühren, G.Haan; Rep, Cruijff, Keizer
* Juventus (HLV Vycpalek)Zoff; Salvadore, Marchetti, Morini, Longobucco; Causio (Cuccureddu), Furino, Capello; Altafini, Anastasi, Bettega (Haller).
Ghi bàn: Rep (4')
1974 Heysel Stadium, Brussels
Bayern Munich - Atletico Madrid 4-0
* Bayern Munich Maier; Hansen, Breitner, Schwarzenbeck, Beckenbauer; Roth, Zobel,
Hoeness; Torstensson, Müller, Kapellmann
* Atletico Madrid Reina; Melo, Capon, Adelardo (benegas), Heredia; Luis, Eusebio, Alberto(Ufarte); Garate, Salcedo, Becerra.
Ghi bàn: Hoeness (28', 83'), Muller (58', 71')
1975 Parc des Princes, Paris
Bayern Munich - Leeds 2-0
* Bayern Munich (HLV Cramer) Maier; Beckenbauer, Schwarzenbeck, Dürnberger, Andersson (Weiss); Zobel, Roth, Kapellmann; Hoeness (Wunder), Müller, Torstensson
* Leeds United (HLV Armfield) Stewart; Reaney, F.Gray, Madeley, Hunter; Bremner, Giles, Yorath (E.Gray); Lorimer, Clarke, Jordan.
Ghi bàn: Roth (71'), Müller (81')
1976 Hampden Park, Glasgow
Bayern Munnich - St Etiennes 1-0
* Bayern München (HLV Cramer) Maier; Hansen, Schwarzenbeck, Beckenbauer, Horsmann; Roth, Dürnberger, Kapellmann, K.H.Rummenigge; Müller, Hoeness
* AS Saint-Etienne: Curkovic; Repellini, Piazza, Lopez, Janvion; Bathenay, Santini, Larque; P.Revelli, H.Revelli, Sarramagna (Rocheteau)
Ghi bàn: Roth (57')
1977 Stadio Olimpico, Rome
Liverpool - Moenchengladbach 3-1
* Liverpool (HLV Paisley) Clemence; Neal, Jones, Smith, Hughes; Case, Kennedy, Callaghan, McDermott; Keegan, Heighway.
* Borussia Monchengladbach (HLV Lattek) Kneib; Vogts, Klinkhammer, Wittkamp, Schäffer; Wohlers (Hannes), Wimmer (Kulik), Stielike, Bonhof; Simonsen, Heynckes.
Ghi bàn: Liverpool - McDermott (29'), Smith (67'), Neal (87'); Gladbach - Simonsen (50')
1978 Wembley Stadium, London
Liverpool - Club Brugge 1-0
* Liverpool (HLV Paisley) Clemence; Neal, Thompson, Hansen, Hughes; McDermott, Kennedy, Souness; Case (Heighway), Fairclough, Dalglish
* Club Brugge KV (HLV Happel) Jensen; Bastijns, Krieger, Leekens, Maes (Volders); Cools, Decubber, Vandereycken, Kü (Sanders); Simeon, Sörensen.
Ghi bàn: Dalglish (64')
1979 Olympic Stadium, Munich
Nottingham Forest - Malmo FF 1-0
* Nottingham Forest (HLV Clough) Shilton; Anderson, Lloyd, Burns, Clark; Francis, McGovern, Bowyer, Robertson; Woodcock, Birtles
* Malmo FF (HLV Houghton) Moller; R.Andersson, Jonsson, M.Andersson, Erlandsson; Tapper (Malmberg), Ljungberg, Prytz, Kinnvall; Hansson (T.Andersson), Cervin.
Ghi bàn: Francis (45')
1980 Bernabeu Stadium, Madrid
Nottinham Forest - Hamburg 1-0
* Nottingham Forest (HLV Clough) Shilton; Anderson, Gray (Gunn), Lloyd, Burns, Clark; O'Neill, McGovern, Bowyer, Mills (O'Hare), Robertson; Birtles
* Hamburger SV (HLV Zebec) Kargus; Kaltz, Nogly, Buljan, Jakobs; Hieronymus (Hrubesch), Magath, Memering; Keegan, Reimann, Milewski
Ghi bàn: Robertson (21')
1981 Parc des Princes, Paris
Liverpool - Real Madrid 1-0
* Liverpool (HLV Paisley) Clemence; Neal, Thompson, Hansen, A.Kennedy; Lee, McDermott, Souness, R.Kennedy; Dalglish (Case), Johnson
* Real Madrid (HLV Boskov) Agustin; Cortes (Pineda), Navajas, Sabido; Del Bosque, Angel, Camacho, Stielike; Juanito, Santillana, Cunningham.
Ghi bàn: Kennedy (82')
1982 Feyenoord Stadion, Rotterdam
Aston Villa - Bayern Munich 1-0
* Aston Villa (HLV Barton) Rimmer (Spink); Swain, Evans, McNaught, Williams; Bremner, Cowans, Mortimer; Shaw, Withe, Morley
* Bayern München (HLV Csernai) Muller; Dremmler, Weiner, Augenthaler, Horsmann; Mathy (Guttler), Breitner, Kraus(Niedermayer), Durnberger; Rummenigge, Hoeness
Ghi bàn: Peter Withe (67')
1983 Olympiako Stadio, Athína
Hamburg - Juventus 1-0
* Hamburg (HLV Happel) Stein; Kaltz, Hieronymus, Jakobs, Wehmeyer; Groh, Rolff, Magath, Milewski; Bastrup (Von Heesen), Hrubesch
* Juventus (HLV Trapattoni) Zoff; Gentile, Brio, Scirea, Cabrini; Bonini, Tardelli, Bettega; Platini, Rossi (Marocchino), Boniek.
Ghi bàn: Magath (7')
1984 Stadio Olimpico, Roma
Liverpool - AS Roma 1-1
* Liverpool (HLV Fagan) Grobbelaar; Neal, Lawrenson, Hansen, A.Kennedy; Johnston (Nicol), Lee, Souness, Whelan; Dalglish (Robinson), Rush
* Roma (HLV Liedholm) Tancredi; Nappi, Bonetti, Righetti, Nela; Di Bartolomei, Falcao, Cerezo (Strukeli); Conti, Pruzzo (Chierico), Graziani
Ghi bàn: Liverpool - Neal (13'); Roma - Pruzzo (42')
Liverpool thắng 4-2 bằng thi đá 11m.
Liverpool: Nicol (hỏng), Neal, Souness, Rush, Kennedy
Roma: Di Bartolomei, Conti (hỏng), Righetti, Graziani (hỏng).
1985 Heysel Stadium, Bruxelles
Juventus - Liverpool 1-0
* Juventus (HLV Trapattoni) Tacconi; Favero, Cabrini, Brio, Scirea; Bonini, Platini, Tardelli; Briaschi (Prandelli), Rossi (Vignola), Boniek
* Liverpool (HLV Fagan) Grobbelaar; Neal, Beglin, Lawrenson (Gillespie), Hansen;
Nicol, Dalglish, Whelan, Wark; Rush, Walsh (Johnson).
Ghi bàn: Platini (56'/11m)
1986 Sánchez Pizjuán, Sevilla
Steaua Bucarest - Barcelona 0-0
* Steaua Bucuresti (HLV Jenei) Ducadam; Iovan, Belodedici, Bumbescu, Barbulescu; Balint, Balan (Iordanescu), Bölöni, Majaru; Lacatus, Piturca (Radu)
* FC Barcelona (HLV Venables)Urruti; Gerardo, Migueli, Alesanco, Julio Alberto; Víctor, Marcos, Schuster (Moratalla), Pedraza; Archibald (Pichi Alonso), Carrasco
Steaua thắng 2-0 bằng thi đá 11m
Steaua: Majaru (hỏng), Bölöni (hỏng), Lacatus, Balint
Barcelona: Alesanco (hỏng), Pedraza (hỏng), Pichi Alonso (hỏng), Marcos (hỏng)
1987 Prater Stadium, Vienna
FC Porto - Bayern Munich 2-1
* FC Porto (HLV Jorge) Mlynarczyk; Joao Pinto, Eduardo Luis, Celso, Inacio (Frasco); Quim (Juary), Magalhaes, Madjer, Sousa, Andre; Futre
* Bayern Munich (HLV Lattek) Pfaff; Winklhofer, Nachtweih, Eder, Pflüger; Flick (Lunde), Brehme, Matthäus, M.Rummenigge; Hoeness, Kögl.
Ghi bàn: Bayern - Kogl (24'); Porto - Madjer (77'), Juary (79')
1988 Neckarstadion, Stuttgart
PSV Eindhoven - Benfica 0-0
* PSV Eindhoven (HLV Hiddink) Van Breukelen; Gerets, Van Aerle, R.Koeman, Nielsen, Heintze; Vanenburg, Linskens, Lerby; Kieft, Gillhaus (Janssen 107)
* SL Benfica (HLV Toni) Silvino; Veloso, Dito, Mozer, Alvaro; Elzo, Sheu, Chiquinho, Pacheco; Rui Aguas (Vando 57), Magnusson (Hajiri 111)
PSV thắng 6-5 bằng thi đá 11m
PSV: Koeman, Kieft, Nielsen, Vanenburg, Lerby và Janssen.
Benfica: Elzo, Dito, Hajiri, Pacheco, Mozer, Veloso (hỏng)
1989 Nou Camp Stadium, Barcelona
AC Milan - Steaua Bucharest 4-0
* AC Milan (HLV Sacchi) G.Galli; Tassotti, Costacurta (F.Galli 74), Baresi, Maldini; Colombo, Rijkaard, Ancelotti, Donadoni; Gullit (Virdis 60), Van Basten
* Steaua Bucharest (HLV Iordanescu) Lung; Iovan, Petrescu, Bumbescu, Ungureanu; Hagi, Stoica, Minea, Rotariu (Balaci 46); Lacatus, Piturca.
Ghi bàn: Gullit (17', 38'); Van Basten (26', 46')
1990 Prater Stadium, Vienna
AC Milan - Benfica 1-0
* AC Milan (HLV Sacchi) G.Galli; Tassotti, Costacurta, Baresi, Maldini; Colombo (F.Galli 89), Rijkaard, Ancelotti (Massaro 72), Evani; Gullit, Van Basten
* SL Benfica (HLV Eriksson) Silvino; Jose Carlos, Aldair, Ricardo, Samuel; Vitor Paneira (Vata 76), Valdo, Thern, Hernani; Magnusson, Pacheco (Brito 66).
Ghi bàn: Rijkaard (68')
1991 Stadio San Nicola, Bari
Red Star Belgrade - Olympique Marseille 0-0
* Red Star Belgrade (HLV Petrovic) Stojanovic; Belodedici, Najdoski, Sabanadzovic, Jugovic, Marovic, Mihaijlovic; Binic, Savicevic (Stosic 84), Prosinecki; Pancev
* Olympique Marseille (HLV Goethals) Olmeta; Amoros, Boli, Mozer, Di Meco (Stojkovic 112); Fournier (Vercruysse 75), Germain, Casoni, Pele; Papin, Waddle.
Red Star Belgrade thắng 5-3 bằng thi đá 11m.
Red Star: Prosinecki, Binic, Belodedic, Mihajlovic và Pancev
Marseille: Amoros (hỏng), Casoni, Papin và Mozer.
1992 Wembley Stadium, London
Barcelona - Sampdoria 1-0
* FC Barcelona (HLV Cruyff) Zubizarreta; Eusebio, Ferrer, R.Koeman, Nando, Juan Carlos; Baquero, Guardiola (Alexanco 113), M.Laudrup; Salinas (Goicoechea 64), Stoichkov
* UC Sampdoria (HLV Boskov) Pagliuca; Mannini, Lanna, Vierchowod, Katanec; Lombardo, Pari, Cerezo, I.Bonetti (Invernizzi 72); Vialli (Buso 100), Mancini.
Ghi bàn: Koeman (112')
1993 Olympiastadion, München
Marseille - Milan 1-0
* Marseille (coach Goethals) Barthez; Angloma (Durand 61), Di Meco, Boli, Sauzee, Desailly, Eydelie, Boksic, Voller (Thomas 78), Pele, Deschamps
* AC Milan (coach Capello) Rossi; Tassotti, Maldini, Albertini, Costacurta, Baresi, Lentini, Rijkaard, Van Basten (Eranio 86), Donadoni (Papin 55), Massaro.
Ghi bàn: Boli (44')
1994 Spiros Louis Stadium, Athens
AC Milan - Barcelona 4-0
* AC Milan (HLV Capello) Rossi; Tassotti, Panucci, Albertini, Galli, Maldini (Nova 84),
Donadoni, Desailly, Boban, Savicevic, Massaro
* FC Barcelona (HLV Cruyff) Zubizarreto; Ferrer, Guardiola, Koeman, Nadal, Bakero, Sergi (Quique 73), Stoichkov, Amor, Romario, Beguiristain (Eusebio 51)
Ghi bàn: Massaro (22', 45'), Savicevic (47'), Desailly (59')
1995 Ernst Happel Stadium, Vienna
Ajax Amsterdam - AC Milan 1-0
* Ajax (HLV Van Gaal) Van der Sar, Reiziger, Blind, Rijkaard, F.de Boer, Seedorf (Kanu 54), Litmanen (Kluivert 69), Davids, Finidi, R.de Boer, Overmars
* AC Milan (HLV Capello) Rossi, Panucci, Baresi, Desailly, Maldini, Donadoni, Boban (Lentini 86), Albertini, Costacurta, Massaro (Eranio 90), Simone.
Ghi bàn: Kluivert (85')
1996 Stadio Olimpico, Roma
Juventus - Ajax 1-1
* Juventus (HLV Lippi) Peruzzi; Ferrara, Torricelli, Vierchowod, Pessotto; Conte (Jugovic 44),Paulo Sousa (Di Livio 57), Deschamps, Del Piero; Vialli, Ravanelli (Padovano 77)
* Ajax (HLV Van Gaal) Van der Sar; Silooy, Blind, Davids, F.de Boer (Scholten 68); R.de Boer (Wooter 91), Litmanen, Musampa (Kluivert 46); Finidi, Kanu, Bogarde.
Ghi bàn: Juve - Ravanelli (12'), Ajax - Litmanen (41')
Juve thắng 4-2 bằng thi đá 11m
Ajax: Davids (hỏng), Litmanen, Scholten, Silooy (hỏng)
Juventus: Ferrara, Pessotto, Padovano, Jugovic
1997 Olympia-Stadion, München
Borussia Dortmund - Juventus 3-1
* Borussia Dortmund (HLV Hitzfeld) Klos, Kohler, Sammer, Kree, Reuter, Lambert, Paulo Sousa, Heinrich, Möller (Zorc 89), Riedle (Herrlich 67), Chapuisat (Ricken 70)
* Juventus (HLV Lippi) Peruzzi, Porrini (Del Piero 46), Ferrara, Montero, Iuliano, Di Livio, Jugovic, Deschamps, Zidane, Boksic (Tacchinardi 88), Vieri (Amoruso 73)
Ghi bàn: Dortmund - Riedle (29', 34'), Ricken (71'); Juventus (Del Piero 64')
1998 Amsterdam ArenA, Amsterdam
Real Madrid - Juventus 1-0
* Real Madrid (HLV Heynckes) Illgner, Hierro, Sanchis, Panucci, Roberto Carlos, Raúl (Amavisca 90), Karembeu, Seedorf, Redondo, Mijatovic (Suker 89), Morientes (Jaime 82)
* Juventus (HLV Lippi) Peruzzi, Torricelli, Montero, Iuliano, Di Livio (Tacchinardi 46),
Deschamps (Conte 78), Davids, Pessotto (Fonseca 71), Zidane, Del Piero, Inzaghi
Ghi bàn: Mijatovic (67')
1999 Camp Nou Stadium, Barcelona
Man United - Bayern Munich 2-1
* Manchester United (HLV Alex Ferguson) 1-Peter Schmeichel; 2-Gary Neville, 5-Ronny Johnsen, 6-Jaap Stam, 3-Denis Irwin, 7-David Beckham, 8-Nicky Butt, 11-Ryan Giggs, 15-Jesper Blomqvist (10-Teddy Sheringham 67), 19-Dwight Yorke, 9-Andy Cole (20-Ole Gunnar Solskjær 81)
* Bayern München (HLV Ottmar Hitzfeld) 1-Oliver Kahn; 10-Lothar Matthäus (17-Thorsten Fink 80), 2-Markus Babbel, 25-Thomas Linke, 4-Samuel Osei Kuffour, 18-Michael Tarnat, 11-Stefan Effenberg, 16-Jens Jeremies, 14-Mario Basler (20-Hasan Salihamidzic 89), 19-Carsten Jancker, 21-Alexander Zickler (7-Mehmet Scholl 71).
Ghi bàn: Man United - Sheringham (90 + 1), Solskjær (90 + 2); Bayern Munich - Basler (6')
2000 Saint-Denis, Paris
Real Madrid - Valencia 3-0
* Real Madrid CF(HLV Vicente del Bosque) 1-Iker Casillas; 2-Michel Salgado (4-Fernando Hierro 84) 3-Roberto Carlos, 18-Aitor Karanka, 3-Iván Campo, 8-Steve Mc Manaman, 6-Fernando Redondo, 11-Iván Helguera, 7-Raúl González, 19-Nicolas Anelka (5-Manuel Sanchís 79), 9-Fernando Morientes (11-Savio Bortolini 71).
* Valencia CF (HLV Héctor Cuper) 1-Cañizares; 20-Angloma, 5-Djukic, 2-Pellegrino, 22-Gerardo (11-Ilie 68); 6-Mendieta, 14-Gerard, 8-Farinós, 18-Kily González; 7-Claudio López, 10-Angulo.
Ghi bàn: Morientes (39'), McManaman (67'), Raul (75')
2001 Giuseppe Meazza, San Siro, Milano
Bayern Munich - Valencia 0-0
* Bayern (HLV Ottmar Hitzfeld) Oliver Kahn, Samuel Kuffour, Patrick Andersson, Thomas Linke, Willy Sagnol (Carsten Jancker 46), Owen Hargreaves, Stefan Effenberg, Bixente Lizarazu, Mehmet Scholl (Paulo Sérgio 108), Giovane Élber (Alexander Zickler 100), Hasan Salihamidzic
Valencia (HLV Héctor Cuper) Santiago Cañizares, Jocelyn Angloma, Roberto Ayala (Miroslav Djukic 90), Mauricio Pellegrino, Amedeo Carboni, Rubén Baraja, Gaizka Mendieta,
Kily González, Juan Sánchez (Zlatko Zahovic 66), Pablo Aimar (David Albelda 46), John Carew.
Bayern thắng 5-4 bằng thi đá 11m
0-0 Paulo Sérgio (hỏng) 0-1 Gaizka Mendieta 1-1 Hasan Salihamidzic1-2 John Carew 2-2 B: Alexander Zickler 2-2 Zlatko Zahovic (hỏng) 2-2 Patrick Andersson (hỏng) 2-2 Amedeo Carboni (hỏng) 3-2 Stefan Effenberg 3-3 Rubén Baraja 4-3 Bixente Lizarazu 4-4 Kily González 5-4 Thomas Linke 5-4 Mauricio Pellegrino (hỏng)
2002 Hampden Park, Glasgow
Real Madrid - Leverkusen 2-1
* Bayer Leverkusen: 1-Hans-Jörg Butt, 26-Zoltan Sebescen (9-Ulf Kirsten 65) 6-Boris Zivkovic 19-Lucio (3-Marko Babic 90+1) 35-Diego Rodolfo Placente 25-Bernd Schneider 28-Carsten Ramelow 10-Yildiray Bastürk 13-Michael Ballack 27-Oliver Neuville 23-Thomas Brdaric (12-Dimitar Berbatov 39).
* Real Madrid (HLV Vicente Del Bosque) 13-César Sánchez Domínguez (1-Iker Casillas Fernández 68) 2-Míchel Salgado 4-Fernando Ruiz Hierro 6-Iván Helguera 3-Roberto Carlos 10-Luis Figo (8-Steve McManaman 61)24-Claude Makelele(16-Flavio Conceiçao 73) 5-Zinédine Zidane 21-Santiago Solari 7-Raúl 9-Fernando Morientes
Ghi bàn: Real - Raul (8'), Zidane (45'); Leverkusen - Lucio (14')
2003 Old Trafford, Manchester
Juventus - AC Milan 0-0
* Juventus: BUFFON Gianluigi, THURAM Lilian, TUDOR Igor (42 BIRINDELLI Alessandro) FERRARA Ciro, MONTERO Paolo, TACCHINARDI Alessio, DAVIDS Edgar (66 ZALAYETA Marcelo), CAMORANESI Mauro (46 CONTE Antonio), ZAMBROTTA Gianluca , DEL PIERO Alessandro , TREZEGUET David .
* AC Milan: DIDA, COSTACURTA Alessandro(66 ROQUE JUNIOR), NESTA Alessandro, MALDINI Paolo, KALADZE Kakha, GATTUSO Gennaro, PIRLO Andrea (71 SERGINHO), RUI COSTA (87 AMBROSINI Massimo), SEEDORF Clarence, SHEVCHENKO Andrey, INZAGHI Filippo.
AC Milan thắng 3-2 bằng thi đá 11m
Juventus: Trezeguet (hỏng), Birindelli, Zalayeta (hỏng), Montero(hỏng), Del Piero
Milan: Serginho, Seedorf(hỏng), Kaladze(hỏng), Nesta, Shevchenko
2004Arena AufSchalke, Gelsenkirchen
FC Porto - Monaco 3-0
* FC Porto: 99-Vitor Baia; 22-Paulo Ferreira, 2-Jorge Costa, 4-Ricardo Carvalho, 8-Nuno Valente; 23-Pedro Mendes, 6-Francisco Costinha, 18-Maniche Ribeiro; 10-Deco Souza (3-Pedro Emanuel 85); 19-Carlos Alberto (15-Dmitri Alenichev 60), 11-Derlei Silva (77-Benni McCarthy 78).
* Monaco: 30-Flavio Roma; 4-Hugo Ibarra, 27-Julien Rodriguez, 32-Gael Givet (19-Sebastian Squillaci 73), 3-Patrice Evra; 14-Edouard Cisse (18-Shabani Nonda 64), 7-Lucas Bernardi, 15-Andreas Zikos; 8-Ludovic Giuly (9-Dado Prso 23), 25-Jerome Rothen; 10-Fernando Morientes.
Ghi bàn: Carlos Alberto 39, Deco Souza 71, Dmitri Alenichev 75.
Thông tin thú vị về Cúp C1 châu Âu
1. Chuỗi vô địch liên tiếp
Trong khoảng 20 năm đầu tiên, việc một CLB chế ngự Cúp C1 châu Âu trong thời gian dài không phải chuyện hiếm (điển hình là trường hợp của Real Madrid) nhưng ngày nay việc bảo vệ danh hiệu vô địch giải đấu này cực kỳ khó khăn. Lần cuối cùng một đội bảo vệ được danh hiệu vô địch Cúp C1 châu Âu cách đây cũng đã 24 năm.
Dưới đây là những đội vô địch Cúp C1 liên tiếp:
- 5 lần: Real Madrid (1955/56-1959/60)
- 3 lần: Ajax Amsterdam (1970/71-1972/73)
Bayern Munich (1973/74-1975/76)
- 2 lần: Benfica (1960/61-1961/62)
Inter Milan (1963/94-1964/65)
Liverpool (1976/77-1977/78)
Nottingham Forest (1978/79-1979/80)
AC Milan (1988/89-1989/90)
Một số thông tin khác:
- Sau Madrid, Milan là thành phố 3 năm liên có đại diện trong trận chung kết Cúp C1 (AC Milan 1962/63, Inter Milan hai mùa kết tiếp)
- Nước Anh giành 6 Cúp C1 liên tiếp, 1976/77 và 1977/78 - Liverpool; 1978/79 và 1979-80 - Nottingham Forest; 1980/81 - Liverpool; 1981/82 - Aston Villa.
- Có hai đội bóng thua hai trận chung kết Cúp C1 liên tiếp: Juventus 1996/97-1997/98 và Valencia 1999/2000 - 2000/01.
2. Giành Cúp C1 mà không thua trận nào
- Thành tích này xuất hiện khá phổ biến cho đến thập niên 90 và bắt đầu hiếm dần khi Champions League xuất hiện.
Dưới đây là các đội lập được thành tích này (mùa giải/tên đội/trận/thắng/hoà/thua/hiệu số)
Mùa Đội VĐ Trận Thắng Hoà Thua Hiệu số
1963/64 Inter 9 7 2 0 16-6
1971/72 Ajax 9 7 2 0 14-3
1978/79 N. Forest 9 6 3 0 19-7
1980/81 Liverpool 9 6 3 0 24-4
1983/84 Liverpool 9 7 2 0 15-3
1988/89 AC Milan 9 5 4 0 20-5
1990/91 Sao Đỏ 9 5 4 0 18-7
1992/93 Marseille 11 7 4 0 15-4
1993/94 Milan 12 7 5 0 21-2
1994/95 Ajax 11 7 4 0 18-4
1998/99 M.U 13 6 7 0 31-16
3. Số lần tham dự Cúp C1 liên tiếp
Trong vô số chiến tích của Real Madrid tại các Cúp châu Âu có kỷ lục 15 mùa giải liên tiếp tham dự Cúp C1 châu Âu.
15 lần - Real Madrid (1955/56-1969/70)
12 lần - Dynamo Kyiv (1993/94-2004/05)
10 lần - Dynamo Berlin (1979/80-1988/89)
Rosenborg BK (1995/96-2004/05)
9 lần - Celtic (1966/67-1974/75)
Liverpool (1976/77-1984/85)
Rangers (1989/90-1997/98)
Manchester United (1996/97-2004/05)
8 lần - Bayern München (1997/98-2004/05)
Olympiakos Pireus (1997/98-2004/05)
PSV (1997/98-2004/05)
Real Madrid (1997/98-2004/05)
Skonto Riga (1997/98-2004/05)
Sparta Praha (1997/98-2004/05)
7 lần - CSKA (Sofia) (1956/57-1962/63)
FC Porto (1995/96-2001/02)
Galatasaray (1997/98-2003/04)
Arsenal (1998/99-2004/05)
6 lần - Benfica (1960/61-1965/66)
Újpest Dozsa (1970/71-1975/76)
Linfield (1982/83-1987/88)
Steaua Bucuresti (1993/94-1998/99)
Barcelona (1997/98-2002/03)
Spartak Moskva (1997/98-2002/03)
Maribor Branik (1998/99-2003/04)
Olympique Lyonnais (1999/00-2004/05)
5 lần - Górnik Zabrze (1963/64-1967/68)
Anderlecht (1964/65-1968/69)
Bayern München (1972/73-1976/77)
Jeunesse d'Esch (1973/74-1977/78)
Omonia Nicosia (1975/76-1978/79) [withdrew from 1974/75 competition]
Omonia Nicosia (1981/82-1985/86)
Steaua Bucuresti (1985/86-1989/90)
Real Madrid (1986/87-1990/91)
Sparta Praha (1987/88-1991/92)
Brøndby IF (1996/97-2000/01)
4. Số lần tham dự Champions League liên tiếp
Bắt đầu từ mùa giải 1991/92, Cúp C1 chuyển thành Champions League. Dưới đây là những đội tham dự liên tục nhiều nhất.
9 lần Manchester United (1996/97-2004/05)
8 lần Rosenborg BK (1995/96-2002/03)
Bayern München (1997/98-2004/05)
Dynamo Kyiv (1997/98-2004/05)
Olympiakos Pireus (1997/98-2004/05)
PSV (1997/98-2004/05)
Real Madrid (1997/98-2004/05)
7 lần Galatasaray (1997/98-2003/04)
Arsenal (1998/99-2004/05)
6 lần Barcelona (1997/98-2002/03)
5 lần FC Porto (1995/96-1999/00)
Spartak Moskva (1998/99-2002/03)
Deportivo La Coruña (2000/01-2004/05)
Juventus (2000/01-2004/05)
Olympique Lyonnais (2000/01-2004/05)
5. Nhà vô địch Cúp C1 có thành tích tại giải VĐQG tồi nhất
- Không một nhà vô địch Cúp C1 nào mà có thành tích tại giải VĐQG cùng năm đó tệ hại hơn Aston Villa mùa 1981/82: đứng thứ 12.
- Hầu hết các nhà vô địch Cúp C1 đều nằm trong Top 3 tại giải VĐQG cùng năm đó, ngoại trừ các trường hợp Nottingham Forest mùa 1979/80 (thứ 5), Liverpool mùa 1980/81 (5), Juventus mùa 1984/85 (4), Real Madrid mùa 1997/98 (4) và 1999/2000 (5) và Aston Villa kể trên.
6. Những cuộc đối đầu nội bộ tại Cúp C1
- Trước đây việc ''gà nhà đá nhau'' tại Cúp C1 là chuyện hiếm bởi mỗi quốc gia chỉ được cử một đại diện tham dự giải đấu này. Muốn có hai đại diện tham dự Cúp C1 thì quốc gia ấy phải có đội bóng vô địch Cúp C1 nhưng không vô địch QG.
- Nhưng tình hình thay đổi khi Cúp C1 bắt đầu được cải tiến, mở rộng đối tượng tham gia. Từ mùa giải 1997/98, các nhà á quân của 8 quốc gia đầu tiên trong bảng xếp hạng UEFA cũng được tham dự Cúp C1. Từ mùa giải 1999/2000, 6 quốc gia đầu tiên trong bảng xếp hạng UEFA được cử từ 3-4 đại diện tham dự Cúp C1 châu Âu.
- Nhờ đó mới có chuyện Tây Ban Nha có 3 đại diện tại bán kết Champions League và cuối cùng là một trận chung kết nội bộ. Mùa giải 2002/03, trận chung kết Champions League cũng diễn ra giữa hai đội bóng Italia là AC Milan và Juventus.
Những cuộc đối đầu nội bộ
Mùa Trận vòng Tỷ số
1957/58 Real Madrid - Sevilla tứ kết 8-0 và 2-2
1958/59 Real Madrid - Atlético Madrid bán kết 2-1, 0-1 và 2-1
1959/60 Real Madrid - Barcelona bán kết 3-1 và 3-1
1960/61 Real Madrid - Barcelona vòng 2 2-2 và 1-2
1978/79 Nottingham Forest - Liverpool vòng 1 2-0 và 0-0
1985/86 Hellas Verona - Juventus vòng 2 0-0 và 0-2
1997/98 Bayern München - Dortmund tứ kết 0-0 and 0-1
1998/99 B.München - Kaiserslautern tứ kết 2-0 and 4-0
1999/00 Valencia - Barcelona bán kết 4-1 and 1-2
1999/00 Real Madrid - Valencia chung kết 3-0
2001/02 Barcelona - Real Madrid bán kết 0-2 và 1-1
2002/03 Inter - Milan bán kết 1-1 và 0-0
2002/03 Milan - Juventus chung kết 0-0 (3-2/11m)
2003/04 Chelsea - Arsenal tứ kết 1-1 và 2-1
7. Đánh bại nhà đương kim vô địch
Đội bóng Hoàng gia Real Madrid không chỉ giữ kỷ lục về số lần vô địch Cúp C1 châu Âu mà còn giữ kỷ lục về số lần đánh bại các nhà ĐKVĐ: Tổng cộng 7 lần mà 4 trong số đó họ tiến thẳng đến ngôi vô địch.
7 lần Real Madrid (1963/64, 1965/66, 1986/87, 1987/88, 1997/98, 1999/00, 2001/02)
4 lần Juventus (1982/83, 1984/85, 1995/96, 2002/03)
3 lần CSKA Sofia (1973/74, 1980/81, 1981/82)
Dynamo Kiev (1967/68, 1976/77, 1998/99)
2 lần Barcelona (1960/61, 1985/86)
Milan (1962/63, 1968/69)
8. Một số kỷ lục khác
- Trận đấu có tỷ số đậm nhất:
1973/74, vòng 1: Dinamo Bucuresti 11-0 Crusaders
- Tỷ số chung cuộc đậm nhất:
1965/66, vòng 1: Stade Dudelange 0-8 Benfica; Benfica 10-0 Stade Dudelange.
Chung cuộc: Benfica thắng 18-0.
- Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất:
1969/70, vòng 1: Feijenoord 12-2 KR (Reykjavik), tổng cộng 14 bàn.
- Chung cuộc có nhiều bàn thắng nhất:
1965/66, vòng 1: Stade Dudelange 0-8 Benfica; Benfica 10-0 Stade Dudelange.
Chung cuộc: Benfica thắng 18-0. Tổng cộng: 18 bàn
1968/69, vòng 2: Reipas (Lahti) 1-9 Spartak Trnava; Spartak Trnava 7-1 Reipas (Lahti).
Chung cuộc: Spartak Trnava thắng 16-2. Tổng cộng: 18 bàn.
1969/70, vòng 1: Feijenoord 12-2 KR (Reykjavik); KR (Reykjavik) 0-4 Feijenoord (in Rotterdam).
Chung cuộc: Feijenoord thắng 16-2. Tổng cộng: 18 bàn.
1979/80, vòng 1: HJK (Helsinki) 1-8 Ajax; Ajax 8-1 HJK (Helsinki).
Chung cuộc: Ajax thắng 16-2. Tổng cộng: 18 bàn.
JakeSatan
25-11-2004, 14:01
Vì là một fan của MU nên em xin post bài này là sơ lược về lịch sử MU nhá:
Manchester United
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images359777_manutd.jpg
Ra đời với tên khai sinh Newton Heath vào năm 1878, cái tên Manchester United chỉ chính thức xuất hiện vào năm 1902, và chỉ sau đó 6 năm, M.U đã giành ngôi quán quân giải hạng Nhất. Chiếc Cúp FA cũng đã từng hiện diện tại sân nhà Bank Street của M.U trước khi họ chuyển tới Old Trafford vào năm 1910, và sau đó là thêm một chức VĐQG nữa dưới thời HLV Ernest Mangnall.
Chiến tranh thế giới thứ 2 đã ngăn cản sự phát triển của M.U, nhưng khi Sir Matt Busby lên nắm quyền vào năm 1945, M.U đã bước sang một trang sử khác và lứa cầu thủ mang biệt danh 'Busby Babes' của ông đã giành 3 danh hiệu VĐQG trong những năm 50.
Tuy nhiên, tai nạn máy bay năm 1958 ở Munich đã cướp đi sinh mạng của 8 cầu thủ M.U và bóng đá thế giới cũng mất đi một trong những tập thể xuất sắc nhất trong thời kỳ ấy. Thế nhưng, rất may cho M.U bởi HLV Busby vẫn còn sống và tiếp tục dẫn dắt CLB này đăng quang ở giải VĐQG năm 1965 và 1967, trước khi giành chức VĐ Cúp C1 châu Âu năm 1968. Hơn 20 năm sau, M.U mới lại có chiếc Cúp châu Âu thứ 2 khi họ lên ngôi ở Cúp C2 năm 1991, nhưng thời kỳ vàng son của M.U chỉ bắt đầu khi giải Ngoại hạng Anh ra đời vào năm 1993.
Dưới sự dẫn dắt của Sir Alex Ferguson, M.U đã làm mưa làm gió ở giải Ngoại hạng Anh. Họ lập 2 cú đúp trong 2 năm 1994 và 1996, trước khi vươn tới đỉnh cao giành cú ăn ba, gồm chức VĐ Premier League, VĐ Cúp FA và VĐ Champions League trong mùa giải 1999.
Thông tin về CLB:
Địa chỉ: Old Trafford Sir Matt Busby Way Manchester M16 ORA Tel.: (01 61) 8 68 80 00 Fax: (01 61) 8 76 55 02
SVĐ (Sức chứa): Old Trafford (61.250)
Màu áo truyền thống: Đỏ-Trắng-Đen
Website chính thức: http://www.manutd.com/home/default.sps
Thành tích:
VĐQG Anh: (13) 1908, 1911, 1952, 1956, 1957, 1965, 1967, 1993, 1994, 1996, 1997, 1999, 2003.
Cúp QG Anh: (11) 1909, 1948, 1963, 1977, 1983, 1985, 1990, 1994, 1996, 1999, 2004.
League Cup Anh: (1) 1992.
Cúp C1 châu Âu: (2) 1968, 1999.
Cúp C2 châu Âu: (1) 1991.
Siêu Cúp châu Âu: (1) 1991.
NHỮNG KỶ LỤC
Trận thắng đậm nhất:
+ Giải VĐQG: Thắng 9-0 trước Ipswich, Premier League, ngày 04-03-1995
+ Cup C1: Thắng 10-0 trước RSC Anderlecht, lượt về vòng sơ loại Cúp C1 châu Âu, ngày 26-09-1956
Trận thua đậm nhất: Thua 0-7 trước Blackburn, giải hạng nhất, ngày 10-04-1926 và thua 0-7 trước Aston Villa, giải hạng nhất, ngày 27-12-1930 và thua 0-7 trước Wolverhampton, giải hạng nhì, ngày 26-12-1931
Trận đấu có đông khán giả nhất: 76.962 (bán kết Cúp FA giữa Wolves và Grimsby ngày 25-03-1939)
Kỷ lục mua cầu thủ: 29,3 triệu bảng, mua Rio Ferdinand từ Leeds, 7/2002
Kỷ lục bán cầu thủ: 25 triệu bảng, bán David Beckham cho Real Madrid, 7/2003
Ghi bàn nhiều nhất trong một mùa giải: Dennis Viollet, 32 bàn, mùa 1959-60
Ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại: Bobby Charlton, 199 bàn, từ 1956-73
Thi đấu nhiều nhất: Bobby Charlton, 606 trận, từ 1956-73
Nhóm các CLB mạnh nhất Châu Âu G14
Real Madrid
Năm thành lập: 1902
Địa chỉ: Real Madrid Club de Futbol Avenida Concha Espina 1 28036 Madrid Spain
Chủ tịch: Florentino Pérez Rodríguez
Official Web Site : www.realmadrid.com
AC Milan
Năm thành lập: 1899
Địa chỉ: A.C. Milan Via Turati 3 20121 Milan Italy
Chủ tịch: Silvio Berlusconi
Official Web Site : www.acmilan.com
AFC Ajax
Năm thành lập: 1900
Địa chỉ: AFC Ajax Arena Boulevard 29 1101 AX Amsterdam The Netherlands
Chủ tịch: Michael Van Praag
Official Web Site : www.ajax.nl
Liverpool FC
Năm thành lập: 1888
Địa chỉ: Liverpool Football Club and Athletic Grounds
52 Mount Pleasant Liverpool, L3 5WN United Kingdom
Chủ tịch: Mr. D. R. Moores
Official Web Site : www.liverpoolfc.tv
Juventus FC
Năm thành lập: 1897
Địa chỉ: Juventus Football Club C.so Galileo Ferraris 32
10131 Torino Italy
Chủ tịch: Vittorio Caissotti Di Chiussano
Official Web Site : www.juventus.com
Bayern Munich
Năm thành lập: 1900
Địa chỉ: F.C. Bayern München Säbener Strasse 51 81547 München Germany
Chủ tịch: Franz Beckenbauer
Official Web Site : www.fcbayern.de
FC Internazionale Milano
Năm thành lập: 1908
Địa chỉ: F.C. Internazionale Via Durini 24 20122 Milan Italy
Chủ tịch: Massimo Moratti
Official Web Site : www.inter.it
FC Barcelona
Năm thành lập: 1899
Địa chỉ: F.C. Barcelona Avda. Aristides Maillol s/n 08028 Barcelona Spain
Chủ tịch: Joan LAPORTA
Official Web Site : www.fcbarcelona.com
Manchester United FC
Năm thành lập: 1878
Địa chỉ:Manchester United Football Club Sir Matt Busby Way Old Trafford Manchester, M16 ORA United Kingdom
Chủ tịch: Martin Edwards
Official Web Site : www.manutd.com
Borussia Dortmund
Năm thành lập: 1909
Địa chỉ:Borussia Dortmund Strobelallee 50 44139 Dortmund Germany
Chủ tịch: Gerd Niebaum
Official Web Site : www.borussia-dortmund.de
PSV
Năm thành lập: 1913
Địa chỉ:PSV Mathildelaan 81 5616 LA Eindhoven Netherlands
Chủ tịch: Harry Van Raaij
Official Web Site : www.psv.nl
FC Porto
Năm thành lập: 1893
Địa chỉ:Futebol Clube do Porto Torre das Antas Avenide Ferrán de Magallanes 1882, 14 Piso 4360158 Porto Portugal
Chủ tịch: Jorge Nuno de Lima Pinto Da costa
Official Web Site : www.fcporto.pt
Olympique de Marseille
Năm thành lập: 1899
Địa chỉ:Olympique de Marseille 25 Rue Negresko
13008 RCS Marseille France
Chủ tịch: Robert Louis-Dreyfus
Official Web Site : www.olympiquedemarseille.com
Paris Saint-Germain
Năm thành lập: 1970
Địa chỉ:Paris Saint-Germain - Parc des Princes24 rue du commandant Guilbaud 75781 PARIS Cedex 16 - France
Chủ tịch: Francis GRAILLE
Official Web Site : www.psg.fr
Còn đây là lịch sử của đội bóng hùng mạnh nhất nước Ý
AC Milan - Thành lập năm 1899
Cách đây 104 năm , vào ngày 16 tháng 12 năm 1899, AC Milan đã ra đời dưới cái tên “ Câu lạc bộ bóng đá và cricket thành phố Milan”.
Ngày 16 tháng 12 đã là ngày mở đầu cho một hành trình lịch sử chói lọi của câu lạc bộ. Trong cái ngày lạnh lẽo đó, trước thềm bước sang thế kỉ mới, tại con phố Via Berchet sầm uất ở Milano, một người Anh là Alfred Edwards đã cùng những người bạn của mình thành lập nên đội bóng đồng thời ông cũng trở thành vị chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ. Đó là điểm khởi đầu cho một chuỗi những sự kiện lịch sử huy hoàng của câu lạc bộ, điều đã tốn không biết bao giấy mực của lịch sử bóng đá thế giới. Đặc biệt trong suốt 15 năm qua, AC đã chứng tỏ rằng họ là một trong những câu lạc bộ mạnh nhất trên thế giới. Lịch sử của AC Milan đã trở thành một huyền thoại, cũng như những con người đã đóng góp vào huyền thoại đó: những vị chủ tịch, những huấn luyện viên đã đến và ra đi và một phần công sức không nhỏ của các cầu thủ- những cái tên đã theo suốt những chặng đường lịch sử của AC Milan : Từ Alfred Edwards- người sáng lập ra câu lạc bộ cho đến ngài thủ tướng nước Ý Silvio Berlusconi, người đã đưa Milan lên bục cao nhất của vinh quang. Những chiến thắng thanh thế dành được ở mọi trong nước cũng như trên thế giới đã chứng minh sức mạnh của CLB.
Sự thành công của CLB luôn có một phần đóng góp đáng kể của những người huấn luyện viên, AC Milan đã từng được dẫn dắt bởi những huấn luyện viên bậc tài của Ý như Gipo Viani, Nereo Rocco và Nils Liedholm hay những HLV tài giỏi của thập kỉ 90 như Arrigo Sacchi và Fabio Capello. Cũng như những người tiền nhiệm, các huấn luyện viên sau này đã kế thừa, xây dựng cho Milan một lối đá hiện đại nhưng không mất đi vẻ quyến rũ và cống hiến. Có thể nói AC là CLB chơi bóng đẹp nhất ở Serie A, một đấu trường bóng đá khốc liệt và đầy tính cạnh tranh, nhưng AC Milan đã làm được cái điều ấy,thứ bóng đá họ chơi là một thứ bóng đá cống hiến ,kĩ thuật. Nhưng câu lạc bộ nào cũng có lúc huy hoàng và những lúc đen tối,có hai giai đoạn trong lịch sử,một là giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới I và thứ II và một giai đoạn cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80.
Hai thập kỉ đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ AC MILan vang dội chiến thắng.Trận đấu mở màn của AC là trận đấu với CLB cùng thành phố Mediolanum, 3 trong số 11 cầu thủ lúc đó chính là những người đã thành lập nên CLB mặc dù AC thắng với tỉ số 3-0, trận đấu được coi là chính thức đầu tiên sau khi AC Milan đăng kí với hiệp hội bóng đá Italia là với FC Torino và CLB này có thể tự hào là CLB đầu tiên đánh bại AC hùng mạnh với tỉ số 3-0 .ng ư ời đ ội tr ư ởng đầu ti ên c ủa CLB là Kilpin, ông cũng là một trong những người thành lập nên CLB. Vào thời ấy để được chơi cho AC Milan ( là thành viên của đội bóng), bạn cần có 20 lira lệ phí , đối với sinh viên là 12 lira. Nếu cầu thủ nào không trả tiền anh ta sẽ bị khai trừ không được tập luyện. Danh hiệu đầu tiên họ dành được là vào năm 1901 khi đánh bại Genoa trong một trong những câu lạc bộ dẫn đầu giải vô địch lúc đó ( lúc này giải vô địch gồm những câu lạc bộ địa phương của từng liên đoàn bóng đá địa phương thi đấu với nhau sau đó chọn ra hai câu lạc bộ mạnh nhất vào chơi trận playoff, đội thắng cuộc là đội dành chức vô địch). Hai danh hiệu tiếp theo AC dành được là vào các năm 1906( trước Juventus) và 1907 trước Turin cùng với Andrea Doria (sau này hợp nhất với một đội khác của thành Genoa để trở thành CLB Sampdoria) .
Một năm sau đó, một phần của AC Milan tách ra thành một đội bóng riêng đó chính là Inter Milan(1908). Trận derby đầu tiên của thành Milan diễn ra vào ngày 18 tháng 10 năm 1908 và AC thắng với tỉ số 2-1 . Kể từ năm đó giải vô địch luôn bị gián đoạn bởi chiến tranh thế giới lần thứ I. Trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh không sự kiện quan trọng nào xảy ra trừ sự thành lập của Serie A năm 1929 . Vị trí cao nhất mà AC đạt được trong giai đoạn này là xếp thứ 3. Trong khoảng thời gian tiếp theo đó CLB được bổ sung bộ ba người Thuỵ Điển GreNoLi lừng lẫy, lúc đó các câu lạc bộ bóng đá Ý lúc đó được phép có 5 cầu thủ nước ngoài . Gunnar Nordahl trở thành cây săn bàn lừng lẫy của AC với 210 bàn thắng trong 257 trận đấu ( trung bình 0.81 bàn một trận), còn Gren và Nils là hai tiền vệ năng nổ. Với bộ ba này lần đầu tiên AC dành Scudetto đồng thời cũng là chứ vô địch trong nước lần thứ 4.(1950-1951) Milan đã trở thành một CLB thành công trên đất nước Ý và trên toàn thế giới bởi những danh hiệu vô địch, bởi những cầu thủ mà các câu lạc bộ khác trên thế giới luôn thèm muốn : Gunnar Gren, Gunnar Nordhal, Nils Liedholm.
Cuối thập kỉ 50 còn có thêm ba cầu thủ vĩ đại khác gia nhập ngôi nhà Milan . Một trong số đó là cầu thủ Gianni Rivera người được AC mua về với giá 200 ngàn $ từ CLB Alessandria, 200 ngàn $ là một cái giá kỉ lục lúc đó. Hai cầu thủ còn lại một mang quốc tịch Brazil José Altafini và cầu thủ người Uruguay Achiaffino cùng với các tên tuổi Anquiletti, Trapattoni, Lodetti, Sormani và Prati.
Một trong những thời kì huy hoàng nhất của câu lạc bộ là vào thập kỉ 60 với Gianni Rivera . Anh đã chơi một trận xuất sắc trước Benfica Lisbona đem về cho AC Milan chiếc cúp vô địch châu Âu đầu tiên năm 1963 với chiến thắng 2-1 nhờ công của tiền đạo người Brazil Altafini. Năm 1968 AC dành được Scudetto lần thứ 5 và chiếc cúp C2 danh giá .Tiếp sau năm đó năm 1969 AC dành chiếc cúp C1 lần thứ hai trong lịch sử khi đánh bại CLB Ajax với tỉ số 4-1 . Đây cũng là năm Rivera dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu. Cho đến giữa thập kỉ 70 AC đã trở thành CLB danh giá nhất nước Ý , dành được cúp C2 và chiếm 3 danh hiệu của bóng đá Ý, AC đã thực sự thống trị bóng đá Italia . Nhưng sau đó AC không dành thêm danh hiệu Scudetto nào và sự nghiệp của Rivera kết thúc.
Tiếp đó là khoảng thời gian đen tối nhất của lịch sử CLB AC Milan mặc dù có những lúc AC toả sáng khi dành được chiếc cúp QG năm 1977 và Scudetto năm 1979 – đây có thể coi là những khoảnh khắc tươi sáng nhất trong quãng thời gian đen tối này .Cuối năm 1980 , một vụ scandal về cá độ bị đưa ra công lý , những người tham gia và vụ cá độ này gồm có 2 cầu thủ của AC Milan và ngài chủ tịch Felica Colombo . Chính vì vụ cá độ bóng đá này , câu lạc bộ lừng lấy một thời đã bị đẩy xuống chơi lần đầu tiên trong lịch sử tại giải Serie B .Nhưng cũng trong thời điểm khó khăn này, một tài năng đã nảy nở đó là Franco Baresi , người đã thay thế Rivera nắm quyền chỉ đạo cả đội bóng và sau này đã trở thành biểu tượng của câu lạc bộ. Ông đã là người giữ kỉ lục cho Milan trong suốt 20 năm, người xứng đáng được nhận danh hiệu “ Cầu thủ thế kỉ của Milan “ trong một cuộc thăm dò chung. Chỉ sau một năm chơi tại Serie B, AC đã trở lại Serie A nhưng cũng chỉ một năm sau CLB lại phải xuống hạng . Nhưng thành công hơn mùa giải Serie B đầu tiên, AC đã vững vàng hơn, trưởng thành hơn , dành ngôi quán quân và được lên chơi tại Serie A . Một thời kì tươi sáng mở ra cho AC khi nhà tỉ phú Berlusconi bỏ tiền ra mua lại cả đội bóng, từ đây lịch sử CLB bước sang một trang mới.
Vị chủ tịch mới đã đem đến những gương mặt mới cho CLB, trong số đó là tài năng trẻ Paolo Maldini, Donadoni và bộ ba người Hà Lan ( Ruud Gullit,Marco Van Basten và Frank Rijkaard ). huấn luyện viên lúc đó là người hùng của thập kỉ 50 – Nils Liedholm . Nhưng sự huấn luyện của Nils không mang lại kết quả mong đợi và sự thay thế tuyệt vời bằng Arrigo Sacchi đã đem lại nguốn sinh khí mới cho CLB.
Dưới cương vị huấn luyện viên,Sacchi trong 4 mùa bóng, Milan đã giành được một danh hiệu Scudetto sau biết bao năm chờ đợi, 2 cúp C1, 2 lần dành siêu cúp châu Âu , hai lần dành cúp liên lục địa. Nhưng ban huấn luyện có những bất đồng với Marco Van Basten và Capello đã kế nhiệm chức HLV AC Milan. Dưới thời của Capello trong 5 mùa giải :4 danh hiệu vô địch Serie A, một siêu cúp Châu Âu, và chiếc cúp C1.Mùa giải năm 1992 là mùa giải đáng nhớ của CLB khi AC không để thua trận nào ở Serie A, kỉ lục đó là 59 trận bất bại . Năm 1993 AC lọt vào chung kết cúp C1 nhưng để thua O. Marseille với tỉ số 1-0. Nhưng năm tiếp theo, 1994 AC đã đánh bại Barca với tỉ số 4-0 một cách thuyết phục , người hùng của trận đấu đó là cầu thủ người Nam Tư- Dejan Savicevic. Chán với những vinh quang, Capello chuyển sang cầm quân cho Real.Tiếp đến một loạt các huấn luyện viên mới đã đến với AC, như Tabarez, Sacchi (lần thứ 2), Capello ( lần thứ hai),Zaccheroni, Fatih Terim. Ngoài HLV Carlo Ancelotti, người đã kế tục với chiếc cúp C1 lần thứ 6 huấn luyện viên cũ Alberto Zaccheroni trong hai mùa bóng đã dẫn dắt Milan đến với danh hiệu vô địch Serie A gần đây nhất( mùa giải 1998-1999). Đó là cuộc đua nước rút trong 10 vòng cuối của Milan với Lazio .
Trải qua thời gian, những lớp cầu thủ xa hơn nữa đã giành được những thắng lợi lớn, ví dụ như tài năng đến từ Serbia & Montenegro , Dejan Savicevic, cầu thủ người Liberia George Weah,cầu thủ người Croatia Zvonimir Boban, cầu thủ người Pháp Marcel Desailly, mà ở đây mới chỉ nhắc đến một số.
Ngoài ra Milan còn sản sinh ra những tên tuổi của bóng đá Ý như Paolo Maldini, Mauro Tassotti, Daniel Massaro, Alessandro Costacurta, Alberigo Evani, Roberto Donadoni, Filippo Galli,Demetrio Albertini. Bên cạnh các cầu thủ trên, những cầu thủ hiện tại đang từng bước chứng tỏ bây giờ là những ngôi sao mới như Massimo Ambrosini, Christian Abbiati, Serginho, Gennaro Gattuso và Andriy Shevchenco, Manuel Rui Costa và Filippo Inzaghi , Nesta, hay Rivaldo.
Lối trình diễn của các cầu thủ cùng với truyền thống lâu đời của câu lạc bộ ngày một nâng cao vị thế cho CLB. Milan đang mang trong mình những gía trị được thừa hưởng từ các lớp cầu thủ trước và đang vươn tới tương lai với những tham vọng lớn lao. Đội bóng đã thể hiện cho những fan hâm mộ của mình không chỉ những trang sử truyền thống lâu đời hơn 100 năm qua mà đó hơn hết là tinh thần, sức manh để sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thách thứ gian khổ...
NHỮNG HUYỀN THOẠI MẶC ÁO SỐ 7 CỦA MANCHESTER UNITED
CANTONA, một trong những số 7 huyền thoại của MU
Qua mọi thời kỳ, chiếc áo số 7 của Manchester United có những chủ nhân khác nhau nhưng tất cả đều có chung một điểm: Nhân vật kiệt xuất của M.U. Chiếc áo số 7 luôn là một vinh dự cho bất kỳ cầu thủ nào khoác nó khi đặt chân đến M.U. Đồng thời, nó cũng là trách nhiệm nặng nề cho ất kỳ cầu thủ nhận lấy. Bởi nó đã dệt lên những huyền thoại ở Old Tranfford như George Best, Johnny Berry, Bryan Robson, Willie Morgan... những người đã đóng góp những thành công rực rỡ cho M.U.
Sở dĩ phải nói lên điều đó vì tất cả những cầu thủ từng khoác chiếc áo số 7 của M.U luôn là những người xuất sắc nhất trong đội hình đội bóng này. Khi các CĐV sân Old Trafford chưa kịp quên đi hình ảnh của George Best thì lập tức họ đã thấy một Cantona lừng lẫy. Tiếp đó, là một tiền vệ tài hoa bậc nhất của bóng đá hiện đại, David Beckham.
Johnny Berry (1951 - 1958)
Johnny Berry, đến với M.U vào năm 1951 - 1958, một trong những tiền vệ cánh phải dũng mãnh nhất của M.U thời đó. Ông đã đóng góp khá nhiều bàn thắng quan trọng giúp cho M.U giành 3 chiếc cúp vô địch ngoại hạng Anh. Tuy nhiên ông đã vĩnh viễn giã từ sự nghiệp thi đấu ở tuổi 31, trong vụ tai nạn máy bay ở Munich.
George Best (1963 - 1974)
George Best, một trong những huyền thoại vĩ đại nhất của M.U. ông chính là cầu thủ đầu tiên đưa chiếc áo số 7 trở thành huyền thoại ở M.U. Đến với M.U vào năm 1963 - 1974, George Best đã ghi được 137 bàn thắng trong 316 trận chơi cho M.U. Ngoài ra, cầu thủ này còn là một tác nhân quan trọng giúp cho tuyển Anh giành Cúp VĐTG 1966.
Willie Morgan (1968 - 1975)
Willie Morgan là một mẫu tiền vệ cánh xuất sắc, với lối rê bóng điêu luyện, đầy kỹ thuật. Tiền vệ này đến M.U vào năm 1968 - 1975, ông là người khoác chiếc áo số 7 khi George Best nghỉ thi đấu. Ông cho rằng tài năng của mình và George Best là ngang nhau. Trong 236 trận thi đấu cho M.U, Morgan đã ghi được 25 bàn.
Steve Coppell (1974 - 1983)
Steve Coppell, nỗi kinh hoàng cho bất cứ hàng phòng ngự nào ở Anh. Ông cùng M.U giành cúp FA vào năm 1977 khi đánh bại Liverpool ở Wembley. Lần đầu tiên khoác áo tuyển Anh của Coppell là chiến thắng trước Ý tại Wembley tại vòng loại World Cup 1978. Coppell phải giã từ sự nghiệp ở tuổi 28 vì chấn thương đầu gối.
Bryan Robson (1981 - 1984)
Bryan Robson được mệnh danh là "Vị thủ lĩnh ma quái", ông đến với M.U với giá 1,5 triệu bảng vào năm 1981 - 1994. Robson đã cùng M.U giành được 3 chiếc cúp FA vào những năm 82-83, 84-85 và 89-90. Hai lần vô địch ngoại hạng vào các năm 92-93, 94-95, giành cúp Châu Âu vào năm 90-91.
Eric Cantona (1992 - 1997)
Eric Cantona, người được CĐV M.U xưng tụng là "King Eric" một trong những huyền thoại của M.U. Cantona đến M.U vào năm 1992 với giá 1,2 triệu bảng được Liên đoàn bóng đá Anh bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong năm 1994. Cantona giúp cho M.U giành 3 chức VĐ Premier League.
David Beckham (1992 - 2003)
Cầu thủ xuất sắc nhất nước Anh năm 2000, Beckham đã đặt dấu ấn thành công của mình vào giải 1999 - 2000 ở giải ngoại hạng Anh. Với chiếc áo số 7, có lẽ Beckham là cầu thủ được những người hâm mộ yêu mến nhất ở M.U. Beckham đã cùng M.U làm cú ăn ba lịch sử mùa bóng 1998 - 1999.
Cristiano Ronaldo (2003)
Sau những huyền thoại. George Best, Cantona, Beckham. Và giờ đây là C.Ronaldo cũng khoác chiếc áo số 7. Liệu chàng tiền vệ từ Madeira, Bồ đào Nha này có thể trở thành một huyền thoại của M.U? Đến M.U từ đầu mùa bóng, C.Ronaldo đã nhanh chóng hoà nhập và mau chóng thay thế Beckham.
JakeSatan
28-11-2004, 12:35
Worldcup Uruguay 1930
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363501_30.jpg
Việc tổ chức World Cup lần đầu tiên khác nhiều so với ngày nay, không có vòng đấu loại, 13 đội lọt vào vòng chung kết đều là những đội được mời và vòng chung kết sẽ chưa diễn ra nếu như các đội chưa đến Uruguay đầy đủ. Trong số 13 đội thì có 4 đội đến từ Châu Âu, 8 đội đến từ Nam Mỹ và 1 đại diện của châu Mỹ. Chất lượng chuyên môn của giải khá cao và cho thấy sự thống trị của bóng đá Nam Mỹ.
Măc dù bóng đá chính thức được cả thế giới công nhận vào năm 1904 với việc thành lập Liên đoàn bóng đá thế giới - FIFA, nhưng phải đến tận năm 1924 và kỳ Olympic tại Paris thì môn thể thao này mới có những trận đấu mang tính quốc tế. Đây là lần đầu tiên các đội bóng đến từ các châu lục khác nhau cùng tập trung tại châu Âu để thi đấu. Giải đấu này đã thành công ngoài mong đợi, hơn 50.000 khán giả đã chứng kiến đội tuyển Uruguay đánh bại Thụy Điển trong trận chung kết.
Tuy nhiên, vào năm 1928, khi mà nhiều quốc gia còn chưa muốn tham dự Olympic tại Amsterdam, thì đây là thời điểm chín muồi để có thể tổ chức 1 giải đấu riêng cho bóng đá, đặc biệt khi xu hướng bóng đá chuyên nghiệp đang ngày càng tăng trong thời gian này. Vào ngày 26/5/1928, tại Amsterdam, hội nghị của FIFA đã bỏ phiếu thống nhất tổ chức một giải đấu mới vào năm 1930 và tất cả các thành viên sẽ được tham gia giải đấu này. Ngày 18/5/1929, cuộc họp Liên đoàn bóng đá thế giới tổ chức tại Barcelona đã chọn Uruguay là quốc gia đầu tiên được đăng cai tổ chức vòng chung kết bóng đá thế giới lần đầu tiên.
Với tư cách là đương kim vô địch bóng đá tại Olympic và cũng để kỷ niệm 100 năm giành được độc lập, Uruguay đã có vinh dự là nước đầu tiên được tổ chức 1 vòng chung kết bóng đá thế giới. Mặc dù việc chọn lựa được tất cả các quốc gia thuộc Liên đoàn bóng đá thế giới- FIFA tán đồng nhưng nhiều nước châu Âu vẫn giấu giếm sự lưỡng lự của mình trong việc quyết định liệu có cho đội bóng nước mình vượt qua Đại Tây Dương để tham dự vòng chung kết lần này hay không. Và trên thực tế ngày càng nhiều nước châu Âu đã phá vỡ lời hứa tham dự giải lần này.
2 tháng trước vòng chung kết, không một quốc gia châu Âu nào tỏ ý muốn tham dự giải nhưng nhờ những nỗ lực cá nhân của Chủ tịch Liên đoàn bóng đá thế giới hồi đó là ông Rimet, cuối cùng đã có 4 đội bóng châu Âu là Bỉ, Pháp, Nam Tư và Rumani đồng ý tham dự. Vào ngày 21/6/1930, 4 đội bóng này đã thực hiện chuyến đi bằng thuyền tàu từ thành phố cảng Villefranche-Sur-Mer và đến thủ đô Rio de Janeiro của Brazil vào ngày 29/6.
Trong trận khai mạc, đội tuyển Pháp đã gặp đội tuyển Mexico và giành thắng lợi 4-1. Nhưng những ngôi sao thực sự tại vòng chung kết lần này lại là đội chủ nhà Uruguay và người láng giềng của họ, đội tuyển Argentina. Tại vòng bán kết, Argentina thắng đậm đội tuyển Mỹ với tỷ số 6- 1, trong khi Uruguay cũng có trận thắng trước đội tuyển Nam Tư với cùng tỷ số và điều này đã hứa hẹn một trận chung kết đỉnh cao giữa 2 đội tuyển láng giềng.
Một vài ngày trước trận chung kết, tại sân vận động Centenario với sức chứa 100.000 khán giả, bầu không khí đã trở nên cực kỳ náo nhiệt khi chuẩn bị được chứng kiến trận chung kết toàn Nam Mỹ giữa đội tuyển Uruguay và Argentina.
Và ngay từ khi trận đấu chưa bắt đầu, bầu không khí đã sớm căng thẳng khi cả 2 đội đều muốn thi đấu bằng bóng của mình. Cuối cùng, trọng tài John phải áp dụng hình thức tung đồng tiền và bóng đội Argentina được chọn thi đấu. Lúc đó, tất cả các khán giả tại sân vận động đều cho rằng đây là một điềm không hay với đội tuyển Uruguay.
Quả thật, may mắn có vẻ không mỉm cười với họ cho dù họ dẫn trước vì sau đó, Argentina lần lượt quân bình rồi dẫn trước 2-1. Nhưng hiệp 2, đội tuyển Uruguay đã có cú lội ngược dòng ngoạn mục khi họ ghi tới 3 bàn vào lưới đội tuyển Argentina do công của các cầu thủ Pedro Cea, Iriate và Castro. Kết quả chung cuộc, đội tuyển Uruguay đã thắng Argentina với tỷ số 4-2 và trở thành đội tuyển đầu tiên vô địch bóng đá thế giới.
Chủ tịch FIFA, ông Jules Rimet, đã trao bức tượng thần vệ nữ cao 30cm làm bằng vàng, nặng 4 kg do nhà điêu khắc người Pháp Abel Lafleur thiết kế, cho thủ quân đội tuyển Uruguay José Nazassi. Buổi lễ ăn mừng chiến thắng được tổ chức kéo dài nhiều ngày sau đó. Thế nhưng ngược lại với khung cảnh đó, tại thủ đô Argentina, Buenos Aires, cảnh sát đã phải dùng súng bắn vào những kẻ quá khích tấn công vào Đại sứ quán Uruguay ở Argentina. Ngày 31/7, ngày đội tuyển Uruguay giành được cúp vàng đã chính thức trở thành ngày quốc lễ của Uruguay.
Danh sách ghi bàn
8 bàn - Stábile ARG
5 bàn - Cea URU
3 bàn - Peucelle ARG, Prequinho BRA, Beck JUG, Anselmo URU, Pateunade USA
2 bàn - Monti, Zumelzú ARG, Moderato BRA, Vidal CHI, Maschinot FRA,
Vujadinović JUG, M.Rosas MEX + 1 own goal, Stanciu ROM, Castro, Dorado,
Irarte URU, McGhee USA
1 bàn - M. Evaristo, Scopello, Varallo ARG, Arellano, Subiabre CHI, Langiller,
L.Laurent FRA, Marjanović, Tirnanić JUG, Carreño, Gayón MEX, Benito
Cacéres PAR, Sousa PER, Barbu ROM, Scarone URU, Brown USA
Phản lưới nhà: 2
Tổng cộng: 70 bàn, trung bình 3.89 bàn/trận. Đội ghi nhiều bàn thắng nhất: Argentina (18),
Bỉ và Bolivia không ghi được bàn thắng nào. Tổng cộng có 35 cầu thủ ghi bàn, không một cầu thủ nào trong số đó ghi được bàn thắng tại World Cup 1934.
Hành trình
Vòng bảng 13 đội chia làm 4 bảng. Bảng A gồm Argentina, Chile, Pháp và Mexico. Bảng B gồm Bolivia, Brazil và Nam Tư. Bảng C gồm Peru, Romania và Uruguay. Bảng D gồm Bỉ, Paraguay và Mỹ. 4 đội đầu bảng lọt vào bán kết gồm Argentina, Mỹ, Uruguay và Nam Tư.
Bán kết Argentina - Mỹ 6-1
Uruguay - Nam Tư 6-1
Chung kết Uruguay - Argentina 4-2
Đội hình hai đội
Uruguay: Ballestero - Mascheroni, Nasazzi - Andrade, Fernández, Gestido -
Dorado, Scarone, Castro, Cea, Iriarte.
Argentina: Botasso - Della Torre, Paternoster - J.Evaristo, Monti, Arico
Suárez - Peucelle, Varallo, Stábile, Ferreira, M.Evaristo.
Ghi bàn: 1;0 Dorado (12'), 1:1 Peucelle (20'), 1:2 Stábile (38'), 2:2 Cea (58'), 3:2 Iriarte
(68'), 4:2 Castro (89')
JakeSatan
28-11-2004, 17:00
Worldcup Italia 1934
Italia, một trong những ứng cử viên không thành công cho chức vô địch tại vòng chung kết năm 1930, đã được chọn làm chủ nhà cho World Cup thứ 2.
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363517_1.jpg
Vòng chung kết lần này đã diễn ra từ ngày 27/5 tới 10/6 năm 1934. Lần này có đến 2/3 thành viên của Liên đoàn bóng đá thế giới muốn tham dự vì vậy FIFA đã phải tổ chức vòng đấu loại trong đó có cả đội chủ nhà (đội tuyển Ý) để chọn ra 16 đội lọt vào vòng chung kết.
Nhưng để trả đũa việc một số đội châu Âu đã không tham gia vòng chung kết 4 năm về trước, các đội tuyển Nam Mỹ như Argentina và Brazil đã không gửi đến vòng chung kết lần này đội hình mạnh nhất của mình.
Vì lý do này, chỉ có những đội châu Âu mới lọt đến vòng tứ kết. Và trận đấu đỉnh cao của vòng chung kết lần này đã diễn ra giữa đội tuyển Tây Ban Nha với đội tuyển Ý tại thành phố Florence. Trận đấu diễn ra với nhiều pha vào bóng thô bạo của các cầu thủ Ý, và đến cuối trận đấu tỷ số vẫn là 1- 1. Theo quy định hồi đó, nếu kết thúc trận đấu mà 2 đội vẫn hoà thì trận đấu sẽ được tiếp tục vào ngày hôm sau.
Với cố gắng lấy lại sức cho đội của mình, cả 2 HLV đã phải liên tục thay cầu thủ (5 lần với đội Ý , 7 lần với đội Tây Ban Nha) và cuối cùng chiến thắng cũng đã đến với đội tuyển Ý với 1 bàn thắng duy nhất của trung phong Giuseppe Meazza. 2 ngày sau, 1 diễn biến tương tự với đội tuyển Áo đã diễn ra tại thành phố Milan.
Trên sân San Siro, 2 đội đã phải thi đấu trên 1 sân đầy nước do 1 cơn bão vừa đi qua và 1 lần nữa, trung phong Meazza lại trở thành người hùng của đội tuyển Ý khi anh ghi bàn thắng quyết định, giúp đội tuyển Ý thẳng tiến tới trận chung kết gặp đội CH Séc và Slovakia- đội đã đánh bại Đức với tỷ số 3 - 1 ở vòng bán kết.
Trong trận chung kết (10/6/1934), toàn bộ đất nước Italia đã phải nín thở khi chỉ còn 20 phút nữa trận đấu sẽ kết thúc, cầu thủ chạy cánh của đội Tiệp Khắc, Puc, đã bật cao đánh đầu đưa đội khách vượt lên dẫn trước. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, cầu thủ gốc Argentina, Orsi, đã cân bằng tỷ số cho đội tuyển Ý.
Nhưng đội Ý đã phải chịu tổn thất khi tiền đạo Meazza phải rời sân do chấn thương mắt cá chân. Tuy nhiên, cuối cùng, may mắn đã mỉm cười với người Ý với bàn thắng của cầu thủ Schiavio. Đội tuyển Ý hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu vô địch qua những gì họ đã thể hiện ở vòng chung kết lần này. Cả đất nước Italia có 1 đêm không ngủ.
Danh sách ghi bàn
5 bàn - Nejedlý CZE
4 bàn - Conen GER, Schiavio ITA
3 bàn - Orsi ITA, Kielholz SUI
2 bàn - Horvath AUT, Voorhoof BEL, Puč CZE, Fawzi EGY, Lángara ESP, Hohmann,
Lehner GER, Toldi HUN, Ferrari, Meazza ITA, Jonasson SWE
1 bàn - Belis, Galateo ARG, Bican, Schall, Sindelar, Zischek AUT, Leónidas
BRA, Sobotka, Svoboda CZE, Irragorri, Regueiro ESP, Nicolas, Verriest
FRA, Kobierski, Noack, Siffling GER, Smit, Vente HOL, Sárosi, Teleki,
Vincze HUN, Guaita ITA, Dobay ROM, Abegglen, Jâggi SUI, Dunker, Kroon
SWE, Donelli ITA
Tổng cộng: 70 bàn thắng, trung bình 4.12 bàn/trận. Đội ghi nhiều bàn thắng nhất: Italia (12), không đội nào không ghi được bàn thắng. Tổng cộng có 46 cầu thủ ghi bàn.
Hành trình
Vòng bảng Gồm 16 đội tuyển, Argentina, Áo, Bỉ, Brazil, Tiệp Khắc, Ai Cập, Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Hà Lan, Hungary, Italia, Rumania, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Mỹ
Bán kết Italia - Áo 1-0
Tiệp Khắc - Đức 3-1
Chung kết Italia - Tiệp Khắc 2-1
Đội hình hai đội
Italia: Combi - Monzeglio, Allemandi - Ferraris, Monti, Bertolini -
Guaita, Meazza, Schiavio, Ferrari, Orsi
Tiệp Khắc: Planicka - Zenisek, Ctyroky - Kostalek, Cambal, Krcil -
Junek, Svoboda, Sobotka, Nejedly, Puc
Ghi bàn: 0:1 Puc 71, 1:1 Orsi 81, 2:1 Schiavio 95
DANH SÁCH CÁC ĐỘI VÔ ĐỊCH QUỐC GIA ITALIA
(năm hoặc mùa giải/tên đội vô địch)
1898 Genoa 1893
1899 Genoa 1893
1900 Genoa 1893
1901 Milan AC
1902 Genoa 1893
1903 Genoa 1893
1904 Genoa 1893
1905 Juventus FC
1906 Milan AC
1907 Milan AC
1908 Pro Vercelli
1909 Pro Vercelli
1909/10 FC Internazionale
1910/11 Pro Vercelli
1911/12 Pro Vercelli
1912/13 Pro Vercelli
1913/14 Casale
1914/15 Genoa 1893
1916 huỷ bỏ
1917 huỷ bỏ
1918huỷ bỏ
1919/20 FC Internazionale
1920/21 Pro Vercelli
1921/22 Pro Vercelli (C.C.I)
Novese (F.I.G.C)
1922/23 Genoa 1893
1923/24 Genoa 1893
1924/25 Bologna
1925/26 Juventus FC
1926/27 Torino
1927/28 Torino 1928/29 Bologna
1929/30 Ambrosiana-Inter
1930/31 Juventus FC
1931/32 Juventus FC
1932/33 Juventus FC
1933/34 Juventus FC
1934/35 Juventus FC
1935/36 Bologna
1936/37 Bologna
1937/38 Ambrosiana-Inter
1938/39 Bologna
1939/40 Ambrosiana-Inter
1940/41 Bologna
1941/42 AS Roma
1942/43 Torino
1943/44 chỉ tổ chức giải khu vực do chiến tranh
1944/45 chỉ tổ chức giải khu vực do chiến tranh
1945/46 Torino
1946/47 Torino
1947/48 Torino
1948/49 Torino
1949/50 Juventus FC
1950/51 Milan AC
1951/52 Juventus FC
1952/53 FC Internazionale 1953/54 FC Internazionale
1954/55 Milan AC
1955/56 AC Fiorentina
1956/57 Milan AC
1957/58 Juventus FC
1958/59 Milan AC
1959/60 Juventus FC
1960/61 Juventus FC
1961/62 Milan AC
1962/63 FC Internazionale
1963/64 Bologna
1964/65 FC Internazionale
1965/66 FC Internazionale
1966/67 Juventus FC
1967/68 Milan AC
1968/69 AC Fiorentina
1969/70 Cagliari
1970/71 FC Internazionale
1971/72 Juventus FC
1972/73 Juventus FC
1973/74 SS Lazio
1974/75 Juventus FC
1975/76 Torino
1976/77 Juventus FC
1977/78 Juventus FC
1978/79 Milan AC
1979/80 FC Internazionale
1980/81 Juventus FC
1981/82 Juventus FC
1982/83 AS Roma
1983/84 Juventus FC
1984/85 Hellas Verona
1985/86 Juventus FC
1986/87 SSC Napoli
1987/88 Milan AC
1988/89 FC Internazionale
1989/90 SSC Napoli
1990/91 Sampdoria UC
1991/92 Milan AC
1992/93 Milan AC
1993/94 Milan AC
1994/95 Juventus FC
1995/96 Milan AC
1996/97 Juventus FC
1997/98 Juventus FC
1998/99 Milan AC
1999/00 SS Lazio
2000/01 AS Roma
2001/02 Juventus FC
2002/03 Juventus FC
2003/04 Milan AC.
XẾP HẠNG THEO SỐ LẦN VÔ ĐỊCH
27 lần: Juventus FC
17 lần: Milan AC
13 lần: FC Internazionale
9 lần: Genoa 1893 7 lần: Torino, Bologna, Pro Vercelli
3 lần: AS Roma
2 lần: AC Fiorentina, SS Lazio, SSC Napoli
1 lần: Cagliari, Casale, Novese, Sampdoria UC, Hellas Verona
Các vua phá lưới Serie A
DANH SÁCH CÁC VUA PHÁ LƯỚI SERIE A
Mùa giải Cầu thủ Đội Số bàn thắng
1929/30 Meazza Inter 31
1930/31 Volk AS Roma 29
1931/32 Petrone Fiorentina 25
Schiavio Bologna 25
1932/33 Borel II Juventus 29
1933/34 Borel II Juventus 32
1934/35 Guaita AS Roma 28
1935/36 Meazza Inter 25
1936/37 Piola Lazio 21
1937/38 Meazza Inter 20
1938/39 Boffi Milan 19
Puricelli Bologna 19
1939/40 Boffi Milan 24
1940/41 Puricelli Bologna 22
1941/42 Boffi Milan 22
1942/43 Piola Lazio 21
1945/46 Castiglione Torino 13
1946/47 Mazzola V. Torino 29
1947/48 Boniperti Juventus 27
1948/49 Nyers Inter 26
1949/50 Nordahl Milan 35
1950/51 Nordahl Milan 34
1951/52 Hansen J. Juventus 30
1952/53 Nordahl Milan 26
1953/54 Nordahl Milan 23
1954/55 Nordahl Milan 27
1955/56 Pivatelli Bologna 29
1956/57 Da Costa Roma 22
1957/58 Charles Juventus 28
1958/59 Angelillo Inter 33
1959/60 Sivori Juventus 27
1960/61 Brighenti Samdoria 27
1961/62 Altafini Milan 22
Milani Fiorentina 22
1962/63 Manfredini Roma 19
Nielsen Bologna 19
1963/64 Nielsen Bologna 21
1964/65 Mazzola A. Inter 17
Orlando Fiorentina 17
1965/66 Vinicio L.R. Vicenza 25
1966/67 Riva Cagliari 18
1967/68 Prati Milan 15
1968/69 Riva Cagliari 21
1969/70 Riva Cagliari 20
1970/71 Boninsegna Inter 24
1971/72 Boninsegna Inter 22
1972/73 Pulici P. Torino 17
Savoldi I Bologna 17
1973/74 Chinaglia Lazio 24
1974/75 Pulici P. Torino 18
1975/76 Pulici P. Torino 21
1976/77 Graziani Torino 21
1977/78 Rossi P. L.R. Vicenza 24
1978/79 Giordano Lazio 19
1979/80 Bettega Juventus 16
1980/81 Pruzzo Roma 18
1981/82 Pruzzo Roma 15
1982/83 Platini Juventus 16
1983/84 Platini Juventus 20
1984/85 Platini Juventus 18
1985/86 Pruzzo Roma 19
1986/87 Virdis Milan 17
1987/88 Maradona Napoli 15
1988/89 Serena Inter 22
1989/90 Van Basten Milan 19
1990/91 Vialli Sampdoria 17
1991/92 Van Basten Milan 25
1992/93 Signori Lazio 26
1993/94 Signori Lazio 23
1994/95 Batistuta Fiorentina 26
1995/96 Signori Lazio 24
Protti Bari 24
1996/97 Inzaghi Atalanta 24
1997/98 Bierhoff Udinese 27
1998/99 Amoroso Udinese 22
1999/2000 Shevchenko Milan 24
2000/01 Crespo Lazio 26
2001/02 Trezeguet Juventus 24
Hubner Piacenza 24
2002/03 Vieri Inter 24
2003/04
NHỮNG CẦU THỦ GIÀNH NHIỀU DANH HIỆU
Số lần Tên Đội Mùa giải
5 Nordahl Milan 49/50, 50/51, 52/53, 53/54, 54/55
3 Meazza Inter 29/30, 35/36, 37/38
3 Boffi Milan 38/39, 39/40, 41/42
3 Riva Cagliari 66/67, 68/69, 69/70
3 P.Pulici Torino 72/73, 74/75, 75/76
Các đội VĐQG Tây Ban Nha
15:28' 11/10/2004 (GMT+7)
DANH SÁCH CÁC ĐỘI VÔ ĐỊCH QUỐC GIA TÂY BAN NHA
(năm hoặc mùa giải/tên đội vô địch)
1928/29 Barcelona
1929/30 Bilbao
1930/31 Bilbao
1931/32 Real Madrid
1932/33 Real Madrid
1933/34 Bilbao
1934/35 Real Betis
1935/36 Bilbao
1936/37 nội chiến
1937/38 nội chiến
1938/39 nội chiến
1939/40 A. Aviación
1940/41 A. Aviación
1941/42 Valencia
1942/43 Bilbao
1943/44 Valencia
1944/45 Barcelona
1945/46 Sevilla
1946/47 Valencia
1947/48 Barcelona
1948/49 Barcelona
1949/50 Atlético M.
1950/51 Atlético M.
1951/52 Barcelona
1952/53 Barcelona
1953/54 Real Madrid
1954/55 Real Madrid
1955/56 Bilbao
1956/57 Real Madrid
1957/58 Real Madrid
1958/59 Barcelona
1959/60 Barcelona
1960/61 Real Madrid
1961/62 Real Madrid
1962/63 Real Madrid
1963/64 Real Madrid
1964/65 Real Madrid
1965/66 Atlético M.
1966/67 Real Madrid
1967/68 Real Madrid
1968/69 Real Madrid
1969/70 Atletico M.
1970/71 Valencia
1971/72 Real Madrid
1972/73 Atlético M.
1973/74 Barcelona
1974/75 Real Madrid
1975/76 Real Madrid
1976/77 Atlético M.
1977/78 Real Madrid
1978/79 Real Madrid
1979/80 Real Madrid
1980/81 Sociedad
1981/82 Sociedad
1982/83 Bilbao
1983/84 Bilbao
1984/85 Barcelona
1985/86 Real Madrid
1986/87 Real Madrid
1987/88 Real Madrid
1988/89 Real Madrid
1989/90 Real Madrid
1990/91 Barcelona
1991/92 Barcelona
1992/93 Barcelona
1993/94 Barcelona
1994/95 Real Madrid
1995/96 Atlético M.
1996/97 Real Madrid
1997/98 Barcelona
1998/99 Barcelona
1999/00 Deportivo
2000/01 Real Madrid
2001/02 Valencia
2002/03 Real Madrid
2003/04 Valencia
2004/05
XẾP HẠNG THEO SỐ LẦN VÔ ĐỊCH
29 lần: Real Madrid
16 lần: Barcelona
9 lần: Atletico Madrid
8 lần: Athletic Bilbao 6 lần: Valencia
2 lần: Real Sociedad
1 lần: Real Betis (Sevilla)
RC Deportivo de La Coruña
Sevilla FC
JakeSatan
29-11-2004, 16:27
Tiger Cup 96
Bảng A
- Ngày 2/9:
Campuchia - Việt Nam 1-3
Ghi bàn: Campuchia - Nuth Sony 67'; Việt Nam - Trần Công Minh 21', Lê Huỳnh Đức 30', Võ Hoàng Bửu 80'; Khán giả: 2.800
Lào - Indonesia 1-5
Ghi bàn: Lào - Savatdy Saysana 75'; Indonesia - Fachri Husaini 5', Iriyanto 15', Kurniawan 17', Darwis 34', Peri Sandria 65'; Khán giả: 2.800
- Ngày 5/9:
Lào - Việt Nam 1-1
Ghi bàn: Lào - Chalana 52'; Lê Huỳnh Đức 85'; Khán giả: 1.400
Myanmarnmar - Campuchia 5-0
Ghi bàn: Tin Myo Aung 14', Win Aung 35', 54', Myo Hlaing Win 71', Maung Maung Oo 90'; Khán giả: 1.500
- Ngày 7/9:
Myanmarnmar - Việt Nam 1-4
Ghi bàn: Myanmarnmar - Maung Maung Htay 25'; Nguyễn Hữu Đang 6', Lê Huỳnh Đức 16', Trần Công Minh 48'; Nguyễn Hồng Sơn; Khán giả: 2,000
Indonesia - Campuchia 3-0
Ghi bàn: Kurniawan 15', Sandria 24', Iriyanto 60'; Khán giả: 2,000
- Ngày 9/9:
Campuchia - Lào 0-1
Ghi bàn: Khonsavanh 39'; Khán giả: 4,000
Indonesia - Myanmarnmar 6-1
Ghi bàn: Indonesia - Husaini 7', 65', Sandria 21', 27', Ansyari Lubis 28', Iriyanto 39'; Maung Maung Htay 26'; Khán giả: 4,000
- Ngày 11/9:
Indonesia - Việt Nam 1-1
Ghi bàn: Indonesia -Iulianto 44'; Võ Hoàng Bửu 77'; Khán giả: 1,300
Lào - Myanmarnmar 2-4
Ghi bàn: Lào - Bounlap 40', Phonesavanh 45'; Myanmarnmar: Win Aung 16', 68', Maung Maung Oo 35', Myon Hlaing Win 81'; Khán giả: 500
Bảng B
- Ngày 2/9:
Malaysia - Singapore 1-1
Ghi bàn: Malaysia - K.Sanbagamaran 31'; Singapore - Fandi Ahmad 89'; Khán giả: 7.500
Philippines - Thái Lan 0-5
Ghi bàn: PhilippinesThái Lanya Santawong 10', 38', Kiatisuk Senamuang 15', Natipong Sritong-in 41', 60'; Khán giả: 2.800
- Ngày 4/9:
Malaysia - Philippines 7-0
Ghi bàn: K.Sanbagaraman 36', 61', 90', Azman Adnan 43', Samsuri Abdul Rahman 53', 81', M.Chandran 78'; Khán giả. 1,000
Singapore - Brunei 3-0
Ghi bàn: Hasnim Haron 1', Steven Tan 4', Fandi Ahmad 51'; Khán giả: 8.400
- Ngày 6/9:
Thái Lan - Brunei 6-0
Ghi bàn: PhilippinesThái Lanya Santawong 15', Natipong Sritong-in 23', 87', Worawoot Srimaka 35', 67', Kiatisuk Senamuang 77'; Khán giả: 8.000
Singapore - Philippines 3-0
Ghi bàn: Fandi Ahmad 20', 42', Lim Tong Hai 73'; Khán giả:12.000
- Ngày 8/9:
Brunei - Philippines 1-0
Ghi bàn: Irwan bin Mohammed 28'; Khán giả: 3.000
Thái Lan - Malaysia 1-1
Ghi bàn: Kiatisuk Senamuang 28'; Z.A. Hassan 57'; Khán giả: 14.000
- Ngày 10/9
Malaysia - Brunei 6-0
Ghi bàn: K.Sanbagamaran 3', Samsurin Abdul Rahman 37', Anuar Abu Bakar 47', 60', Chandran 82', 89'; Khán giả: 20.000
Singapore - Thái Lan 0-1
Ghi bàn: Natipong Sritong-in 68'; Khán giả: 42.000
Bán kết
- Ngày 13/9:
Thái Lan - Việt Nam 4-2
Ghi bàn: Thái Lan: Kiatisuk Senamuang 4', Natipong Sritong-in 10', 20', Worawoot Srimaka 46'; Võ Hoàng Bửu 82'/11m, Nguyễn Hồng Sơn 88'. Khán giả: 20.000
Malaysia - Indonesia 3-1
Ghi bàn: Malaysia - K. Sanbagamaran 6', Yap Wai Loon 15', Samsurin Abdul Rahman 75'; Indonesia - Azmil Azali 44'/phản lưới; Khán giả: 20.000
Tranh hạng ba
- Ngày 15/9:
Indonesia - Việt Nam 2-3
Ghi bàn: Indonesia - Kurniawan 66', Tecuari 85'; Việt Nam - Huỳnh Quốc Cường 8', Tumena 27'/phản lưới, Võ Hoàng Bửu 73'/11m; Khán giả: 32.000
Chung kết
- Ngày 15/9:
Thái Lan - Malaysia 1-0
Ghi bàn: Kiatisuk Senamuang 9'; Khán giả: 32,000
Tiger Cup 98
Vòng loại:
Bảng 1 (tại Myanmarnmar)
14/3/98 Myanmarnmar - Brunei 4-1
16/3/98 Lào - Brunei 2-1
18/3/98 Myanmarnmar - Lào 3-0
* Myanmarnmar và Lào lọt vào VCK
Bảng 2 (tại Singapore)
24/3/98 Singapore - Philippines 1-0
26/3/98 Campuchia - Philippines 1-1
28/3/98 Singapore - Campuchia 3-0
* Singapore và Philippines vào VCK
CĐV nước chủ nhà Việt Nam.
Vòng bảng
Bảng A (thi đấu tại SVĐ Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh)
- Ngày 27/8:
Indonesia 3-0 Philippines
Ghi bàn: Widodo Putro 12', Sakti 43'/11m, Uston Nasawi 64'; Khán giả: 15.000
Đội hình:
Indonesia: 1-Kurnia Sandi, 14-Sugiyantoro, 4-Mursyid Effendi (19- Nur'alim), 17-Chairif Anwar, 3-Aji Santoso, 2-Anang Ma'ruf, 11-Bima Sakti, 15-Uston Nawawi, 8-Yusuf Ekodono (12-Alexander Pulalo), 7-Widodo Putro, 10-Kurniawan Dwi Yulianto (9- Mirobaldo Bento).
Philippines: 1-Melo Sabacan, 5-Judy Suluria, 3-Raymond Tonog, 4-Randy Valbuena, 6-Richard Bedia, 10-Marlon Pinero (15-Vincente Rosell), 9-Norman Fegidero, 11-Loreto Kalalang, 7-Yanti Barsales, 2-Florante Altivo, 12-Alfredo Gonzalez.
Trọng tài: Shamsul Maidin (Singapore), M. Elagakovan (Malaysia)/Phạm Chu Thiện (Việt Nam)/Stephan Ovinis (Malaysia) Thẻ vàng: Anang Ma'ruf, Kurniawan Dwi Yulianto - Raymond Tonog, Judy Suluria, Loreto Kalalang.
Thái Lan - Myanmarnmar 1-1; Khán giả: 15.000
Ghi bàn: Thái Lan - Worrawoot Srimaka 15', Myanmarnmar - Aung Khine 65'
Đội hình:
Thái Lan: 22-Saravouth Campuchiabua, 2-Kritsada Piandit, 6-Sanor Longsawang, 7-Natee Tongsukkao, 12-Surachai Jaturapatarapong, 16-Surachai Jirasirichote, 19-Worrawoot Srimaka, 21-Kowit Foythong, 25-Songserm Maperm (20-Chaichan Knewsen), 26- Ronnachai Sayomchai, 28-Niweat Siriwong.
Myanmarnmar: 1-San Htwe, 6-Maung Gyi, 2-Min Thu, 4-San Lwin, 3-Min Aung, 5-Thet Khine, 7-Tun Soe, 11-Myint Htwe (13-Zaw Bar), 8- Maung Htay (12-Maung Thái Lann), 9-Myo Myo Hlaing Win, 10-Aung Khine (16-Win Htike).
Trọng tài: Nik Ahmad Hafi Yacob (Malaysia) (Krishnan VisanaThái Lann (Singapore)/Lu Chun (Trung Quốc), Nguyễn Văn Mùi (Việt Nam)/Tan Eng Yoon (Singapore)/Stephen Ovinis (Malaysia). Thẻ vàng: Songserm Maperm, Sanor Longsawang - Min Thu, San Lwin, Myint Htwe.
- Ngày 29/8:
Thái Lan- Philippines 3-1; Khán giả: 15.000
Ghi bàn: Worrawoot Srimaka 21' (1-0), Alfredo Gonzalez 30' (1-1), Kritsada Piandit 57' (2-1), Kiarung Threjagsang 86' (3-1)
Đội hình:
Thái Lan: 18-Kiatisuk Rawangpa, 2-Kritsada Piandit, 7-Natee Tongsukkao, 8-Therdsak Chaiman, 12-Surachai Jaturapatarapong, 14-Anan Punsanai, 16-Surachai Jirasirichote, 19-Worrawoot Srimaka, 20-Chaichan Knewsen (9-Ronnachai Sayomchai), 21- Kowit Foythong, 28-Niweat Siriwong (4-Kiarung Threjagsang)
Philippines: 1-Melo Sabacan, 5-Judy Suluria, 3-Raymond Tonog, 6- Richard Bedia, 8-Troy Fegidero, 9-Norman Fegidero (7-Yanti Barsales), 11-Loreto Kalalang, 2-Florante Altivo, 17-Gil Talavera, 12-Alfredo Gonzalez, 4-Randy Valbuena
Trọng tài: Chan Siu Kee (Hong Kong) (Lu Jun (ChIndonesia)/Krishnan VisanaThái Lann (Singapore)/Nik Ahmad Hafi Yacob (Malaysia)
Thẻ vàng: Niweat Siriwong - Raymond Tonog, Loreto Kalalang
Indonesia - Myanmarnmar 6-2; Khán giả: 15.000
Ghi bàn: Myo Hlaing Win 1' (0-1), Aji Santoso 15'p (1-1), Widodo Putro 30' (2-1), Min Aung 39'OG (3-1), Bima Sakti 54' (4-1), Mirobaldo Bento 75'p (5-1), Min Thu 77'OG (6-1), Myo Hlaing Win 85'p (6-2).
Đội hình:
Indonesia: 1-Kurnia Sandi, 14-Sugiyantoro, 4-Mursyid Effendi, 17- Chairif Anwar (19-Nur'alim), 3-Aji Santoso, 2-Anang Ma'ruf (5- Hartono), 11-Bima Sakti, 15-Uston Nawawi, 8-Yusuf Ekodono (10- Kurniawan Dwi Yulianto), 7-Widodo Putro, 9-Mirobaldo Bento
Myanmarnmar: 1-San Htwe, 6-Maung Gyi, 2-Min Thu (14-Soe Myanmart Min), 4- San Lwin, 3-Min Aung, 5-Thet Khine, 7-Tun Soe, 11-Myint Htwe, 8-Maung Htay (12-Maung Thái Lann), 9-Hlang Win, 10-Aung Khine
Trọng tài: Nguyễn Văn Mùi (Việt Nam) (Phạm Chu Thiện (Việt Nam)/M. Elagakovan (Malaysia)/Shamsul Maidin (Singapore). Thẻ vàng: Nur'alim, Mirobaldo Bento - Myint Htwe, Aung Khine, Min Thu.
- Ngày 31/8:
Myanmarnmar - Philippines 5-2; Khán giả: 12.000
Ghi bàn: Win Htike 21' (1-0), Alfredo Gonzalez 25' (1-1), Alfredo Gonzalez 30' (1-2), Myo Hlaing Win 43' (2-2), Aung Khine 78' (3-2), Aung Khine 80' (4-2), Myo Hlaing Win 85' (52)
Đội hình:
Myanmarnmar: 1-San Htwe, 3-Min Aung, 5-Thet Khine, 6-Maung Gyi (15- Kyaw Thu), 7-Tun Soe, 9-Hlain Win, 10-Aung Khine, 13-Zaw Bar, 14-Soe Myanmart Min, 16-Win Htike (12-Maung Thái Lann), 17Myanmart Min Oo.
Philippines: 1-Melo Sabacan, 2-Florante Altivo, 3-Raymond Tonog, 4- Randy Valbuena, 6-Richard Bedia, 7-Yanti Barsales (14-Jeofrey Lobation), 8-Troy Fegidero, 9-Norman Fegidero, 12-Alfredo Gonzalez, 15-Vicente Rosell, 17-Gil Talavera.
Trọng tài: Shamsul Maidin (Singapore) (Phạm Chu Thiện (Việt Nam)/Nik Ahmad Hafi Yacob (Malaysia)/Nguyễn Văn Mùi (Việt Nam). Thẻ vàng: Soe Myanmart Min - Norman Fegidero.
Thái Lan - Indonesia 3-2
Ghi bàn: Mirobaldo Bento 52' (0-1), Kritsada Piandit 62' (1-1), Aji Santoso 84' (1-2), Therdsak Chaiman 86' (2-2), Yusuf Ekodono 90'/phản lưới (3-2)
Đội hình:
Thái Lan: 22-Saravouth Campuchiabua, 4-Kiarung Threjagsang, 5- Choketawee Promrut, 6-Sanor Longsawang (2-Kritsada Piandit), 7-Natee Tongsukkao (19-Worrawoot Srimaka), 8-Therdsak Chaiman, 14-Anan Punsanai, 15-Sunai Jaidee, 16-Surachai Jirasirichote, 20-Chaichan Knewsen (9-Ronnachai Sayomchai),
21-Kowit Foythong.
Indonesia: 20-Hendro Kartiko, 19-Nur'alim, 4-Mursyid Effendi, 12- Alexander Pulalo (3-Aji Santoso), 13-Kuncoro, 5-Hartono, 11- Bima Sakti, 15-Uston Nawawi, 8-Yusuf Ekodono, 7-Widodo Putro, 6-Imam Riyadi (9-Mirobaldo Bento).
Trọng tài: Lu Jun (TQ) (M. Elagakovan (Malaysia)/Krishnan VisanaThái Lann (Singapore)/Chan Siu Kee (Hong Kong). Thẻ vàng: Choketawee Promrut.
Bảng B (thi đấu tại Hà Nội):
- Ngày 26/8:
Malaysia - Singapore 0-2; Khán giả: 20.000
Ghi bàn: Mohd Rafi Mohd Ali 17' (0-1), Ahmad Latiff Kamaruddin 42' (0-2)
Đội hình:
Malaysia: 1-Azmin Azram Abdul Aziz, 17-Gregory Kolopis, 15-Tengku Hazman Raja Hassan, 14-Gopalan Mujappan, 11-Muhammad Khalid Jamlus, 4-ThIndonesiagaran Vijayan, 5-Moey Kok Hong, 6-Abdul Ghani Malik, 7-Amzi Mohomad, 12-Jalauddin Jaafar, 8-Abdullah Nki Leh.
Singapore: 1-Mohd Rezal Hassan, 16-Abdul Kadir Yahaya, 15-Mohd Nazri Nasir, 3-Mohd Rafi Mohd Ali, 5-Aide Iskandar Sahak, 13- Sasi Kumar, 6-Subramani Shunmugham, 25-Rudy Khairon Daiman, 9- Ahmad Latiff Kamaruddin, 11-Mohd Hafizat Jauharmir, 19-Gusta Guzarishah Miramshah.
Trọng tài: Kim Young Joo (Hàn Quốc) (Jerry Andreas (Philippines)/Claro Palomo (Philippines)/U. Hla Htay Hla (Myanmarnmar). Thẻ vàng: Abdullah Nki Leh.
Việt Nam - Lào 4-1; Khán giả: 20.000
Ghi bàn: Nguyễn Hồng Sơn 30' (1-0), Nguyễn Văn Sĩ 43' (2-0), Channiphone Keolakhone 55' (2-1), Lê Huỳnh Đức 85' (3-1), Lê Huỳnh Đức 90' (4-1).
Đội hình:
Việt Nam: 1-Trần Tiến Anh, 5-Đỗ Mạnh Dũng, 4-Nguyễn Hữu Thắng (7- Đỗ Khải), 6-Nguyễn Đức Thắng, 20-Trần Công Minh, 17-Triệu Quang Hà, 8-Nguyễn Hồng Sơn (9-Văn Sỹ Hùng), 19-Trương Việt Hoàng, 11-Nguyễn Văn Sỹ (3-Nguyễn Thiện Quang), 18-Vũ Minh Hiếu, 10-Lê Huỳnh Đức.
Lào: 1-Xenvilay Soulivanh, 5-Loung Amath Chalana, 4-Xayavong Vilayphone, 8-Thái Lanmavongsa Bounmy, 15-Homsombath Khonesavanh, 12-Keodala Somsack, 2-ChanThái Lanvong Khamsay, 3-Xayavong Phonepadith, 18-Thepsouvanh Ananh, 13-Channiphone Keolakhone, 10-Bousokvanh Bounlanh.
Trọng tài: HanluMyanmarung Panya (Thái Lan) (Prachya Permpanich (Thái Lan)/Peerapon Pu U Dom (Thái Lan)/Michael Andrews (Ấn Độ). Thẻ vàng: Nguyễn Hữu Thắng, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Văn Sỹ - Loung Amath Chalana.
- Ngày 28/8:
Malaysia - Lào 0-0; Khán giả: 15.000
Đội hình:
Malaysia: 1-Azmin Azram Abdul Aziz, 17-Gregory Kolopis, 9-Chow Chee Weng, 15-Tengku Hazman Raja Hassan, 3-Johnny Joseph, 13- Khairun Malaysiarom, 14-Gopalan Mujappan (12-Jalauddin Jaafar), 11-Muhammad Khalid Jamlus (7-Amzi Mohomad), 16-Jaya Supramaniam, 4-ThIndonesiagaran Vijayan, 6-Abdul Ghani Malik (10- Kamal Sambagamaran).
Lào: 1-Xenvilay Soulivanh, 5-Loung Amath Chalana, 4-Xayavong Vilayphone, 8-Thái Lanmavongsa Bounmy, 9-Khentitisack Bounlap, 15- Homsombath Khonesavanh (16-Keophet Sou Binh), 12-Keodala Somsack (3-Xayavong Phonepadith), 2-ChanThái Lanvong Khamsay, 6- Phonphachanh Kholadeth (18-Thepsouvanh Ananh), 13-Channiphone Keolakhone, 10-Bousokvanh Bounlanh.
Trọng tài: Michael Andrews (India) (Peerapon Pu (Thái Lan)/U Hla Htay Hla (Myanmarnmar)/HanluMyanmarung Panya (Thái Lan). Thẻ vàng: Gregory Kolopis - Khentitisack Bounlap
Việt Nam - Singapore 0-0
Đội hình:
Việt Nam: 1-Trần Tiến Anh, 5-Đỗ Mạnh Dũng, 4-Nguyễn Hữu Thắng, 6- Nguyễn Đức Thắng, 20-Trần Công Minh, 17-Triệu Quang Hà, 8- Nguyễn Hồng Sơn (24-Nguyễn Tuấn Thành), 19-Trương Việt Hoàng, 11-Nguyễn Văn Sỹ (3-Nguyễn Thiện Quang), 18-Vũ Minh Hiếu (9- Văn Sỹ Hùng), 10-Lê Huỳnh Đức.
Singapore: 1-Mohd Rezal Hassan, 16-Abdul Kadir Yahaya, 15-Mohd Nazri Nasir, 3-Mohd Rafi Mohd Ali, 13-Sasi Kumar, 6-Subramani Shunmugham, 25-Rudy Khairon Daiman, 12-Zulkarnaen ZaIndonesial (14-Lim Soon Seng), 9-Ahmad Latiff Kamaruddin, 17-Mohd Noor Mohd Ali, 19-Gusta Guzarishah Miramshah.
Trọng tài: Jerry Andreas (Philippines) (Claro Palomo (Philippines)/Prachya Permpanich (Thái Lan)/Kim Young Joo (Hàn Quốc). Thẻ vàng: Nguyễn Hữu Thắng - Gusta Guzarishah Miramshah.
- Ngày 30/8:
Singapore - Lào 4-1
Ghi bàn: Zulkarnaen ZaIndonesial 3' (1-0), Ahmad Latiff Kamaruddin 9' (2-0), Ahmad Latiff Kamaruddin 15' (3-0), Phonphachanh Kholadeth 30' (3-1), Rudy Khairon Daiman 58' (4-1).
Đội hình:
Singapore: 1-Mohd Rezal Hassan, 3-Mohd Rafi Mohd Ali (18-Mohd Nahar Daud), 5-Aide Iskandar Sahak, 6-Subramani Shunmugham, 7- Samawira Basri, 9-Ahmad Latiff Kamaruddin (23-Joseph Meyana Pragasam), 12-Zulkarnaen ZaIndonesial, 13-Sasi Kumar, 15-Mohd Nazri Nasir, 19-Gusta Guzarishah Miramshah (14-Lim Soon Seng), 25- Rudy Khairon Daiman.
Lào: 1-Xenvilay Soulivanh, 5-Loung Amath Chalana, 4-Xayavong Vilayphone, 8-Thái Lanmavongsa Bounmy, 18-Thepsouvanh Ananh (16-Keophet Sou Binh), 15-Homsombath Khonesavanh, 12-Keodala Somsack, 2-Khamsay Chantavong, 6-Phonphachanh Kholadeth, 13-Channiphone Keolakhone, 10-Bousokvanh Bounlanh (11-Insisengway Sonesavanh).
Trọng tài: Jerry Andreas (Philippines) (Claro Palomo (Philippines)/U. Hla Htay Hla (Myanmarnmar)/Kim Young Joo (Hàn Quốc).
Việt Nam - Malaysia 1-0
Ghi bàn: Nguyễn Hồng Sơn 50' (1-0)
Đội hình:
Việt Nam: 1-Trần Tiến Anh, 5-Đỗ Mạnh Dũng, 7-Đỗ Khải, 6- Nguyễn Đức Thắng (14-Nguyen Van Dong), 20-Trần Công Minh (18- Vũ Minh Hiếu), 17-Triệu Quang Hà, 8-Nguyễn Hồng Sơn, 9-Văn Sĩ Hùng, 3-Nguyễn Thiện Quang, 19-Trương Việt Hoàng, 10-Lê Huỳnh Đức.
Malaysia: 1-Azmin Azram Abdul Aziz, 17-Gregory Kolopis, 9-Chow Chee Weng, 15-Tengku Raja Hassan, 3-Johnny Joseph, 13-Khairun Malaysiarom, 14-Gopalan Mujappan, 11-Muhammad Khalid Jamlus (7- Azmi Mohomad), 16-Jaya Supramaniam, 4-ThIndonesiagaran Vijayan, 6-Abdul Ghani Malik (12-Jalauddin Abu Jaafar).
Trọng tài: HanluMyanmarung Panya (Thái Lan). Thẻ vàng: Gregory Kolopis, Jaya Supramaniam, Abdul Ghani Malik, Azmi Mohomad. Thẻ đỏ: Jaya Supramaniam
- Ngày 3/9 (tại SVĐ Hà Nội)
Thái Lan - Việt Nam 0-3; Khán giả: 23.000
Ghi bàn: Trương Việt Hoàng 15' (0-1), Nguyễn Hồng Sơn 70' (0-2), Văn Sỹ Hùng 80' (0-3).
Đội hình:
Thái Lan: 22-Saravouth Campuchiabua, 2-Kritsada Piandit, 7-Natee Tongsukkao, 12-Surachai Jaturapatarapong, 19-Worrawoot Srimaka, 8-Therdsak Chaiman (9-Ronnachai Sayomchai), 14-Anan Punsanai, 16-Surachai Jirasirichote, 21-Kowit Foythong (15-Sunai Jaidee), 25-Songserm Maperm, 28-Niweat Siriwong.
Việt Nam: 1-Trần Tiến Anh, 5-Đỗ Mạnh Dũng, 4-Nguyễn Hữu Thắng, 6-Nguyễn Đức Thắng, 20-Trần Công Minh, 17-Triệu Quang Hà, 8-Nguyễn Hồng Sơn (11-Nguyễn Văn Sỹ), 9-Văn Sỹ Hùng, 3-Nguyễn Thiện Quang, 19-Trương Việt Hoàng, 10-Lê Huỳnh Đức (14-Nguyễn Văn Dũng).
Thẻ vàng: Kritsada Piandit, Surachai Jaturapatarapong - Văn Sĩ Hùng, Nguyễn Văn Dũng. Thẻ đỏ: Văn Sỹ Hùng.
- Ngày 3/9 (tại SVĐ Thống Nhất, TP HCM)
Singapore - Indonesia 2-1; Khán giả: 7.000
Ghi bàn: Mohd Rafi Mohd Ali 12' (1-0), Mohd Nazri Nasir 30' (2-0), Mirobaldo Bento 34' (2-1).
Đội hình:
Singapore: 1-Mohd Rezal Hassan, 16-Abdul Kadir Yahaya, 15-Mohd Nazri Nasir, 3-Mohd Rafi Mohd Ali, 13-Sasi Kumar, 6-Subramani Shunmugham, 25-Rudy Khairon Daiman, 12-Zulkarnaen ZaIndonesial, 9-Ahmad Latiff Kamaruddin, 19-Gusta Guzarishah Miramshah, 5- Aide Iskandar Sahak.
Indonesia: 1-Kurnia Sandi, 14-Sugiyantoro, 17-Chairif Anwar (4- Mursyid Effendi), 19-Nur'alim, 3-Aji Santoso, 2-Anang Ma'ruf, 11-Bima Sakti, 15-Uston Nawawi, 8-Yusuf Ekodono, 7-Widodo Putro, 9-Mirobaldo Bento.
Trọng tài: Lu Jun (Trung Quốc) (M. Elagakovan (Malaysia)/Chan Sui Kee (Hong Kong)/Nik Ahmad Hafi Yacob (Malaysia). Thẻ vàng: Mohd Rafi Mohd Ali - Chairif Anwar, Mirobaldo Bento, Anang Ma'ruf.
Tranh hạng ba
- Ngày 5/9 (tại SVĐ Thống Nhất, TP HCM)
Indonesia - Thái Lan 3-3 (Indonesia thắng 3-2 bằng thi đá 11m)
Ghi bàn: Kurniawan Dwi Yulianto 16' (1-0), Chaichan Knewsen 18' (1-1), Aji Santoso 33' (2-1), Worrawoot Srimaka 42' (2-2), Kowit Foythong 44' (2-3), Yusuf Ekodono 89' (3-3).
Đội hình:
Indonesia: 20-Hendro Kartiko, 4-Mursyid Effendi, 3-Aji Santoso (12-Alexander Pulalo), 10-Kurniawan Dwi Yulianto (13-Kuncoro), 5-Hartono, 11-Bima Sakti, 15-Uston Nawawi, 8-Yusuf Ekodono, 7-Widodo Putro (6-Imam Riyadi), 14-Sugiyantoro, 17-Chairif Anwar.
Thái Lan: 18-Kiatisuk Rawangpa, 2-Kritsada Piandit, 15-Sunai Jaidee (8-Therdsak Chaiman), 12-Surachai Jaturapatarapong, 14-Anan Punsanai, 16-Surachai Jirasirichote, 19-Worrawoot Srimaka (25-Songserm Maperm), 20-Chaichan Knewsen (4-Kiarung Threjagsang), 21-Kowit Foythong, 5-Choketawee Promrut, 6- Sanor Longsawang.
Thẻ vàng: Kuncoro - Anan Punsanai
Đá luân lưu:
Thái Lan: Choketawee Promrut (ghi bàn), Anan Punsanai (hỏng), Songserm Maperm (Ghi bàn), Therdsak Chaiman (Ghi bàn), Kritsada Piandit (Ghi bàn)
Indonesia: Uston Nawawi (Ghi bàn), Bima Sakti (Ghi bàn), Yusuf Ekodono (Ghi bàn), Kuncoro (Ghi bàn), Imam Riyadi (Ghi bàn)
Chung kết
Tuột mất Cúp trong gang tấc, Hồng Sơn được an ủi phần nào khi đoạt danh hiệu "Cầu thủ xuất sắc nhất giải".
- Ngày 5/9 (SVĐ Hà Nội):
Singapore - Việt Nam 1-0
Ghi bàn: Sasi Kumar 65' (1-0)
Đội hình:
Singapore: 1-Mohd Rezal Hassan, 16-Abdul Kadir Yahaya, 15-Mohd Nazri Nasir, 3-Mohd Rafi Mohd Ali, 13-Sasi Kumar, 6-Subramani Shunmugham, 25-Rudy Khairon Daiman, 12-Zulkarnaen ZaIndonesial, 9-Ahmad Latiff Kamaruddin, 5-Aide Iskandar Sahak, 7-Samawira Basri (14-Lim Soon Seng).
Việt Nam: 1-Trần Tiến Anh, 4-Nguyễn Hữu Thắng, 6-Nguyễn Đức Thắng, 20-Trần Công Minh, 17-Triệu Quang Hà, 8-Nguyễn Hồng Sơn, 3-Nguyễn Thiện Quang, 19-Trương Việt Hoàng (11-Nguyễn Văn Sỹ), 10-Lê Huỳnh Đức, 14-Nguyễn Văn Dũng (18-Vũ Minh Hiếu), 7-Đỗ Khải.
Trọng tài: Kim Young Joo (Hàn Quốc) (Michael Andrews (India)/Claro Palomo (Philippines)/Jerry Andreas (Philippines). Thẻ vàng: Mohd Nazri Nasir, Mohd Rafi Mohd Ali, Ahmad Latiff Kamaruddin. Thẻ đỏ: Ahmad Latiff Kamaruddin.
Danh sách ghi bàn hàng đầu
- 4 bàn: Myo Hlaing Win (Myanmarnmar).
- 3 bàn: Nguyễn Hồng Sơn (Việt Nam), Worrawoot Srimaka (Thái Lan), Ahmad Latiff Kamaruddin (Singapore), Mirobaldo Bento (Indonesia), Aung Khine (Myanmarnmar), Aji Santoso (Indonesia), Alfredo Gonzalez (Philippines).
JakeSatan
29-11-2004, 16:52
DANH SÁCH CÁC ĐỘI VÔ ĐỊCH QUỐC GIA ANH
(năm hoặc mùa giải/tên đội vô địch)
1889 Preston NE
1890 -Preston NE
1891 Everton
1892 Sunderland
1893 Sunderland
1894 Aston Villa
1895 Sunderland
1896 Aston Villa
1897 Aston Villa
1898 -Sheffield United
1899 Aston Villa
1900 Aston Villa
1901 Liverpool
1902 Sunderland
1903 The Wednesday
1904 The Wednesday
1905 Newcastle
1906 Liverpool
1907 Newcastle
1908 M.U
1909 Newcastle
1910 Aston Villa
1911 M.U
1912 Blackburn
1913 Sunderland
1914 Blackburn
1915 Everton 1920 -West Bromwich
1921 Burnley
1922 Liverpool
1923 Liverpool
1924 Huddersfield
1925 Huddersfield
1926 -Huddersfield
1927 -Newcastle
1928 Everton
1929 The Wednesday
1930 -Sheffield Wed.
1931 Arsenal
1932 Everton
1933 Arsenal
1934 Arsenal
1935 Arsenal
1936 -Sunderland
1937 Man City
1938 Arsenal
1939 Everton
1947 Liverpool
1948 Arsenal
1949 Portsmouth
1950 -Portsmouth 1951 Tottenham
1952 M.U
1953 Arsenal
1954 Wolves
1955 -Chelsea
1956 M.U
1957 M.U
1958 Wolves
1959 -Wolves
1960 -Burnley
1961 -Tottenham
1962 -Ipswich
1963 Everton
1964 Liverpool
1965 M.U
1966 Liverpool
1967 M.U
1968 Man City
1969 Leeds
1970 Everton
1971 Arsenal
1972 Derby
1973 Liverpool
1974 Leeds
1975 -Derby
1976 Liverpool
1977 Liverpool
1978 N. Forest
1979 Liverpool
1980 Liverpool 1981 -Aston Villa
1982 Liverpool
1983 Liverpool
1984 Liverpool
1985 Everton
1986 Liverpool
1987 -Everton
1988 Liverpool
1989 Arsenal
1990 -Liverpool
1991 Arsenal
1992 -Leeds
1993 M.U
1994 M.U
1995 -Blackburn
1996 M.U
1997 M.U
1998 Arsenal
1999 M.U
2000 M.U
2001 M.U
2002 Arsenal
2003 -M.U
2004 -Arsenal
XẾP HẠNG THEO SỐ LẦN VÔ ĐỊCH
18 lần: Liverpool
15 lần: Manchester United
13 lần: Arsenal
9 lần: Everton
7 lần: Aston Villa
6 lần: Sunderland
4 lần: Newcastle , The Wednesday/Sheffield Wednesday
3 lần: Huddersfield , Wolves, Leeds , Blackburn
2 lần: Preston North End, Portsmouth, Burnley, Tottenham Hotspur, Manchester City, Derby County
1 lần: Sheffield United, West Bromwich Albion, Chelsea, Ipswich Town, Nottingham Forest
Lịch sử bóng đá Việt Nam (1896-1975)
11:56' 03/10/2004 (GMT+7)
1. PHÁT TRIỂN NỘI BỘ:
Theo những tài liệu còn lưu giữ được thì bóng đá đã theo chân người Pháp du nhập vào nước ta vào khoảng năm 1896. Và tất nhiên, trước tiên là tại Nam Kỳ, sau mới lan ra Bắc và Trung.
a. MIỀN NAM:
Ông Trương Tấn Bửu (bìa trái) - cầu thủ tiêu biểu của bóng đá Việt Nam trong 100 năm vừa được FIFA trao Huân chương thế kỷ.
Những người chơi bóng đầu tiên ở Sài Gòn là người Pháp (công chức thuộc địa, thương gia, binh lính), và sân chơi của họ mỗi cuối tuần là công viên thành phố, tên Pháp lúc bấy giờ gọi là Jardin de la Ville (Vườn Ông Thượng, sân Tao Đàn bây giờ). Dần dà, những người Âu có điều kiện khác cùng tới chơi. Sau đó, một số ít người Việt Nam, công chức hoặc thương gia mang quốc tịch Pháp, cũng bắt đầu tham gia. Quả bóng bầu dục đôi khi còn xuất hiện lúc đầu được thay hẳn bằng bóng tròn, và họ tập hợp nhau lại thành câu lạc bộ, lấy tên là Cercle Sportif Saigonnais.
Năm 1905, đội bóng của chiến hạm Anh mang tên King Alfred ghé thăm Sài Gòn, và đã đấu giao hữu với một đội Pháp Việt; đây là trận bóng quốc tế đầu tiên tại Việt Nam. Năm 1906, E. Breton, một uỷ viên Pháp trong L'Union des Sociétés Francaises des Sports Athlétiques đem luật lệ bóng đá sang Việt Nam phổ biến, và trong vai trò Hội Trưởng, chấn chỉnh lại Cercle Sportif Saigonnais theo cách tổ chức của các câu lạc bộ bóng đá bên Pháp. Nhiều câu lạc bộ khác được bắt chước thành lập và hoạt động, như Infanterie, Saigon Sport, Athletic Club, Stade Militaire, Tabert Club... Các giải bóng đá cũng bắt đầu được tổ chức từ đó.
Do được tổ chức, huấn luyện có quy củ hơn, Cercle Sportif Saigonnais liên tiếp thắng nhiều mùa giải: 1907, 1909, 1910, 1911, 1912, 1916... Dân ta rất nhạy cảm với bóng đá, sớm yêu thích và tự thấy mình cũng có thể chơi bóng đá giỏi nên bắt chước; học sinh, thợ thuyền, công chức rủ nhau chơi, dù trong điều kiện cực kỳ khó khăn, nhất là về sân bãi. Nhưng chỉ trong vài năm, nhiều người Việt đã nắm được luật lệ và kỹ thuật bóng đá nên tự lập đội bóng của mình, lấy tên là Gia Ðịnh Sport (đội bóng Việt Nam đầu tiên, thành lập năm 1907, do các ông Ba Vẻ, Phú Khai dẫn dắt, sau nhập một với đội Ngôi Sao Xanh (Etoile Bleue) của ông huyện Nguyễn Ðình Trị, thành Ngôi Sao Gia Ðịnh).
Từ năm 1920 thì ta đã có nhiều cầu thủ hay. Ngôi Sao Gia Ðịnh đã thắng tất cả các đội bóng khác mà số đông là đội người Âu, kể cả đội Cercle Sportif Saigonnais của ông Breton (1917), giành Cúp vô địch. Suốt thập kỷ 1925-1935, đội Ngôi Sao đã lừng danh với một thế hệ cầu thủ còn được nhiều người nhắc nhở cho đến nay: Sách, Thơm, Nhiều, Quý, Tịnh, Xường, Trung, Thi, Vi, Mùi, Tiếc, Rớt, Tài, Út, Danh, Giỏi, E. Quang... Sang thập kỷ 1945-1954, đội Gia Ðịnh còn tiếp tục ngự trị trên bóng đá Nam Kỳ với một thế hệ cầu thủ xuất sắc khác: Maurice Tài, Coón, Lý Ðức, Quới, Hiếu, Thọ 2, Tư, Mai, Mỹ, Thách, Thọ Ve, Bùi Nghẻn, Khê…
Cũng trong thập kỷ 1920, tự thấy mình có thể đứng độc lập được, giới hâm mộ và những nhà dẫn dắt hợp tác thành lập một Tổng Cuộc Bóng Ðá riêng cho người Việt, bầu ông Nguyễn Đình Trị làm Trưởng Ban Trị Sự, và mua đất làm sân riêng. Lúc ấy đã có một Tổng Cuộc Bóng Ðá do người Pháp chủ trì, nên việc hợp tác giữa hai Tổng Cuộc không thể tốt đẹp. Dù vậy, hai bên vẫn phải hợp tác tổ chức những cuộc thi đấu, như Giải Vô Ðịch Nam Kỳ chẳng hạn.
Trong một trận nẩy lửa giữa Cercle Sportif Saigonnais và Ngôi Sao Gia Ðịnh năm 1925, việc trọng tài người Pháp đã đuổi cầu thủ Paul Thi ra khỏi sân sau một cuộc xô xát, khiến cầu thủ này của đội Ngôi Sao bị treo giò vĩnh viễn sau đó, càng làm cho việc hợp tác thêm khó khăn. Giải Vô Ðịch Nam Kỳ bị gián đoạn trong nhiều năm, chỉ bắt đầu lại năm 1932, với 6 đội người Việt và 3 đội người Pháp. Tuy vậy, từ 1925 đến 1935 cũng có đến khoảng 29 giải bóng đá đủ loại được tổ chức, Gia Ðịnh một mình đăng quang hết 8 lần, xác định vai vế vua bóng đá miền Nam Việt một thời, số còn lại chia đều cho các đội Victoria, Khánh Hội, Cercle Sportif Saigonnais, Jean Comte, Auto-Hall (Nam), Commerce Sport, Thủ Dầu Một…
Ở miền Nam, về các đội bóng vùng Sài Gòn, ngoài Ngôi Sao Gia Ðịnh, còn có Victoria Sportive, Commerce Sport, Jean Comte, Sport Cholonaise, Khánh Hội Sport, Tân Định Sport, Gò Vấp, Hiệp Hoà, Chợ Quán, Phú Nhuận, Đồng Nai, Enfants de Troupe…; ở các tỉnh có: Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Gò Công, Châu Đốc, Mỹ Tho... Còn về sân bãi, phải kể đến các sân Vườn Ông Thượng (tức sân Tao Đàn), sân Citadelle (tức sân Hoa Lư), sân Renault (sau đổi thành sân Cộng Hoà, tức sân Thống Nhất ngày nay); một số khác chỉ còn trong ký ức như các sân Fourières (ở Bà Chiểu, gần lăng Lê Văn Duyệt), Mayer (góc đường Võ Thị Sáu - Trần Quốc Thảo ngày nay), và Marine (ở gần Trung tâm Mắt Thành Phố hiện nay)... Trên các sân này, đã xuất hiện bao thế hệ cầu thủ bóng đá Việt Nam mà tên tuổi vẫn còn lưu mãi trong ký ức tập thể của giới mộ điệu.
Ngoài các giải, cúp khá rầm rộ tại Sài Gòn và ở các tỉnh, Tổng Cuộc Bóng Ðá An Nam còn tổ chức tiếp đón nhiều đội bóng nước ngoài, và cử đội tuyển đi thi đấu tại Thái Lan, Campuchia, Malaysia,... Cao trào ấy đã làm môn thể thao vua này lan rộng ra cả nước. Đi đến đâu, bóng đá cũng được dân ta hưởng ứng, luyện tập, và tham gia nhiệt tình. Thuở ấy bóng đá chưa thành nghề mưu sinh, và người chơi bóng chỉ xem đây là một thú tiêu khiển, tập luyện nhằm nâng cao sức khỏe là chính yếu. Đa phần cầu thủ đều sống đạm bạc, đi bộ hay đón xe thổ mộ đến sân tập dượt; thỉnh thoảng mới được các chủ hội cho vài cắc ăn hủ tiếu, uống cà phê khi đá thắng.
Một khía cạnh lý thú khác: mặc dù là cội nguồn bóng đá của cả nước, Sài Gòn chưa có bóng đá nữ. Khoảng năm 1932, ở miệt vườn Cần Thơ mới xuất hiện đội bóng nữ Cái Vồn do ông bầu Sửu thành lập (kỹ sư canh nông Trần Khắc Sửu, sau làm tổng thống VNCH khoảng 1964-1965; còn Cái Vồn là đội nữ đầu tiên của Việt Nam và có thể của cả Á Châu!). Vài năm sau, có thêm đội Bà Trưng ở miệt Rạch Giá - Long Xuyên. Vào những dịp lễ Tết, các đội này kéo "gánh" lên Sài Gòn... biểu diễn. Một kỳ tích: năm 1933, đội nữ Cái Vồn thi đấu với đội nam Paul Bert tại sân Mayer, và hòa 2-2!
b. MIỀN BẮC VÀ MIỀN TRUNG:
Ở miền Bắc, cho đến khoảng năm 1900, ba môn thể thao mà người Pháp thường chơi và được báo chí nói đến là đua ngựa, đấu kiếm và ném quả lăn. Như vậy, bóng đá có lẽ đã chỉ xâm nhập vào đất Bắc khoảng 1906-1907, sau tiếng vang do cuộc viếng thăm của đội King Alfred ở Sài Gòn.
Ngày 22/12/1909, tờ báo tiếng Pháp Tương Lai Bắc Kỳ (L'Avenir du Tonkin) mới viết vài dòng về trận đấu giữa đội bóng Lê Dương Đáp Cầu (Legion Đáp Cầu) và đội Olympique Hải Phòng (đội Hải Phòng khi đó bao gồm cả cầu thủ người Pháp lẫn người Việt), với mấy dòng tường thuật như sau: Trận đấu diễn ra sôi nổi khiến khán giả rất thích. Các cầu thủ Đáp Cầu chơi có phần hay hơn, nhưng Hải Phòng chơi cũng chặt chẽ, lại không biết dùng đầu. Hai bên biểu diễn hòa nhã, không kêu hét ầm ỹ. Trọng tài công bằng. Cuối cùng Hải Phòng thắng: 2-1. Nhưng ở trận phục thù, cũng tờ Tương Lai Bắc Kỳ ngày 30/1/1910 cho biết Lê Dương Đáp Cầu đã thắng lại đội Hải Phòng 8-1, ngay trên sân Hải Phòng.
Riêng ở Hà Nội, tháng 2 năm 1912, một Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội (Stade Hanoien) cũng ra đời, bao gồm các đấu thủ người Việt và một số người Pháp như Menin, Megy, Bernard, Bonardi... Về phía quân đội Pháp, họ có Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa (Régiment d’Infanterie Coloniale, RIC), Ngôi Sao Xanh (Étoile Bleue), Lê Dương Đáp Cầu, Lê Dương Việt Trì, và một vài đội nữa. Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa có trình độ khá cao, với nhiều cầu thủ còn để lại tiếng tăm lâu dài như Luier, Lauroix, Marinelli, Beye.
Ngày 1/11/1913, trận cầu giữa Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội và Trung Ðoàn Bộ Binh Thuộc Ðịa đã lôi cuốn được gần 3.000 khán giả, kết quả đội bộ binh Pháp thắng 5-3.
Trong hai thập kỷ 1910-1920, các đội bóng của người Việt phát triển mạnh. Mới đầu chỉ là những đội chân đất do học sinh các trường đi tiên phong. Bóng dùng là bóng cao-su mầu trắng mua từ các cửa hàng người Hoa, Việt hoặc Nhật. Nhiều khu phố cũng có đội bóng riêng. Hà Nội thuở ấy chỉ có khoảng trên dưới 10 vạn dân, các trận giao hữu thường diễn ra ở mọi bãi trống, thậm chí cả trên các ngã ba, ngã tư phố vắng, đặc biệt là gần Nhà thương Đồn Thủy (bệnh viện Hữu Nghị hiện nay) hoặc trước Trường Hàng Kèn (Quang Trung hiện nay), đường Gambetta (Trần Hưng Đạo hiện nay)...
Sau này, để có sân chơi tương đối đúng kích thước cho các giải chân đất và chân giày của người Việt, Ðội Chớp Nhoáng (Eclair) và Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội mới hợp tác lập ra sân Nhà Dầu (gần kho xăng hãng Shell, sát cầu sông Cái, nay là cầu Long Biên). Riêng sân Mangin (sân Hàng Cỏ, nay gọi là sân Cột Cờ) có kích thước chính xác nhất, thuộc về nhà binh Pháp quản lý và chỉ được dùng cho các giải thi đấu chân giày chính thức. Chính trên sân Mangin, một giải vô địch bóng đá riêng cho Bắc Kỳ đã được tổ chức lần đầu vào khoảng 1918-1919, với không khí tưng bừng của ngày lễ hội: một tiểu đội quân nhạc vừa đi vừa thổi kèn quanh sân, sau đó trận bóng mới bắt đầu. Lúc đầu khán giả vào xem không mất tiền; về sau, ban tổ chức mới kê bàn ngăn bốn đường vào sân bán mỗi vé một hào.
Ðấy là về sân chơi. Về các đội bóng, những năm cuối thập niên 1930 đầu 1940 là đỉnh cao của bóng đá Việt Nam thời kỳ đầu, cả về phong trào cũng như thành tích. Thời kỳ này hầu như tỉnh nào cũng có một đội bóng, từ Bắc vào Trung, không kể Nam Bộ là nơi khởi thủy. Ở phía Bắc, ngoài Chớp Nhoáng (do nhà mạnh thường quân, kiêm tiền vệ nổi danh Trần Văn Quý cầm đầu) và Câu Lạc Bộ Bóng Ðá Hà Nội, còn phải kể đến Racing Club, Lạc Long Ngọn Giáo (La Lance), Hoả Xa (Usaga), Trường Bưởi (Chu Văn An hiện nay), Đại học (Université Club), Ngân Hàng, Ô-tô Han (Auto Hall)…ở Hà Nội, Voi Vàng Ðất Cảng, Olympique Hải Phòng, Mũi Tên (La Flèche), Radium (Trung Học), Thanh Niên Bắc Kỳ (La Jeunesse Tonkinoise) ở Hải Phòng, Hồng Bàng ở Nam Định, Phủ Lý Thể Thao ở Phủ Lý, đến như Lạng Sơn là một địa đầu biên giới miền núi cũng có Le Semeur. Miền Trung cũng có ASNA Vinh, Sept Huế, Touranne, Faifo Cheminot Nha Trang.
c. HỮU NGHỊ ĐÔNG DƯƠNG:
Năm 1931, nhận lời mời của Tổng Cuộc Bóng Ðá ở Sai Gòn, các đội Chớp Nhoáng ở Hà Nội và Thanh Niên Bắc Kỳ ở Hải Phòng là những đội đầu tiên từ miền Bắc đi ô-tô vào Nam thi đấu giao hữu; chuyến "Nam du" vô cùng vất vả và chật vật (Ngôi Sao Gia Định hạ Chớp Nhoáng 5-0, Victoria Sport thắng Thanh Niên Bắc Kỳ 1-0), nhưng có tác dụng chắp nối nhịp cầu thể thao Bắc - Nam rất lớn.
Năm 1936, khi khánh thành đường xe lửa Đông Dương, Thứ Trưởng Bộ Thuộc Ðịa Pháp Léo Lagrange đã có điều kiện tổ chức lần đầu tiên một cuộc thi đấu gồm 5 đội tuyển: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia (lúc đầu mang tên là Giải Léo Lagrange, sau đổi thành Giải Petain, rồi Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương). Từ đấy, cuộc thi đấu tranh giải trở thành truyền thống hàng năm, khi hội đủ điều kiện.
Cũng vào khoảng thời gian này, thế chiến thứ hai bùng nổ. Mặt Trận Việt Minh ra đời và công khai vận động nhân dân đứng lên giành độc lập. Nhà cầm quyền Đông Dương khởi xướng phong trào Khoẻ Ðể Phụng Sự, giao cho đại tá Ducroy tổ chức Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương, hầu lôi kéo một bộ phận thanh niên thành thị lao vào thể thao mà xa lánh chính trị. Cùng với nhiều bộ môn thể thao khác như bóng bàn, đua xe đạp, đấu quyền Anh,... bóng đá cũng đã thừa cơ phát triển rộng khắp, và đạt được nhiều kết quả khả quan. Nhưng từ 1945 trở đi, do tình hình chính trị khẩn trương và sau đó là chiến tranh, việc tổ chức cũng như trình độ bóng đá đều đình trệ và xuống cấp. Riêng về Giải Vô Ðịch Bóng Ðá Đông Dương, có thể ghi lại kết quả của 4 năm đầu:
- Lần 1 (1941) Hà Nội: Nam Kỳ hạ Trung Kỳ 4-2, đoạt chức vô địch.
- Lần 2 (1942), Huế: Nam Kỳ hạ Bắc Kỳ 3-2, giữ chức vô địch
- Lần 3 (1943) Pnôm Pênh: Nam Kỳ hạ Trung Kỳ 1-0, giữ chức vô địch
- Lần 4 (1944) Pnôm Pênh: Bắc Kỳ hạ Nam Kỳ 3-0, giành chức vô địch.
2. THÀNH TÍCH QUỐC TẾ:
Nếu như những năm đầu thập kỷ 1930, đội bóng Nam Hoa của Hồng Kông thắng các đội Việt Nam dễ dàng, và trung phong Lý Huệ Đường đã ngạo mạn nhận xét: bóng đá An Nam như ếch ngồi đáy giếng làm sôi máu làng cầu nước ta thì chỉ mấy năm sau, cùng với đội hình chưa mấy đổi thay, Lý "Cầu Vương" và các đồng đội Phùng Cảnh Tường, Lê Triệu Vinh đã hết qua nổi các hậu vệ Cao Hoài Cúi, Nguyễn Hữu Đước, Trương Tấn Bửu của đội An Nam. Ngược lại, hậu vệ Lưu Khánh Tài, Lý Thiên Sanh của Nam Hoa không cản được cặp Tiền - Tốt phá lưới, buộc thủ môn Bảo Gia Bình của Nam Hoa phải nhiều lần vào cầu môn nhặt bóng.
Năm 1938, Hoa Nam thua đội tuyển Nam Kỳ 1-2 tại Gia Định. Tháng 5/1938, sang thi đấu tại Hồng Kông, Tuyển Nam Kỳ thắng Tuyển Hồng Kông 4-0, hoà Hoa Nam 1-1, thắng Hải Quân Anh 6-2, thắng Quân Ðội Anh ở đó 3-0, sang Philipin thắng Létan 4-0, và La Salle (đương kim vô địch Philipinnes) 3-0...
Sau đó là Thế Chiến thứ hai, rồi chiến tranh Việt - Pháp; và tất nhiên là chiến tranh đã làm nền bóng đá Việt Nam dậm chân tại chỗ. Về thành tích chung cả ba miền thì năm 1951, một đội tuyển Việt Nam (với thành phần gồm Quyền, Quới, Waico, Vẹn, Thọ 2, Tư, Mỹ, Cưỡng, Hiếu, Trọng, Ðức của miền Nam, Hiệt của miền Trung, Thọ Ve, Ứng, Hợi, Khuê của miền Bắc)... được phép đi thi đấu giao hữu ở Algeria, Pháp (thua Nice 1-4, Rouen 1-3) và Thụy Ðiển (thua Stockhom 1-4).
Cho đến năm 1954, thành tích quốc tế chính thức duy nhất (đồng thời có thể xem như đầu tiên và cuối cùng) của đội tuyển quốc gia Việt Nam thời Pháp thuộc là tham dự Á Vận Hội lần thứ hai được tổ chức tại Manila (Philipin), dù không vượt thoát nổi vòng loại (thắng Philipin 3-2, thua Ðài Loan 1-2). Mặt khác, cột mốc đáng ghi nhớ nhất ở đây nằm ngoài lĩnh vực thể thao: trong khi thi đấu thì hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm thời chia đôi, nên đội tuyển Việt Nam (với thành phần: Lâm Kinh, Quí, Quới, Pierre Nhung, Thọ, Hiếu, Maurice Tài, Myo Hồ, Coón, Mỹ, Thách, Phải, Ðức, Tư, Chạc của miền Nam, thêm Ứng, Hợi, Khê từ miền Bắc) vừa về đến Sài Gòn thì đành phải chia thành hai ngả.
Nhưng cũng từ năm 1954 trở đi, khi hoà bình được lập lại phần nào sau hiệp định Genève, phong trào bóng đá ở cả hai miền mới được phục hồi và nhanh chóng phát triển trở lại, dù trong điều kiện đất nước chia đôi và sau đó là chiến tranh lần nữa.
Ở miền Bắc, đội bóng đá Thể Công, ra đời từ phong trào thể thao của QĐNDVN và được chính thức thành lập ngày 23/9/1954, thi đấu và phát triển mỗi ngày một mạnh, nhiều năm đoạt chức vô địch.
Năm 1960, do yêu cầu xây dựng "mũi nhọn đỉnh cao", Trường Huấn luyện TDTT Trung ương được thành lập. Đội tuyển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà thời đó (thực chất là lấy Trường Huấn luyện quốc gia làm nòng cốt, phối hợp cùng Thể Công) được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Đức... đã đạt được thành tích cao ở các giải Galefo (Indonesia, 1963) và Galefo Châu Á (Campuchia, 1966), và trong các cuộc thi đấu thuộc khu vực cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, đương đầu ngang ngửa với các đội mạnh như đội tuyển Trung Quốc, Triều Tiên, có lần còn thắng cả đội tuyển trẻ Liên Xô tại Moscow. Lớp cầu thủ: Thọ, Long, Phàn, Ngọc, Chính, Vinh, Từ Hiển, Hùng (xồm), rồi tiếp đến lớp Khánh, Giáp, Thế Anh thực sự đã đạt được những bước tiến dài, đáng tự hào của bóng đá miền Bắc Việt Nam.
Trong Nam, bóng đá cũng phát triển mạnh suốt thời gian ấy, làm cho các nước trong khu vực phải kính nể. Vào cuối thập kỷ 1950, đội tuyển Việt Nam Cộng Hoà đã trở thành 1 trong 4 "cường quốc bóng tròn Châu Á", khi lọt vào vòng chung kết giải Vô địch châu Á 1960 cùng với Nam Hàn, Ấn Độ, Trung Hoa quốc gia (do Hồng Kông đại diện). Cựu "Đại Vương Túc Cầu" Lý Huệ Đường, HLV của đội tuyển Hồng Kông, người trong thập niên 1940 đã từng chê bóng tròn Việt Nam như ếch ngồi đáy giếng, bây giờ phải công nhận rằng đội Việt Nam có lối đá đa dạng nhất trong các đội châu Á, và các cầu thủ Việt Nam là những thuật sĩ bóng tròn trên sân cỏ.
Một chứng cớ khác: khi ghé Sài Gòn để đá giao hữu với Ðội Tuyển Việt Nam Cộng Hoà năm 1959, nhà dìu dắt đội Nhật đã tặng cho Tổng Cuộc Bóng Đá Việt Nam một đôi giầy nhỏ trước khi thi đấu, với ý nghĩa trình độ bóng đá của Nhật chỉ như đôi giầy nhỏ này so với Việt Nam, mong rằng sau các lần thi đấu, Nhật sẽ học hỏi được nhiều bài học quý giá từ một làng bóng có tiếng ở châu Á. Song chỉ 5 năm sau, bóng đá Nhật không còn là đôi giầy nhỏ nữa.
Từ năm 1960 đến năm 1966, Việt Nam Cộng Hoà thường được xếp hạng từ thứ ba đến thứ nhất trong các giải bóng đá tại châu Á. Một trong những sự kiện đáng ghi nhớ nhất của lịch sử thể thao Việt Nam là Ðội Tuyển Việt Nam Cộng Hoà, dưới sự hướng dẫn của huấn luyện viên Weigang người Ðức, đã đoạt Cúp Merdeka lần thứ 10 do Malaysia tổ chức năm 1966, với sự tham dự của 12 đội bóng của 12 nước. Giải này ra đời từ năm 1957, do sáng kiến của Thủ Tướng Malaysia Abdul Rahman (vốn là cựu hậu vệ của đội tuyển quốc gia, và Merdeka có nghĩa là Ðộc Lập), lúc bấy giờ đã trở thành một giải bóng đá quốc tế hàng năm rất có uy tín trên khắp lục địa.
Về nội bộ, năm 1954 cũng đánh dấu một thay đổi lịch sử khác là sự mất mát của Ngôi Sao Gia Định. Vì nhiều lý do khác nhau, nhóm cầu thủ đã làm rạng danh bộ áo màu xanh đen với ba sọc ngang và ngôi sao trên ngực trái mỗi người bỗng đi một ngả, song chủ yếu là về đầu quân cho AJS (Association de la Jeunesse Sportive), hoặc Cảnh Sát. Cùng với hai đội khác là Tổng Tham Mưu (TTM) của Quân Ðội và Quan Thuế ít lâu sau, bốn đội này luân phiên thống trị bóng đá miền Nam cho đến năm 1975. Năm 1968, khi giải vô địch Á Châu dành cho các câu lạc bộ vô địch ở mỗi quốc gia (C1) được tổ chức lần đầu tiên tại Bangkok, đội AJS đại diện cho VNCH đã sang dự thi, hoà với Bangkok Bank (Thái Lan), và Mysou State (Ấn Ðộ) 1-1, hạ Lions (Philipin) 6-1, thắng Yangzee (Ðại Hàn) 5-3, chung cuộc đứng thứ 5 trong số 10 đội tham dự.
Nói tóm lại, dù ở mức độ quốc gia hay câu lạc bộ, bóng đá cả hai miền đều phát triển khả quan. Riêng trong Nam, nền bóng đá VNCH đã nghiễm nhiên trở thành một cường quốc trong vùng Ðông Nam Á, và đang trên đường chinh phục toàn bộ lục địa thì bị gián đoạn.
BÓNG ĐÁ MIỀN NAM VÀ THÀNH TÍCH QUỐC TẾ (1930-1975)
Thành tích quốc tế của các đội tuyển miền Nam (với những danh xưng khác nhau, từ Ðội Tuyển Nam Kỳ, Nam Việt, Sài Gòn, đến Việt Nam Cộng Hoà), qua các giải bóng đá thế giới, Á Châu, và các trận hữu nghị quốc tế, có thể được ghi lại như sau:
World Cup
- 1974, Khu vực châu Á: VNCH tham dự lần đầu, bị loại sau 3 trận (2 thua 1 thắng: VNCH- Ðại Hàn 0-4, VNCH Hông Kông 0-1, VNCH-Thái Lan 1-0)
Thế vận hội
- 1963, Tranh vòng loại Thế Vận Hội Tokyo 1964, bị loại bởi Ðại Hàn và Israël (VNCH - Isarel 0-1 tại Sài Gòn, Israël - VNCH 0-2 tại Tel Aviv, Đại Hàn - VNCH 3-0 tại Seoul, VNCH- Đại Hàn 2-2 tại Sài Gòn).
- 1968, Tranh vòng loại Thế Vận Hội Mexico 1968, bị loại vì chỉ đứng thứ 4 trên 6 đội trong bảng, với kết quả là 2 trận thắng, 1 hoà, 2 thua (VNCH - Philipin 10-0, VNCH - Ðài Loan 3-0, VNCH - Lebanon 1-1, Nhật Bản - VNCH 1-0, Đại Hàn - VNCH 3-0.
Vô địch quốc gia châu Á
- Lần 1 (1956, Hông Kông), thua Israël và Ðại Hàn, không vượt thoát vòng loại.
- Lần 2 (1960, Seoul) sau khi đứng đầu bảng ở vòng loại (có Malaysia, Singapore), VNCH lọt vào vòng chung kết, xếp thứ 4 sau khi thua Đại Hàn 1-5, Ðài Loan 1-3 và Isarel 1-5.
ASIAD (Á Vận Hội)
- Lần 1 (1951, New Dehli), VN không tham dự
- Lần 2 (1954, Manila), VN không vượt thoát vòng loại, thắng Philipin 3-2, thua Hông Kông (đại diện cho Ðài Loan) 1-2.
- Lần 3 (1958, Tokyo), VNCH hoà Pakistan 1-1, thắng Malaysia 6-1, nhưng vẫn bị loại
- Lần 4 (1962, Jakarta), VNCH đứng thứ 4 trong số 8 đội tham dự (thua Ấn Ðộ 2-3 ở bán kết, thua Malaysia 1-4 trong trận tranh huy chương đồng)
- Lần 5 (1966, Bangkok), VNCH không vượt thoát vòng loại, do thua trận quyết định trước Singapore 1-4.
- Lần 6 (1970, Bangkok), VNCH không vượt thoát vòng loại.
SEA Games
- Lần 1 (1954, Bangkok), VNCH - Thái Lan 3-1, huy chương vàng
- Lần 2 (1961, Rangoon), VNCH - Thái Lan 0-0 (sau khi hạ Lào 7-0), huy chương đồng
- Lần 3 (1965, Kuala Lumpur), VNCH - Singapore 4-1, huy chương đồng.
- Lần 4 (1967, Bangkok), VNCH - Miến Ðiện 0-1, huy chương bạc.
- Lần 5 (1969, Rangoon), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng.
- Lần 6 (1971, Kuala Lumpur), VNCH hoà Thái Lan, huy chương đồng.
- Lần 7 (1973, Singapore), VNCH - Miến Ðiện 2-3, huy chương bạc.
- Lần 8 (1975, Bangkok), CHXHCNVN không tham dự.
Giao hữu
- 1930, tiếp Lạc Hoà (Thượng Hải) và Nam Hoa (Hông Kông): Ngôi Sao Gia Định - Lạc Hoà 0-3, Ngôi Sao Gia Ðịnh - Nam Hoa 1- 4 Commerce Sport - Nam Hoa 1-1, Tuyển An Nam - Nam Hoa 2-2.
- 1936, tiếp Đội Tuyển Trung Hoa chuẩn bị dự Thế Vận Hội Berlin 1936 Nam Kỳ B - Tuyển Trung Hoa 1-8, Nam Kỳ A - Tuyển Trung Hoa 1-4.
- 1937, tiếp Đội Tuyển Tinh Châu (Singapore bây giờ) . Liên quân Auto Hall/Cảnh Sát - Tuyển Tinh Châu 1-1 Tuyển Nam Kỳ - Tuyển Tinh Châu 1-3.
- 1949, tiếp Đội Tuyển Pháp B ; Tuyển Nam Việt - Pháp B 1-2.
- 1950, tiếp Djurgarden (Thụy Ðiển, qua chiếc cầu nối là nhà báo thể thao Vol Lyberg). Ngôi Sao Gia Ðịnh - Djurgarden 0-3, Nam Việt B - Djurgarden 1-3 Nam Việt A - Djurgarden 2-3.
- 1951, tiếp Nam Hoa (Hồng Kông) Tuyển Nam Việt - Nam Hoa 1-3 ; Liên Quân Cảnh Sát/Ngôi Sao Gia Ðịnh - Nam Hoa 1-3 ; AJS - Nam Hoa 1-1 ; AJS - Nam Hoa 3-1.
- 1952, tiếp Nam Hoa Tuyển Nam Việt - Nam Hoa 1-3 ; AJS - Nam Hoa 3-1, Liên Quân AJS/TTM - Nam Hoa 1-3 ; Cảnh Sát - Nam Hoa 1-0.
- 1953, tiếp Lask (Áo) và Djurgarden (Thụy Ðiển) Cảnh Sát - Lask 1-2 ; AJS - Lask 0-1 và 2-0 Nam Việt B - Lask 1-8 ; Nam Việt A - Lask 1-4 AJS - Djurgarden 0-2 ; Nam Việt B - Djurgarden 1-2 ; Nam Việt A - Djurgarden 2-3 ; (Bắc Việt - Djurgarden 1-7).
- 1954, tiếp AIK (Thụy Ðiển) ; AJS - AIK 2-2.
- 1958, tiếp Wacker (Áo) Tuyển Quân Ðội - Wacker 0-1 ; Tuyển Sài Gòn - Wacker 4-1.
- 1959, tiếp Đội Tuyển Vienner (Áo), Djurgarden (Thụy Ðiển) và Đội Tuyển Nhật Bản Tuyển Sài Gòn - Vienner 4-1 ; Liên Quân AJS/Cảnh Sát - Djurgarden 1-3 Tuyển Quân Ðội - Djurgarden - 1-1 ; Tuyển Sài Gòn - Djurgarden 3-1. Tuyển Quân Ðội - Nhật Bản 3-1 ; Tuyển Sài Gòn - Nhật Bản 3-1.
- 1961, tiếp Nơrkoping (hạng ba Thụy Ðiển) và Young Boys (vô địch Thụy Sĩ) Tuyển Sài Gòn - Nơrkoping 1-1 và 0-4. TTM - Nơrkoping 2-1 ; Cảnh Sát - Young Boys 3-2.
- 1962, tiếp Lima (Peru), Đội Tuyển Quân Ðội Hoàng Gia Anh và Đội Tuyển Đài Loan TTM – Lima 0-3 ; Tuyển Sài Gòn - Lima - 2-2. Tuyển Quân Ðội - Quân Ðội Anh 1-4 ; Tuyển Sài Gòn - Quân Ðội Anh 0-2 Quan Thuế- Ðài Loan 0-1 ; Liên quân AJS/TTM - Đài Loan 0-0 Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 1-1 ; Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 3-1.
- 1963, tiếp Nguyên Lãng (Hồng Kông) ; AJS - Nguyên Lãng 4-1. 1965, tiếp Odense (vô địch Ðan Mạch) ; Tuyển Sài Gòn - Odense 1-2.
- 1969, tiếp Đội Tuyển Đài Loan do Lý Huệ Đường hướng dẫn TTM - Ðài Loan 2-1 ; Tuyển Sài Gòn - Ðài Loan 2-0. 1973, tiếp FC Hertha 03 (Tây Ðức) ; Tuyển Sài Gòn FC Hertha 1-1.
- 1975, tiếp FC Hertha 03 (Tây Ðức) Tuyển Sài Gòn - FC Hertha 1-2. Tuyển Sài Gòn - FC Hertha 0-1
Viễn du
- 1938, Lần đầu tiên Đội Tuyển Nam Kỳ viễn du thi đấu (với thành phần Tịnh, Tài, Cúi, Xê, Bạch, Bửu, Vẹn, Paccini, Vân Bông, Mạnh, Guichard, Quang, Tốt, Tiền, Đại). Tại Hông Kông, thắng 3, hòa 1 (1-1với Nam Hoa). Tại Philipin thắng 4 hoà 1, thua 2...
- 1940, Đội Tuyển Nam Kỳ sang Hồng Kông thi đấu, thua Nam Hoa 0-1, thắng Macau 2-1, và Hồng Kông 3-0.
- 1955, Đội TTM thi đấu giao hữu tại Pnôm Pênh và thua Cảnh Sát Cao Miên 1-3. 1962, Đội Tuyển Sài Gòn sang Indonesia thi đấu, thắng Jakarta 4-3, Sourabaga 2-0 và Tuyển Indonesia 2-1.
Các giải khác
- 1934, Giải Liên Cảng do Lãnh Sự Pháp ở Hồng Kông tổ chức tại Sài Gòn. Tuyển Nam Kỳ thắng Hồng Kông 3-1 và 6-0. Giải này sau đó vì nhiều lý do nên không được tổ chức nữa.
- 1959, Giải Merdeka lần thứ 3: TTM đại diện VNCH thắng Ấn Ðộ 3-1, Nhật 3-2, Singapore 2-1, và chỉ thua Malaysia ở vòng đầu, chung cuộc đứng hạng ba trong số 9 nước tham dự.
- 1961, Giải Bóng Ðá Quốc Tế tại Sài Gòn lần 1, VNCH đoạt chức vô địch VNCH - Indonesia 4-1 ; VNCH - Malaysia 1-0.
- 1964, Giải Vô Ðịch Thiếu Niên Á Châu tranh tại Sài Gòn, Ðội Tuyển Thiếu Niên VNCH xếp thứ ba ở bảng loại và chung cuộc đứng thứ 7 trong số 8 đội tham dự. Hai đội Miến điện và Israël đồng vô địch, sau khi hòa 0-0 ở trận chung kết.
- 1966, Giải Merdeka lần thứ 10: Ðội Tuyển VNCH thắng Singapore 5-0, Nhật Bản 3-0, Malaysia 5-2, Ðài Loan 6-1 đứng đầu bảng vòng loại (4 chiến thắng, 8 điểm, hiệu số bàn thắng bại 19/3), trên đội thứ nhì là Ấn Ðộ rất xa (6 điểm, 2 thắng, 2 hoà). Ðể dưỡng quân, Huấn Luyện Viên Weigang xếp thành phần trừ bị để đấu với Ấn Ðộ và chỉ thua 0-1, sau đó thắng Miến Ðiện 1-0 trong trận chung kết, đoạt cúp (Ðội Tuyển VNCH 1966, với thành phần tuyển thủ: Châu, Chinh, Ngôn, Mộng, Lắm, Tam Lang, Có, Hiển, Hội, Thanh, Vinh, Thuận, Chiêu, Quang, Chánh, Phụng, Ðức, Xê)
- 1969, Giải King's Cup (Thái Lan), Ðội Tuyển VNCH xếp thứ ba sau khi thắng Tây Úc 3-1, Lào 7-0, hòa Singapore 1-1, thua Indonesia 1-3 và Đại Hàn 0-3.
- 1971, Giải Presta Sukan lần 1 tại Singapore, Ðội Tuyển VNCH đồng vô địch với Ấn Ðộ sau khi hòa 0-0 ở trận chung kết.
- 1971, Giải Vô Ðịch Quân Ðội khu Viễn Ðông (CISM), Ðội Tuyển Quân Ðội VNCH đoạt chức vô địch (với thành phần có Tiết Anh, Võ Thành Sơn, Quang Đức Vĩnh, Võ Bá Hùng...).
- 1974, Giải Vô địch Học Sinh Á Châu tại Philipin, Ðội Tuyển Học Sinh VNCH xếp hạng ba sau khi thắng Thái Lan 3-1, trước đó ở vòng loại đã thắng Indonesia 3-1, Singapore 2-0 và thua Malaysia 1-2. Chức vô địch thuộc về Malaysia.
EURO 60: Trái núi Nga
Sau World Cup và Cúp châu Âu, nước Pháp tiếp tục khai sinh ra giải VĐ các quốc gia châu Âu (EURO) . Họ đăng cai luôn giải đầu tiên nhưng vinh quang lại thuộc về Liên Xô.
Ước nguyện của Delaunay đã thành hiện thực.
Đấy là sáng kiến do Henri Delaunay, người Pháp, đề xuất năm 1927, khi ông đang là Tổng thư ký của FIFA. Ban đầu, EURO chưa được một vài cường quốc bóng đá châu Âu hưởng ứng, song lại được Liên Xô và các nước Đông Âu nhiệt liệt ủng hộ. Và chiến thắng ở EURO I đã về tay đội tuyển của Lev Yachine vĩ đại.
Trong suốt 28 năm trời, ý tưởng tốt đẹp của Henri Delaunay, Tổng thư ký FIFA đề xuất năm 1927 vẫn chỉ là một dự án nằm im trong hồ sơ. Bởi FIFA khi ấy đang chuẩn bị cho World Cup đầu tiên (năm 1930 ở Uruguay) tỏ ra không có thiện cảm với cái dự án EURO này, tuy là đàn em so với Cúp thế giới nhưng có vẻ sẽ lấn át đàn chị trong tương lai.
Phải đợi tới năm 1955 ý tưởng EURO mới được xem xét một cách nghiêm túc và được thực hiện. Tuy nhiên, một số LĐBĐ ở châu Âu hồi ấy đã tỏ thái độ ngần ngại. Người Anh, người Đức, thậm chí cả người Italia từ chối dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới của châu lục. Ngoài nước Pháp, đương nhiên là ủng hộ sáng kiến của mình, có Tây Ban Nha và nhất là các nước Đông Âu chấp nhận thách thức mới đó.
Trong tổng số 32 thành viên của UEFA, chỉ có 17 nước đăng ký tham gia. Cuối cùng, UEFA quyết định tổ chức giải này dưới hình thức cúp bóng đá, với những trận lượt đi và về. Chỉ trừ vòng bán kết, giải mới được tổ chức ở một nước đăng cai duy nhất.T
Một trận đấu tại EURO 60.
trận đấu chính thức đầu tiên trong lịch sử EURO diễn ra ở Moskva, ngày 28/9/1958 trước 100.000 khán giả: đó là trận Liên Xô - Hungari ở vòng 1/8 (Liên Xô thắng 3-1). Phải chăng đây là tiên liệu việc đội Liên Xô sẽ đi tới đích, đoạt chiếc vương miện đầu tiên của giải vô địch các quốc gia châu Âu này.
Lev Yachine và các đồng đội của anh đã không gặp khó khăn gì để vượt qua vòng tứ kết sau đó, bởi không gặp phải Tây Ban Nha ở vòng này, vì lý do chính trị: Hai nước đã cắt đứt quan hệ ngoại giao, Madrid không cấp thị thực nhập cảnh cho các cầu thủ Xô Viết. Hậu quả: Tây Ban Nha bị coi là bỏ cuộc!
Đội tuyển Pháp cũng là nguồn cổ vũ cho giải bóng đá mới toanh này. Vừa mới đăng quang ngôi thứ 3 ở World Cup Thuỵ Điển (1958), đội Áo Lam hầu như nuốt chửng hai đối thủ đầu tiên: Hy Lạp (7-1; 1-1) rồi Áo (5-2; 4-2). Thắng lợi tưng bừng này lập tức tạo cho nước Pháp khả năng tổ chức vòng chung kết EURO đầu tiên. Đó là một phần thưởng xứng đáng và là sự biểu thị tôn trọng và biết ơn của FIFA đối với Henri Delaunay vừa qua đời vài tháng trước.
''Nhện đen'' Lev Yashin, người hùng của EURO đầu tiên.
Duy có kết quả bốc thăm chia bảng là không thuận lợi cho đội tuyển Pháp phải đối đầu với ''kẻ thù khó chịu nhất'' của họ từ lâu nay là đội Nam Tư. Ngày 6/7/1960, trên sân Công viên các Hoàng tử (cũ) đội tuyển Pháp sau 1 giờ thi đấu đã dẫn điểm đội Nam Tư tới 4-2 và có vẻ ung dung đi tới trận chung kết. Nhưng trong vòng 30 phút cuối, người Nam Tư đã lội ngược dòng một cách ngoạn mục với tỉ số 5-4!
Thậm chí Pháp còn không cứu vãn được danh dự trong trận xếp hạng ba, tư ở Marseille sau đó, khi chịu thúc thủ trước đội Tiệp Khắc với tỉ số 0-2, một đội Tiệp Khắc đã bị thua ở trận bán kết khác trước một đội Liên Xô bá chủ (0-3).
Ngày 10/7 ở Paris, trận chung kết EURO đầu tiên là công việc nội bộ của dân Slave. Không khí thất vọng tràn ngập trên các khán đài, nơi có chưa đầy 18.000 khán giả chứng kiến trận tranh tài ở đỉnh cao thứ nhất của Châu Âu. Đội Nam Tư đã rất nhanh chóng làm chủ trận đấu. Nếu không có Lev Yachine tuyệt vời, hẳn đội Liên Xô đã gục ngã ngày trong hiệp một. Nhưng duy chỉ Milan Galic hạ được ''Con nhện đen'' (Biệt hiệu của thủ môn người Moskva trứ danh nhất thế giới này) vào phút thứ 41.
Liên Xô đăng quang.
Vào hiệp 2, đội Liên Xô bừng tỉnh và nhanh chóng gỡ hoà (phút 49) bằng bàn thắng của Matreveli. Và từ giờ phút đó, thế trận thuộc hẳn về đội quân Xô viết. Cho dù họ phải kiên trì chờ tới hiệp phụ mới đoạt được danh hiệu vô địch (phút 113): Nhận được đường chuyền bổng vào giữa sân của Meskhi, trung phong Ponedelnik đem thắng lợi về cho đội anh bằng một cú vôlê tuyệt hảo.
Lá cờ đỏ bay tung lên bầu trời bóng đá châu Âu: Cuối cùng thì Lev Yachine có thể gương cao chiếu ''Cup Henri Delaunay''. Một chiến tích mà khi chào đời còn bị các ''ông lớn'' của châu Âu nghi ngờ nhưng từ nay thì không ai dám phủ nhận sự tồn tại của nó
EURO 64: Trận cuồng phong Tây Ban Nha
Có những thất bại đau đớn không phải là vô nghĩa. Như thất bại của đội tuyển đầy vinh quang của nước Anh bị đội tuyển Pháp trừng phạt nặng nề (1-1 ở Sheffield, 2-5 ở Paris) đã dẫn tới việc Anh từ bỏ một hệ thống lối chơi cố thủ và lao vào con đường cải cách để, ba năm sau đó, sẽ chiếm lĩnh đỉnh cao nhất của thế giới.
Trong khi chờ đợi, thì chính đội Áo Lam đã gây ấn tượng ở vòng đấu loại của Giải VĐ châu Âu 1964 này. Trên đà tiến mạnh của họ, đội bóng này đã loại đội Bungari ở vòng 16 đội (0-1 và 3-1) một vòng đấu ghi nhận một số bất ngờ tầm cỡ. Nếu Tây Ban Nha (TBN) chỉ suýt nữa là bị Bắc Ireland hất khỏi giải (1-1 và 1-0), thì Nam Tư đội vào chung kết EURO I, lại để Thuỵ Điển hạ nhục (0-0 và 2-3) và phải từ giã cuộc đua, còn Luxemburg nhỏ bé lại viết nên một trong những trang đẹp đẽ nhất trong cuốn sách vàng của đội khi loại đội Hà Lan.
Là tác giả của một trận hoà có lợi (1-1) trên sân Amsterdam, người Luxemburg lại lập một trận kỳ công khó tin ở trận lượt về trên sân... Rotterdam (cho rằng SVĐ của họ quá chật hẹp, họ đã quyết định ''tiếp khách'' trên một sân của đối thủ!), bằng thắng lợi 2-1, trong đó thủ môn Nico Schmitt đã thực hiện được những điều kỳ diệu vào cuối trận đấu, dù một bên vai bị trật khớp.
Ponedelnik, ngôi sao của đội tuyển Liên Xô.
Những cầu thủ của Đại công quốc cực kỳ sảng khoái sau đó đối đầu với đội Đan Mạch trong vòng tứ kết, thủ hoà 3-3 trên sân nhà và 2-2 ở Copenhagen, phải đấu thêm một trận để phân định thắng thua, bởi điều luật về số bàn thắng nhiều hơn ghi trên sân đối phương hồi ấy chưa ra đời. Ván đấu quyết định diễn ra ở Amsterdam, trong một thời tiết kinh khủng. Và những ước mơ của Luxemburg tan thành mây khói sau bàn thắng duy nhất của Ole Madsen vào phút 44.
Đội tuyển Pháp cũng chấm dứt cuộc phiêu lưu ở vòng này. Bị Hungari hạ tại sân nhà, Comobes (1-3) ở trận lượt đi, Pháp tưởng đã có hy vọng khi Nestor Combin mở tỉ số ngay ở phút thứ 2, tại Budapest. Nhưng quả đá phạt của Sipos và bàn thắng tiếp theo của Bene đã dập tắt những ảo tưởng của đội quân Áo Lam và kéo theo sự từ chức của HLV trưởng Georges Verriest.
Cùng thời gian đó, đội TBN đè bẹp dễ dàng đội Ireland (5-1 và 2-0) và đội Liên Xô, được kim vô địch, giành một thắng lợi cần cù trước đội Thuỵ Điển (1-1 và 3-1). TBN, Liên Xô, Hungari và Đan Mạch, đó là bộ tứ tinh hoa lọt vào vòng chung kết được tổ chức ở Madrid và Barcelona, từ 17 đến 21/6.
Tiếng hò reo bất tận trên sân Bernabeu.
Từ SVĐ Bernabeu bị thiêu đốt bởi nắng hè oi ả vang lên tiếng hò reo bất tận: ''TBN tiến lên''. Khi Pereda mở tỉ số, cả một dân tộc ngất ngây vì sung sướng. Nhưng người Hung vẫn kiên cường chống đỡ. Hơn thế họ còn gỡ hoà bằng bàn thắng của Nagi khi trận đấu chỉ còn 5 phút. ''Trận cuồng phong TBN'' nổi lên ào ào ở hiệp đấu phụ, trận cầu căng thẳng đến cực độ cho tới cú sút của Amancio thiên tài (phút 113) mở cửa trận chung kết cho đội chủ nhà.
TBN sẽ tranh vương miện với Liên Xô, đội đã dễ dàng loại ở trận bán kết trên sân Camp Nou của Barcelona (3-0) một đội Đan Mạch mệt mỏi tới mức chịu khuất phục luôn trước Hungari ở trận tranh giải ba sau đó (1-3).
Trận chung kết giữa TBN và Liên Xô là cuộc đối đầu mãnh liệt giữa hai đội bóng đá ưu tú nhất vào thời gian đó. Chuyện được thua vì thế lớn gấp đôi, và hai đội bóng đều biết điều đó, nên họ xung trận với trống giong cờ mở. Pereda ghi bàn ngay ở phút thứ 6, Choussanov gỡ hoà 120 giây sau đó. Nhưng trên một sân cỏ ướt nhão vì mưa tầm tã, lối chơi táo bạo hơn của các cầu thủ TBN đã chiếm ưu thế so với lối chơi thận trọng của người Xô viết.
Nhện đen Lev Yashin bị hạ gục.
Peceda tả hữu xung đột, bị từ chối một bàn thắng vì một lỗi việt vị đáng ngờ, rồi một quả phạt đền mà không thể phủ nhận. Khả năng phải đấu thêm hiệp phụ như đã trùm lên sân Bernabeu. Nhưng, khi trận đấu chỉ còn 6 phút, Amancio đón một đường tạt bóng vào giữa sân của Pereda, lừa cho ''Con nhện đen'' Yachine ra khỏi khung thành rồi đánh đầu rất dũng mãnh, đem lại cho TBN chiếc Cup Henri Delaunay.
Đội trưởng Olivella của đội quân xứ bò tót giương cao chiếc cúp quý giá đoạt được từ tay đội Liên Xô. Và thế giới cuồng nhiệt của EURO hẹn gặp lại nhau lần thứ ba, năm 1968, tức bốn năm sau...
EURO 68: Squadra Azzura vất vả lên ngôi
Để giành được trên lãnh thổ của mình danh hiệu vô địch châu lục, đội quân áo Thiên Thanh đã vừa phải nhờ vào may rủi vừa phải cố gắng tận dụng sức đến tối đa.
Đội trưởng hai đội Italia (phải) và Nam Tư trao cờ lưu niệm trước trận chung kết.
Thủ hoà với Liên Xô 0-0 sau 120 phút thi đấu, đã phải nhờ thế sấp ngửa của một đồng tiền để vào CK. Lại hoà với Nam Tư 1-1 ở trận cuối cùng và phải đấu lại để phân thắng bại một giải đấu hồi hộp đến tận cùng, đưa Squadra Azzura (đội tuyển Italia) lên tột đỉnh vinh quang của bóng đá đương thời châu Âu.
Cái ngày 17/12/1967 ấy, chỉ có một phóng viên ''nhà đài'' duy nhất của Nam Tư thực hiện chuyến đi đến Tirana để xem trận đấu Albania - CHLB Đức (Tây Đức). Có nghĩa là phía Belgrad không ai thực sự tin là đội bóng á quân thế giới lại có thể bị thất bại bởi một trong những đội bóng khiêm tốn nhất châu Âu. Thật vậy, không một mảy may tin nổi. Thế nhưng ... được kích thích mạnh, người Albania giữ vững cho tới cùng tỉ số 0-0 kỳ lạ, dẫn tới kết quả dù chỉ được một điểm nhỏ nhoi ở bảng xếp hạng Albania vẫn loại được Tây Đức để đưa Nam Tư lên đầu bảng và lọt vào vòng tứ kết.
Giờ phút đăng quang.
Ngoài điều bất ngờ lớn đó, vòng đấu loại của EURO 68 (gồm 8 bảng đấu vòng tròn lấy 8 đội đầu bảng vào tứ kết) xác định trật tự đương thời. Tuy rằng Tây Ban Nha đương kim vô địch chỉ vượt qua Tiệp Khắc kiên cường một cách sít sao, tuy rằng đội Anh vừa đoạt vương miện thế giới (1966) vẫn phải cố gắng giành một trận hoà ở lượt về với Scotland mới vượt qua họ bằng một điểm cách biệt, nhưng hầu như tất cả các đội bóng lớn còn lại đều dễ dàng đoạt vé vào tứ kết.
Trong số đó, đội Pháp mặc dù thất bại ở Bỉ ngay từ trận thứ 2 vẫn giành được ngôi đầu bảng 7 sau khi thắng oanh liệt (4-1) ở Ba Lan, nhờ có một tiền đạo cực kỳ hùng mạnh và hiệu quả là Fleury Di Nallo (5 trận, 5 bàn thắng). Nhưng khi phải đối đầu với Nam Tư ở tứ kết, đội quân Áo Lam (Pháp) đã bộc lộ những hạn chế của nó: ở lượt đi tại sân nhà Marseille họ thủ hoà (1-1), nhưng ở lượt về tại Belgrad, hai tuần sau đó, đội Pháp hoàn toàn vỡ mộng, bị nghiền nát với tỉ số 5-1 sau khi đã dẫn trước tới 3-0 chỉ sau 15 phút vào trận.
Pháp bị loại, đồng thời với Hungari và Bungari và cả đương kim vô địch Tây Ban Nha cũng bị Anh phế truất bởi thất bại ở cả hai lượt đi và về (lượt đi trên sân khách thua 1-0, lượt về trên sân nhà cũng thua 2-1).
HLV Valcaregi.
Như thế là còn 4 đội tuyển gặp nhau ở vòng chung kết được tổ chức ở Italia, từ 5 đến 10/6/1968. Trong khi Nam Tư loại các nhà VĐTG Anh ở Florence (1-0, bàn thắng của Dragan Dzajic ở phút thứ 87), thì ở Napoli diễn ra một trong những chương nổi bật nhất trong lịch sử các giải Vô địch châu Âu.
Trên sân San Paolo, dưới trời mưa nhỏ nhưng ác hiểm, Italia và Liên Xô bất phân thắng bại, sau 2 hiệp phụ vẫn 0-0. Vào thời ấy chưa có quy tắc thi đá 11m. Vậy là phải quyết định đội vào vòng chung kết trong... một phòng thay đồ của trọng tài người Tây Đức Klaus Tchencher. Ông này triệu tập đội trưởng của hai đội (Facchetti của Italia và Chesterrev của Liên Xô), lãnh đạo của hai LĐBĐ và những đại diện của UEFA. Sấp hay ngửa? Ông trọng tài tung lên một đồng tiền 10 franc (niên hiệu 1916), đồng tiền rơi xuống: ngửa! Mặt mà Facchetti đã chọn. Đội Italia vào chung kết! Bị số phận giáng cho một đòn quá đau, đội Liên Xô để tuột luôn ngôi thứ 3trước một đội Anh quyết chí phục thù.
Luigi Riva
Trận quyết chiến sau cùng, không ngờ Italia lặp lại kịch bản cũ. Tỉ số vẫn là hoà (1-1) sau 120 phút hai đội Italia và Nam Tư quần nhau kịch liệt trên sân Olympico Roma. Nhưng lần này không còn là chuyện sấp hay ngửa của đồng tiền, mà phải đấu lại 2 ngày sau đó. Thế là ngày 10/6/1968, sân Olympico trở thành đấu trường của một trận đá lại mau chóng có kết cục.
Squadra Azzuza, mà HLV trưởng Valcareggi đã thay đổi mạnh mẽ (5 vị trí), lập tức chiếm quyền chủ động và quyết định số phận trận trung kết ngay trong nửa đầu hiệp 1, nhờ 2 bàn thắng của Riva (phút 12) và Anastasi (phút 31). Với chiến thắng này, Italia trở thành quốc gia đầu tiên giành được 3 danh hiệu quốc tế có uy tín nhất: Cúp vô địch thế giới, Huy chương vàng Olympic và Vô địch châu Âu.
EURO 68: Squadra Azzura vất vả lên ngôi
Để giành được trên lãnh thổ của mình danh hiệu vô địch châu lục, đội quân áo Thiên Thanh đã vừa phải nhờ vào may rủi vừa phải cố gắng tận dụng sức đến tối đa.
Đội trưởng hai đội Italia (phải) và Nam Tư trao cờ lưu niệm trước trận chung kết.
Thủ hoà với Liên Xô 0-0 sau 120 phút thi đấu, đã phải nhờ thế sấp ngửa của một đồng tiền để vào CK. Lại hoà với Nam Tư 1-1 ở trận cuối cùng và phải đấu lại để phân thắng bại một giải đấu hồi hộp đến tận cùng, đưa Squadra Azzura (đội tuyển Italia) lên tột đỉnh vinh quang của bóng đá đương thời châu Âu.
Cái ngày 17/12/1967 ấy, chỉ có một phóng viên ''nhà đài'' duy nhất của Nam Tư thực hiện chuyến đi đến Tirana để xem trận đấu Albania - CHLB Đức (Tây Đức). Có nghĩa là phía Belgrad không ai thực sự tin là đội bóng á quân thế giới lại có thể bị thất bại bởi một trong những đội bóng khiêm tốn nhất châu Âu. Thật vậy, không một mảy may tin nổi. Thế nhưng ... được kích thích mạnh, người Albania giữ vững cho tới cùng tỉ số 0-0 kỳ lạ, dẫn tới kết quả dù chỉ được một điểm nhỏ nhoi ở bảng xếp hạng Albania vẫn loại được Tây Đức để đưa Nam Tư lên đầu bảng và lọt vào vòng tứ kết.
Giờ phút đăng quang.
Ngoài điều bất ngờ lớn đó, vòng đấu loại của EURO 68 (gồm 8 bảng đấu vòng tròn lấy 8 đội đầu bảng vào tứ kết) xác định trật tự đương thời. Tuy rằng Tây Ban Nha đương kim vô địch chỉ vượt qua Tiệp Khắc kiên cường một cách sít sao, tuy rằng đội Anh vừa đoạt vương miện thế giới (1966) vẫn phải cố gắng giành một trận hoà ở lượt về với Scotland mới vượt qua họ bằng một điểm cách biệt, nhưng hầu như tất cả các đội bóng lớn còn lại đều dễ dàng đoạt vé vào tứ kết.
Trong số đó, đội Pháp mặc dù thất bại ở Bỉ ngay từ trận thứ 2 vẫn giành được ngôi đầu bảng 7 sau khi thắng oanh liệt (4-1) ở Ba Lan, nhờ có một tiền đạo cực kỳ hùng mạnh và hiệu quả là Fleury Di Nallo (5 trận, 5 bàn thắng). Nhưng khi phải đối đầu với Nam Tư ở tứ kết, đội quân Áo Lam (Pháp) đã bộc lộ những hạn chế của nó: ở lượt đi tại sân nhà Marseille họ thủ hoà (1-1), nhưng ở lượt về tại Belgrad, hai tuần sau đó, đội Pháp hoàn toàn vỡ mộng, bị nghiền nát với tỉ số 5-1 sau khi đã dẫn trước tới 3-0 chỉ sau 15 phút vào trận.
Pháp bị loại, đồng thời với Hungari và Bungari và cả đương kim vô địch Tây Ban Nha cũng bị Anh phế truất bởi thất bại ở cả hai lượt đi và về (lượt đi trên sân khách thua 1-0, lượt về trên sân nhà cũng thua 2-1).
HLV Valcaregi.
Như thế là còn 4 đội tuyển gặp nhau ở vòng chung kết được tổ chức ở Italia, từ 5 đến 10/6/1968. Trong khi Nam Tư loại các nhà VĐTG Anh ở Florence (1-0, bàn thắng của Dragan Dzajic ở phút thứ 87), thì ở Napoli diễn ra một trong những chương nổi bật nhất trong lịch sử các giải Vô địch châu Âu.
Trên sân San Paolo, dưới trời mưa nhỏ nhưng ác hiểm, Italia và Liên Xô bất phân thắng bại, sau 2 hiệp phụ vẫn 0-0. Vào thời ấy chưa có quy tắc thi đá 11m. Vậy là phải quyết định đội vào vòng chung kết trong... một phòng thay đồ của trọng tài người Tây Đức Klaus Tchencher. Ông này triệu tập đội trưởng của hai đội (Facchetti của Italia và Chesterrev của Liên Xô), lãnh đạo của hai LĐBĐ và những đại diện của UEFA. Sấp hay ngửa? Ông trọng tài tung lên một đồng tiền 10 franc (niên hiệu 1916), đồng tiền rơi xuống: ngửa! Mặt mà Facchetti đã chọn. Đội Italia vào chung kết! Bị số phận giáng cho một đòn quá đau, đội Liên Xô để tuột luôn ngôi thứ 3trước một đội Anh quyết chí phục thù.
Luigi Riva
Trận quyết chiến sau cùng, không ngờ Italia lặp lại kịch bản cũ. Tỉ số vẫn là hoà (1-1) sau 120 phút hai đội Italia và Nam Tư quần nhau kịch liệt trên sân Olympico Roma. Nhưng lần này không còn là chuyện sấp hay ngửa của đồng tiền, mà phải đấu lại 2 ngày sau đó. Thế là ngày 10/6/1968, sân Olympico trở thành đấu trường của một trận đá lại mau chóng có kết cục.
Squadra Azzuza, mà HLV trưởng Valcareggi đã thay đổi mạnh mẽ (5 vị trí), lập tức chiếm quyền chủ động và quyết định số phận trận trung kết ngay trong nửa đầu hiệp 1, nhờ 2 bàn thắng của Riva (phút 12) và Anastasi (phút 31). Với chiến thắng này, Italia trở thành quốc gia đầu tiên giành được 3 danh hiệu quốc tế có uy tín nhất: Cúp vô địch thế giới, Huy chương vàng Olympic và Vô địch châu Âu.
EURO 72: Và bia đã chảy tràn...
Được dẫn dắt bởi một Franz Bekenbauer, đội tuyển Tây Đức đè bẹp mọi đối thủ của nó, kể cả Những con Quỷ đỏ nước Bỉ, tuy đội quân này đã hạ đương kim vô địch Italia ở tứ kết.
Đội trưởng Beckenbauer nhập Cúp VĐ.
Một sự im lặng dày đặc bao phủ SVĐ Heysel. Khó tưởng tượng nổi rằng, cái ngày 14/6/1972 ấy tại sân bóng của thủ đô nước Bỉ này diễn ra một trong hai trận bán kết của Giải vô địch Châu Âu trước sự thờ ơ chung. Trong không gian hầu như trống tuếch của ''con tầu ma'' này chỉ có 1.659 khán giả dự trận đấu giữa đội Liên Xô gặp đội Hungari (đội đánh bại đội Pháp ở vòng loại).
Nhưng không một nhà quan sát nào chê trách công chúng nước Bỉ vì chất lượng trận đấu ''thượng đỉnh'' giữa các cầu thủ Xô Viết và Hungari (1-0) không cao. Hơn nữa cũng trong ngày thứ tư này, cả một dân tộc đang nín thở dõi theo một trận bán kết khác ở Anvers, nơi CĐV người Oaloni và Flamăng tạm hoà hoãn với nhau để cùng mơ chung một chiến công cho đội chủ nhà Bỉ
Nhạc trưởng Netzer của ĐT Đức.
Hôm ấy, ở trận tứ kết, đội Bỉ đã loại được đội ĐKVĐ Italia! Sau khi thủ hoà (0-0) ở lượt đi tại Milan, chủ yếu là nhờ tài của thủ môn Christian Piot, người hùng sân San Sino. Hai tuần sau, đội Bỉ vươn lên đè bẹp đối thủ. Ở trận lượt về trên sân Astrid của Anderlecht, Wilfired Van Moer và Paul Van Himst, những cây làm bàn của ngày vinh quang ấy đối với bóng đá Bỉ (2-1), trở thành những anh hùng dân tộc.
Tuy vậy, đến trận bán kết, đội Bỉ vẫn không tránh khỏi được một ''cái chết đã được báo trước'' khi Gerd Mueller ''Chiếc máy bay ném bom'', thực hiện một cú đúp tuyệt vời. Mặc dù sau đó, Những con quỷ đỏ đã vùng lên gỡ được một bàn danh dự nhờ công của Polleuis, tỉ số 2-1 đã đưa đội Tây Đức vào trận chung kết lần đầu tiên trong lịch sử của họ.
Ngôi sao Van Himst (trái) của ĐT Bỉ.
Ngày 18/6, trên sân Heysel lần này đông đặc khán giả, hai đội bóng chưa nếm mùi thất bại đối đầu với nhau để giành vinh quang tối cao của EURO 1972 này. Đội tuyển Liên Xô đã giành chiến thắng ở EURO đầu tiên 12 năm trước (1960), không đủ sức tái lập chiến công đó.
Những đồng đội của Kolotov (tiền vệ, đội trưởng) chậm chạp và lúng túng, muốn tránh được nỗi nhục chỉ 23 ngày sau thất bại tại Munich. Thật thế, trong trận giao hữu để khánh thành SVĐ Olyimpa, đội Liên Xô đã bị tan nát bởi những đòn sấm sét của tiền đạo người Đức kiệt xuất Gerd Mueller, tác giả của một bộ 4 bàn thắng so với chỉ một bàn nhỏ nhoi của đội khách! Và Liên Xô đã được an ủi phần nào ở Brussels lần này! Cây làm bàn Đức chỉ ghi được có 2 bàn!
Gerd Muller (áo trắng) trong trận chung kết.
Trận chung kết đã diễn ra trong sự ê chề của đội Liên Xô. Họ hoàn toàn bất lực trước đội quân quá hùng mạnh, qúa toàn diện của Tây Đức. Và tỷ số 3-0 chẳng làm ai ngạc nhiên, bởi trong đội tuyển Đức bấy giờ, đã có những nhà vô địch đi vào huyền thoại của bóng đá nước Đức. Sepp Maier và Paul Breitner ở hàng hậu vệ, Guenther Netzer và Uli Hoeness ở hàng tiền vệ, Gend Mueller và Jupp Heynckes ở hàng tiền đạo, tất cả đều là những thủ lĩnh, cùng nhau tạo nên một đội ngũ duy nhất trong nền bóng đá châu Âu thời ấy.
Và hai năm sau, thực tế này lại được khẳng định lần nữa. Trên xứ sở của mình, đội tuyển Tây Đức huy hoàng tiến tới đỉnh vinh quang bằng việc đoạt được ngôi vô địch thế giới ở World Cup 1974
EURO 76: Ánh pha lê xứ Bohemian
Tây Đức với Beckenbauer ở đỉnh cao phong độ, đội Da Cam với Cruyff cuối cùng chỉ giành được giải nhì và giải ba ở EURO'1976. Ngôi vô địch thuộc về Tiệp Khắc, một đội bóng còn bị coi là đội chầu rìa ở vòng bán kết.
Hai vị khách bất ngờ đã lọt vào vòng tứ kết sau khi bị thất bại ở trận ra quân. Và một trong số họ đã đi tới đích cuối cùng.
Chiến thắng trước Áo đưa xứ Wales lần đầu tiên và duy nhất lọt vào VCK. Leighton James là một tiền đạo cánh nguy hiểm bậc nhất châu Âu và một tiền vệ cần cù ghi được nhiều bàn thắng. Nhưng đội Wales bị thủng lưới ngay ở phút đầu của trận tứ kết ở Zagreb, đá hỏng một quả penalty, bị đuổi một cầu thủ ở trận lượt về và bị loại bởi thế hệ những tài năng Nam Tư.
Johan Cruyff không thể đưa đội Da Cam vào chung kết.
Không ai chờ đợi gì ở đội Tiệp Khắc, nhất là sau thất bại 0-3 của họ ở Wembley trong trận ra quân. Nhưng 2 bàn thắng nhanh của tiền đạo nhỏ Masny đã đưa họ vào tứ kết. Và trước sự kinh ngạc của mọi người họ đã loại đội Liên Xô gồm những cầu thủ tài năng của Diamo Kiev vừa đoạt Cup C2 châu Âu và Oleg Blokhin giành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong năm.
Tiệp Khắc thắng 2-0 trên sân nhà và 2-1 trên sân khách. Nhưng họ vẫn bị coi là đội chầu rìa ở vòng bán kết gồm đội Nam Tư chủ nhà và hai đội vào chung kết Cúp thế giới (1974) Tây Đức và Hà Lan. Tây Đức lúc này không còn Gerd Mueller và Guenter Netzer nhưng Uli Hoeness và Herbert Wimmer vẫn còn đó, Berti Vogts đã trở lại và Franz Beckenbauer đang ở đỉnh cao phong độ. Tây Đức đã hạ Tây Ban Nha để vào vòng bán kết. Đội Hà Lan vẫn được Johan Cruyff và những danh thủ quốc tế dẫn dắt (Ruud Krol, Johnny Rep, Johan Neeskens...). Họ đã đè bẹp đội Bỉ (5-0 và 2-1) ở tứ kết và đầy khí thế đi tới phục thù trận thua Tây Đức tại World Cup 1974.
Pha sút hỏng ăn của Uli Hoeness (Đức).
Những cơn lốc Da cam đã bị Tiệp Khắc chặn đứng ở bán kết với một tỉ số khá đậm (3-1), còn đội Đức với tinh thần chiến đấu ngoan cường truyền thống đã lội ngược dòng một cách ngoạn mục trong trận bán kết thứ hai trước Nam Tư bị dẫn trước 2-0, gỡ hoà 2-2 chỉ vài giây trước khi kết thúc 2 hiệp chính và thắng lại 4-2 ở hiệp phụ.
''Trận chung kết với kịch tính cao, chất lượng và nội dung phong phú, là một trận mà nhiều năm nay không có ở các sân cỏ châu Âu'' (báo Sport). ''Trận đấu đã đạt được trình độ mà người ta chưa hề biết tới'' (báo L'Equipe). Sau khi hoà 2-2 (sau 120 phút) đội Tiệp Khắc đã thắng ĐKVĐ thế giới (World Cup 1974) 5-3 bằng thi đá luân lưu 11mét, tước đi luôn cả danh hiệu vô địch châu Âu của Đức (Đức vô địch EURO' 72).
Cú sút phạt đền quyết định của Panenka (Tiệp Khắc)
Ngày 20/6 năm đó quả thực là một ngày xui xẻo đối với nhà vô địch kép. Sau khi bị 2 đòn choáng váng của tiền vệ Svehlik và Dobias trong 25 phút đầu tiên (phút 8 và 25), mãi tới cuối chót trận, phút thứ 90, tiền đạo Hoelzenbein mới vất vả cứu được đội Đức khỏi bị thảm bại bằng bàn gỡ hoà 2-2. Nhưng chính Uli Hoeness đá quả 11m thứ tư vọt xà ngang, ''miễn'' cho đội trưởng Beckenbauer khỏi phải đá quả cuối cùng vì Tiệp Khắc đã thắng 5-3.
Trận thứ 100 của Beckenbauer dưới mào áo ĐT Đức kết thúc đáng buồn dù chỉ vài tuần trước đó anh cùng Bayern Munich nâng cao chiếc Cúp C1 đoạt được lần thứ 3 liên tụ
EURO 80: Một đội Bỉ tuyệt vời, nhưng Đức là vô địch
Nhằm gia tăng sức hấp dẫn cho cuộc tranh tài, UEFA quyết định mở rộng số lượng các đội bóng tham dự Vòng chung kết EURO lần thứ 6 này. Vậy là 8 ĐTQG chia thành 2 bảng đấu, mỗi bảng 4 đội (hai đội đứng đầu bảng sẽ vào tranh trận chung kết), đua tài ở EURO 1980 tổ chức tại Italia.
Do kết quả ngẫu nhiên của bốc thăm chia bảng, trận đấu mở màn là cuộc tái đấu của hai đội dự trận chung kết EURO trước. Và Tây Đức đã rửa được mối hận với Tiệp Khắc (1-0) nhờ cú đánh đầu chớp đúng thời cơ của Rumenigge (chính đội Tiệp Khắc ấy đã đánh bại ở vòng đấu loại một đội Pháp thiếu vắng Platini đã quá lâu do anh bị chấn thương...). Tuy nhiên, trên các khán đài lại là một nỗi thất vọng: trận đấu mở màn đầy ý nghĩa này chỉ thu hút được 150.000 khán giả tới SVĐ Olympico.
Hai thủ quân Keegan (Anh) và Dino Zoff (Italia) bắt tay trước trận.
Công chúng không mấy nhiệt tình, bình quân mỗi trận không quá con số 2.500 khán giả. Hơn nữa, những hooligan của Anh còn làm xấu xí thêm hình ảnh của EURO thất bại này bằng những hành vi nhiễu loạn mỗi khi đội tuyển Anh xuất hiện, đặc biệt là ở trận Anh - Bỉ, một trận đấu khởi đầu dưới làn khói hơi cay.
Ngày 14/6/1980, trọng tài người Pháp Robert Wurtz được vinh dự cầm còi cho trận tranh tài hấp dẫn nhất của giải. Tại Napoli, hai đội Tây Đức và Hà Lan gặp lại nhau để tái bản không biết lần thứ bao nhiêu trận cầu cổ điển này của bóng đá châu Âu. Bữa đó, Klaus Allofs lập một hat-trick quyết định (3-2). Và mặc dù bất ngờ bị cầm chân bởi những người Hy Lạp (0-0) tại trận đấu thứ ba của họ, đội quân của HLV Jupp Derwall vẫn vững vàng tiến tới trận chung kết thứ ba liên tiếp của mình.
Trận Đức - Hà Lan.
Ở một bảng khác, trận cầu quyết định diễn ra ở Roma, giữa hai đội Italia và Bỉ gây kinh ngạc. Dĩ nhiên Squadra Azzurra được xem là đội chắc thắng hơn hẳn, nhất là trước khán giả rất sôi động của nó. Thế nhưng, những cầu thủ của ông Enzo Bearzot đã tỏ ra thiếu hẳn đầu óc phán đoán nên đã liên tục bị sa vào cái bẫy việt vị ưa dùng của người Bỉ.
Các đồng đội của Eric Gerets sử dụng đến mức hoàn hảo mẹo này, khiến Bettega, Graziani, Causio và chiến hữu của họ không kịp xoay sở để thoát ra. Thủ môn hay bông lơn của Bỉ, Jean - Marie Pfraff, chơi suất sắc, đẩy lùi được những tấn công sắc bén những hiếm hoi của đội Italia, và đội Bỉ giành được một tỷ số hoà 0-0, đồng nghĩa với việc dự trận chung kết! Thậm chí đội Italia sẽ không cứu vãn được danh dự khi để thua đội Tiệp Khắc ở trận tranh giải ba, sau một loạt vô tận những cú thi sút 11 mét (tổng cộng tới 18, chỉ một cú sút hỏng của Collvati).
Hrubesch, người hùng trong trận chung kết.
Trận chung kết được cầm tinh con ''Hươu cao cổ''. Đó là biệt hiệu của Horst Hrubesch, tác giả của một cú đúp quyết định, từ hai quả đánh đầu bậc thầy. Nước Đức giành được danh hiệu vô địch châu Âu lần thứ 2 một cách rất logic, bất chấp sự kháng cự anh hùng của đội ''chầu rìa Bỉ''. Sau khi gỡ hoà ở một quả phạt đền hào hiệp do ''lỗi'' của Stielike đã đẩy ngã Van der Elst... Ở bên ngoài khu vực cấm, đội quân của Ceulemans tiếp tục chiến đấu một cách kiên cường. Nhưng như thế chưa đủ.
Chiếc máy ủi Hrubesch, đón một quả phạt góc của Rummenigge khi trận đấu chỉ còn 2 phút, tâng cả bóng và thân hình đồ sộ vào lưới. Và nước Đức một lần nữa trở thành quốc gia bóng đá số một châu Âu.
EURO 84: Vương miện cho nước chủ nhà và Platini
Hiếm khi thấy một thủ quân lại xứng đáng đến như thế để gương cao. Trong cái ngày 27 tháng 6 lịch sử ấy đối với nền bóng đá Pháp, Michel Platini giành được chiếc cúp quý giá để dâng hiến cho một Công viên các Hoàng tử say sưa đến mê cuồng vì hạnh phúc.
Đội quân Áo Lam trở thành nhà Vô địch châu Âu phần lớn là nhờ nhà chiến lược của Juventus! Tác giả của 9 bàn thắng (trong 5 trận). ''Platoche'' đã tỏ ra là một đao phủ khủng khiếp đối với các hàng phòng thủ đối phương. Người Đan Mạch, Bỉ, Nam Tư, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha lần lượt phải khuất phục trước tài năng phi thường của ''Vua Michel''. Và nước Pháp đã thắng cả 5 trận ở VCK của một giải đấu được tổ chức một cách hoàn hảo.
Đối với EURO 7 này, các nhà lãnh đạo của Pháp đã không ngần ngại đòi UEFA phải chấn chỉnh cách thức thi đấu ở VCK. Do đó, đấu vòng tròn như trước (kể cả đội Pháp chủ nhà được miễn đấu loại), ở vòng một của VCK. Đặc biệt là các trận bán kết được khôi phục, làm cho cuộc tranh tài trở nên quyết liệt và sôi động hơn, với những trận ngoạn mục ở Marseille (bán kết Pháp - Bồ Đào Nha), rồi ở Lyon (bán kết Tây Ban Nha - Đan Mạch) trước khi tới trận đăng quang ở Paris của đội chủ nhà.
.
Nếu Pháp thống trị rõ rệt ở vòng 1, trong bảng 1, thì điều phát hiện lớn nhất của giải này chính là Đan Mạch. Lần lượt hạ đội Anh của Keegan và các đội Hy Lạp, Luxembourg, Hungari ở vòng loại, Đan Mạch - cho tới trước giải này còn bị coi thường ở châu Âu - hùng dũng tiến vào vòng chung kết. Đặc biệt đã hạ đội Bỉ ở vòng 1, sau một cuộc lội ngược dòng kỳ ảo ở Strasbourg.
Sự bừng tỉnh của những đồng đội của Soren Lerby, bị dẫn trước tới 2-0 sau 30 phút đầu, thật là sướng mắt, họ gỡ hoà ngay ở cuối hiệp 1. Rồi nhờ một đợt tiến công sấm sét của tiền đạo ngôi sao, ''bò rừng'' Preben Elkjaer - Larsen, đội Đan Mạch giành được quyền vào vòng bán kết (3-2), và họ chỉ chịu dừng bước sau loạt thi đá 11 mét đầy kịch tính với đội Tây Ban Nha (Đan Mạch thua 4-5). Một đội TBN như nhờ phép mầu trước đó, vượt qua vòng một bằng thắng lợi sít sao (hoà 2 thắng 1), trong đó trận thắng duy nhất trước đương kim vô địch Tây Đức là nhờ cú đánh đầu bậc thầy của Maceda vào giây cuối cùng của trận.
Ở cùng bảng 2 này, nhờ tận dụng được chiến công của những người anh em cùng bán đảo Iberia, Fernando Chalana và các đồng đội Bồ Đào Nha của anh bằng lòng với một chiến thắng sít sao nhưng quý giá trước Romania, ở Nantes (1-0) để mở đường vào trận bán kết với đội chủ nhà ở Marseille.
Từ pha sút phạt này, Platinini đã mở tỷ số trong trận chung kết.
Trên sân Vélodrome, các cầu thủ Bồ Đào Nha cầm chân khá lâu đội Pháp và bộ tứ mầu nhiệm của nó Fernandez - Tigana - Giresse - Platini. Nhờ cú đúp của Jordao, thậm chí họ dẫn Pháp 2-1 ở hiệp phụ. Đến lúc ấy, cần đến một đợt phản công quyết liệt của đội Pháp, kết thúc bằng bàn thắng của Domergue, rồi đến một đường truyền quyết định của Tigana để Platini ghi bàn vào phút thứ 120, ông HLV trưởng Michel Hidalgo của đội Áo Lam mới có thể thở phào nhẹ nhõm.
Bốn ngày sau đó ở Paris, thủ môn đội Tây Ban Nha Luis Arconada đã biếu cho đội Pháp một bàn thắng khi bắt không dính cú sút phạt của Platini. Đội Pháp cầm chắc chiến thắng khi Bruno Bellone, được Tigana mớm bóng chính xác trong một đợt phản công, thực hiện một quả lốp bóng hiểm hóc khiến Arconada chỉ còn biết bất lực đứng nhìn. Pháp trở thành vô địch châu Âu, Platini được trao vương miện, để vĩnh viễn đi vào lịch sử như cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại của bóng đá Pháp.
JakeSatan
30-11-2004, 15:52
Tiger Cup 2000
Bảng A
- Ngày 6/9:
Indonesia - Philippineslippine: 3-0
Ghi bàn: A.Santoso 31', Yulianto 58', Purdjianto 84'
Đội hình:
Indonesia: Adnyana, A.Santoso (Budiman 65'), Sofyan, Purdjianto, Suwandi, Nurdiantara, Nawawi, Yulianto, Sakti, Bento (Christiawan 65'), Laala (Sugiyantoro 26').
Philippines: Mercado, Nieto (Temperosa 54'), R.Tonog, Gonzalez, Go (Sledd 70'), Pinero, N.Fegidero (đội trưởng) (Gunn 36'), Bersales, de la Cruz, OCampuchiapo, D.Fegidero.
Trọng tài: Mohd. Nazri (Malaysia), Phonesirignavong (Lào), Pongsathorn (Thái Lan), The Toan (Việt Nam). Thẻ vàng: Temperosa (Philippines - 54').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Yulianto (Indonesia).
Thái Lan - Myanmarnmar 3-1
Ghi bàn: Thái Lan - Kiatisuk 4', Seksan 47', Surachai Jaturapattarapong 74'; Myanmarnmar - Aung Kyaw Tun 62'.
Đội hình:
Thái Lan: Kittisak, Nived (Tanongsak 87'), Choktawee, Anurak, Chukiat, Tawan, Surachai Jaturapattarapong (đội trưởng), Kiatisuk, Surachai Jirasirichote (Tananchai 57'), Dusit, Seksan (Sutee 76').
Myanmarnmar: Ko Ko Aung, Thái Lann Wai, Soe Myanmart Min, Zaw Linn Tunn, Nay Thu Hlaing (Kyaw Min 74'), Aung Kyaw Moe, Myo Hlaing Win (đội trưởng), Min Zaw Oo (Min Thu 78'), Min Twin, Zaw Htike, Aung Kyaw Tun.
Trọng tài: Kumbalingam (Singapore), Kassim Kadir (Malaysia), Van Mui (Việt Nam), Ly Ratana (Campuchia). Thẻ vàng: Choktawee (Thái Lan - 91'), Thái Lann Wai (Myanmar - 56').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Kiatisuk (Thái Lan).
- Ngày 8/11:
Myanmarnmar - Philippines: 3-0
Ghi bàn: Thet Naing Soe 65', Zaw Htike 69', Nay Thu Hlaing 71'
Đội hình:
Myanmarnmar: Ko Ko Aung, Min Thu, Soe Myanmart Min, Zaw Linn Tunn, Aung Kyaw Moe, Myo Hlaing Win (đội trưởng), Thái Lann Toe Aung (Nay Thu Hlaing 46' [Lwin Oo 87']), Min Twin, Zaw Htike, Thet Naing Soe, Aung Kyaw Tun (Kyaw Min 65').
Philippines: Mercado, R.Tonog, Gonzalez, Pinero (Go 60'), N.Fegidero (đội trưởng), de la Cruz (Temperosa 74'), OCampuchiapo, D.Fegidero (Gunn 67'), T.Fegidero, Z.Tonog, Sledd.
Trọng tài: Văn Mùi (Việt Nam), Ly Ratana (Campuchia), Kumbalingam (Singapore), Phonesirignavong (Lào). Thẻ vàng: Nay Thu Hlaing (Myanmar - 55'), R.Tonog (Philippines - 28'), D.Fegidero (Philippines - 55')
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Zaw Htike (Myanmar).
- Ngày 10/11:
Worrawut được đồng đội chúc mừng bàn mở tỷ số trong trận chung kết.
Thái Lan - Indonesia 4-1
Ghi bàn: Thái Lan - Worrawut 25' 49', Kiatisuk 52', Dusit 79'; Indonesia - Christiawan 57'
Đội hình:
Thái Lan: Virat, Tanongsak, Nived, Choktawee, Tawan (Anurak 82'), Thái Lanwatchai, Surachai Jaturapattarapong (đội trưởng) (Therdsak 75'), Kiatisuk, Voravut (Sutee 71'), Dusit, Tananchai.
Indonesia: Kartiko (Adnyana 46'), A.Santoso, Sofyan (Bento 73'), Sugiyantoro, Purdjianto, Suwandi, Nurdiantara (Nahumarury 18'), Yulianto, Sakti, P.Santoso, Christiawan.
Trọng tài: Mohd. Nazri (Malaysia), Thế Toàn (Việt Nam), Kumbalingam (Singapore), Kassim Kadir (Malaysia). Thẻ vàng: Dusit (Thái Lan - 63').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Kiatisuk (Thái Lan).
- Ngày 12/11
Myanmarnmar - Indonesia: 0-5
Ghi bàn: Christiawan 43' 57', Nawawi 70', Yulianto 74' 82'.
Đội hình:
Myanmarnmar: Ko Ko Aung, Soe Myanmart Min, Zaw Linn Tunn, Aung Kyaw Moe, Myo Hlaing Win, Thái Lann Toe Aung (đội trưởng), Min Zaw Oo (Kyaw Min 71'), Min Twin, Zaw Htike, Thet Naing Soe, Aung Kyaw Tun (Min Thu 63').
Indonesia: Adnyana, Budiman (Sofyan 71'), A.Santoso (đội trưởng), Purdjianto, Nawawi, Yulianto, Sakti, Laala, Nahumarury (Bento 78'), Nur'alim, Christiawan.
Trọng tài: Kumbalingam (Singapore), Phonesirignavong (Lào), Pongsathorn (Thái Lan), Thế Toàn (Việt Nam). Thẻ vàng: Nur'alim (Indonesia - 28'), Sakti (Indonesia - 47'), Min Zaw Oo (Myanmar - 56'), Nahumarury (Indonesia - 72').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Christiawan (Indonesia).
Philippines - Thái Lan 0-2
Ghi bàn: Kiatisuk 4', Anurak 14'
Đội hình:
Philippines: Mercado, Nieto (Dona 53'), R.Tonog, Gonzalez, Pinero, N.Fegidero (đội trưởng), de la Cruz, OCampuchiapo, T.Fegidero (Go 81'), Z.Tonog, Sledd (D.Fegidero 73').
Thái Lan: Kittisak, Tanongsak, Nived, Choktawee, Anurak, Therdsak, Tawan, Thái Lanwatchai, Surachai Jaturapattarapong (đội trưởng), Kiatisuk, Woorawut.
Trọng tài: Văn Mùi (Việt Nam), Kassim Kadir (Malaysia), Mohd. Nazri (Malaysia), Ly Ratana (Campuchia). Thẻ vàng: Temperosa (Philippines - 32'). Thẻ đỏ: Voravut (Thái Lan - 34').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Mercado (Philippines).
Bảng B
- Ngày 5/11
* Singapore - Campuchia 2-0
Ghi bàn: Mohd. Rafi Ali 25'
Đội hình:
Singapore: Rezal Hassan, Pradhan (Tan Teng Chuan 77'), Mohd. Rafi Ali, Aide Iskandar, Subramani, Tan Kim Leng (Mohd. Noor Ali 43'), Ahmad Latiff, Indra Sahdan (Hasrin 65'), ZaIndonesial, Mohd. Nazri (đội trưởng), Sharifuddin.
Campuchia: Soun Dara, Chudn Maline (đội trưởng), Ung Kanyanith, Hok Sochetra, Chea Makara, Ieng Saknida, Sarnel Nasa, Kad Nisai, Pros Him (Peas Sothy 87'), Chan Arunreath, Soeur Chanveasna.
Trọng tài: U Tun Hla Aung (Myanmar), U Hla Myint Hla (Myanmar), Andress (Philippines), Soldevilla (Philippines). Thẻ vàng: Indra Sahdan (Singapore - 13'), Soeur Chanveasna (Campuchia - 63'), Chudn Maline (Campuchia - 86'), Mohd. Noor Ali (Singapore - 89'). Thẻ đỏ: Soeur Chanveasna (Campuchia - 79').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Mohd. Rafi Ali (Singapore)
Việt Nam - Malaysia 0-0
Đội hình:
Việt Nam: Minh Quang, Tiến Dũng, Đức Thắng, Đỗ Khải, Hồng Sơn, Công Tuyền (Sỹ Thuỷ 74'), Huỳnh Đức (đội trưởng), Văn Sỹ (Công Minh 80'), Như Thuần, Quan Huy (Minh Hiếu 64'), Quang Hà.
Malaysia: Kamarulzaman, Rajinikandh, Ali Tahar, Ahmad Shahrul (đội trưởng), Maihah (Jaafar 67'), Nizaruddin (Suparman 56'), Suresh Kumar, Anuar Jusoh (Hairuddin 81', Khairil, Rosdi, Azman.
Trọng tài: HanluMyanmarng (Thái Lan), Klienklard (Thái Lan), Sudrajat (Indonesia), Razak (Indonesia). Thẻ vàng: Đỗ Khải (Việt Nam - 69'), Công Minh (Việt Nam - 85').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Đổ Khải (Việt Nam).
- Ngày 7/11:
Malaysia - Lào 5-0
Ghi bàn: Suparman 24' 54', Azman pen 31', Hairuddin 43', Ahmad Shahrul 89'
Đội hình:
Malaysia: Kamarulzaman, Abdul Ghani, Rajinikandh, Ali Tahar, Ahmad Shahrul (đội trưởng), Maihah (Hairuddin 39'), Suparman (Jaafar 73'), Suresh Kumar (Shahruddin 64', Anuar Jusoh, Rosdi, Azman.
Lào: Soulivanh, Khamsay, Vilayphone, Chalana, Bounlap, Saysana (đội trưởng), Bounvong, Keolakhone (Kholadeth 55'), Konesavanh, NitIndonesiay (Thepsouvanh 34'), Khemphet (Sonephet 63').
Trọng tài: Andress (Philippines), Razak (Indonesia), HanluMyanmarung (Thái Lan), U Hla Myint Hla (Myanmarnmar). Thẻ vàng: Sonephet (Lào - 73'), Konesavanh (Lào - 80').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Ahmad Shahrul (Malaysia).
Campuchia - Việt Nam 0-6
Ghi bàn: Lê Huỳnh Đức 16' 80', Nguyễn Văn Sỹ 55', Nguyễn Hồng Sơn 58', Vũ Công Tuyền 74' 86'.
Đội hình:
Campuchia: Soun Dara, Chea Sameth (Rith Dika 81'), Chudn Maline (đội trưởng), Peas Sothy, Ung Kanyanith,
Hok Sochetra, Ieng Saknida, Samel Nasa, Meas Channa (Chea Makara 46'), Kad Nisai, Chan Arunreath (Neang Tithmesa 79').
Việt Nam: Minh Quang, Tiến Dũng, Hoàng Bửu, Đức Thắng (Minh Hiếu 74'), Đỗ Khải (Philippines Hùng 77'), Hồng Sơn, Công Tuyền, Huỳnh Đức (đội trưởng), Văn Sỹ (Quan Huy 72'), Như Thuan, Quang Hà.
Trọng tài: Sudrajat (Indonesia), Soldevilla (Philippines), U Jun Hla Aung (Myanmar), Klienkard (Thái Lan). Thẻ vàng: Chudn Maline (Campuchia - 23'), Công Tuyền (Việt Nam - 60').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Lê Huỳnh Đức (Việt Nam).
- Ngày 9/11
Malaysia - Campuchia 3-2
Ghi bàn: Malaysia - Azman 21', Hairuddin 47', Ahmad Shahrul 62'; Campuchia - Pok ChanThái Lann 74', Hok Sochetra 86'
Đội hình:
Malaysia: Kamarulzaman, Abdul Ghani, Shaharuddin, Rajinikandh, Ali Tahar, Ahmad Shahrul (đội trưởng), Suparman, Anuar Jusoh (Suresh Kumar 81'), Rosdi, Azman (Nizaruddin 61'), Hairuddin (Jaafar 69').
Campuchia: Soun Dara, Chea Sameth, Peas Sothy, Ung Kanyanith, Hok Sochetra (đội trưởng), Ieng Saknida, Samel Nasa, Meas Channa, Kad Nisai (Chea Makara 52'), Chan Arunreath (Pok ChanThái Lann 68'), Soeur Chanveasna.
Trọng tài: Sudrajat (Indonesia), Klienklard (Thái Lan), HanluMyanmarung (Thái Lan), Razak (Indonesia). Thẻ vàng: Nizaruddin (Malaysia - 73'), Ali Tahar (Malaysia - 92').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Hairuddin (Malaysia).
Singapore - Lào 3-0
Ghi bàn: Mohd. Rafi Ali 8', Mohd. Nazri 22', Tan Teng Chuan 90'
Đội hình:
Singapore: Mohd. Yazid YaSingapore, Pradhan, (Tan Teng Chuan 79'), Mohd. Rafi Ali, Aide Iskandar, Subramani, Tan Kim Leng, Ahmad Latiff, ZaIndonesial (Gusta 91'), Mohd. Nazri (đội trưởng), Mohd. Noor Ali, Hasrin (Indra Sahdan 58').
Lào: Soulivanh, Khamsay, Phonepadith, Vilayphone, Chalana, Bounlap, Saysana (đội trưởng) (Thepsouvanh 61'), Bounvong, Keolakhone (Sonesavanh 71'), Khonsavanh, Kholadeth.
Trọng tài: U Tun Hla Aung (Myanmar), U Hla Myint Hla (Myanmar), Andress (Philippines), Soldevilla (Philippines). Thẻ vàng: Thepsouvanh (Lào - 62'), Sonesavanh (Lào - 82'), Mohd. Rafi Ali (Singapore - 85').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Subramani (Singapore)
- Ngày 11/11
Campuchia - Lào 3-0
Ghi bàn: Hok Sochetra 59' 76', Chea Makara 70'
Đội hình:
Campuchia: Soun Dara, Chea Sameth, Peas Sothy, Ung Kanyanith, Hok Sochetra (đội trưởng), Chea Makara, Ieng Saknida (Meas Channa 53'), Samel Nasa, Kad Nisai (Pok ChanThái Lann 57'), Chan Arunreath (Neang Tithmesa 83'), Soeur Chanveasna.
Lào: Soulivanh, Khamsay, Phonepadith, Vilayphone (Bandith 69'), Chalana, Thepsouvanh (Bounvong 72'), Bounlap (Sonesavanh 62'), Saysana (đội trưởng), Keolakhone, Khonsavanh, Kholadeth.
Trọng tài: Andress (Philippines), Soldevilla (Philippines), U Tun Hla Aung (Myanmar), U Hla Myint Hla (Myanmar). Thẻ vàng: Kad Nisai (Campuchia - 54'), Khamsay (Lào - 74').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Hok Sochetra (Campuchia).
Việt Nam - Singapore 1-0
Ghi bàn: Huỳnh Đức 62'
Đội hình:
Việt Nam: Minh Quang, Tiến Dũng, Hoàng Bửu, Đức Thắng (Quan Huy 62'), Đỗ Khải, Hồng Sơn, Công Tuyền (Philippines Hùng 90'), Huỳnh Đức (đội trưởng), Văn Sỹ (Công Minh 84'), Như Thuần, Quang Hà.
Singapore: Rezal Hassan, Mohd. Rafi Ali, Aide Iskandar, Subramani, Tan Kim Leng, Ahmad Latiff, ZaIndonesial (Sharifuddin 88'), Sasikumar (Gusta 85'), Mohd. Nazri (đội trưởng) (Tan Teng Chuan 71'), Mohd. Noor Ali, Hasrin.
Trọng tài: HanluMyanmarng (Thái Lan), Klienklard (Thái Lan), Sudrajat (Indonesia), Razak (Indonesia). Thẻ vàng: Hồng Sơn (Việt Nam - 41), Như Thuần (Việt Nam - 59'), ZaIndonesial (Singapore - 81').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Lê Huỳnh Đức (Việt Nam).
- Ngày 13/11
Malaysia - Singapore 1-0
Ghi bàn: Azman 63'
Đội hình:
Malaysia: Kamarulzaman, Abdul Ghani, Rajinikandh, Ali Tahar, Ahmad Shahrul (đội trưởng), Suparman (Shaharuddin 78'), Nizaruddin (Azman 31'), Suresh Kumar (Maihah 67'), Anuar Jusoh, Rosdi, Hairuddin.
Singapore: Rezal Hassan, Mohd. Rafi Ali, Aide Iskandar (Tan Teng Chuan 68'), Subramani, Tan Kim Leng, Ahmad Latiff, ZaIndonesial (Pradhan 80'), Sasikumar, Mohd. Nazri (đội trưởng), Mohd. Noor Ali (Gusta 35'), Hasrin.
Trọng tài: U Tun Hla Aung (Myanmar), U Hla Myint Hla (Myanmar), Andress (Philippines), Klienklard (Thái Lan). Thẻ vàng: Hasrin (Singapore - 20'), Subramani (Singapore - 25'), Rajinikandh (Malaysia - 38'), Rosdi (Malaysia - 53'), Ahmad Shahrul (Malaysia - 61').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Kamarulzaman (Malaysia).
Lào - Việt Nam 0-5
Ghi bàn: Sỹ Thủy 8', Công Tuyền 18', Văn Sỹ 50', Minh Hiếu 61', Hùng Dũng 88'
Đội hình:
Lào: Soulivanh, Khamsay, Chalana, Thepsouvanh, Bounlap (Keolakhone 71'), Bounvong, Bandith, Khonsavanh, Kholadeth, NitIndonesiay, Khempeth (Phonepadith 65').
Việt Nam: Văn Hạnh, Hùng Dũng, Đức Thắng, Công Tuyền, Như Thuần (Hoàng Bửu 53'), Quan Huy, Quang Hà (Van Sỹ 46'), Minh Hiếu, Công Minh (đội trưởng) (Tiến Dũng 60'), Philippines Hùng, Sỹ Thủy.
Trọng tài: HanluMyanmarng (Thái Lan), Razak (Indonesia), Sudrajat (Indonesia), Soldevilla (Philippines). Thẻ vàng: Bounlap (Lào - 30'), Kholadeth (Lào - 30'), Minh Hieu (Việt Nam - 41'), Thepsouvanh (Lào - 49').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Công Tuyền (Việt Nam).
Bán kết (Bangkok)
- Ngày 16/11
Việt Nam - Indonesia 2-3
Ghi bàn: Việt Nam - Hồng Sơn 45', Công Tuyền 90'; Indonesia - Christiawan 39' 120', Nurdiantara 75'
Đội hình:
Việt Nam: Minh Quang, Tiến Dũng, Hoàng Bửu, Đỗ Khải, Hồng Sơn (Minh Hiếu 81'), Công Tuyền, Huỳnh Đức (đội trưởng), Văn Sỹ (Quang Hà 67'), Như Thuần, Quan Huy (Đức Thắng 46'), Công Minh.
Indonesia: Adnyana, Budiman (P.Santoso 83'), A.Santoso (đội trưởng) (Sofyan 76'), Purdjianto, Nurdiantara, Nawawi, Yulianto, Sakti, Laala, Nur'alim (Suwandi 56'), Christiawan.
Trọng tài: Kumbalingam (Singapore), Kassim Kadir (Malaysia), HanluMyanmarng (Thái Lan), U Hla Myint Hla (Myanmar). Thẻ vàng: Yulianto (Indonesia - 48'), Nawawi (Indonesia - 70'), Sakti (Indonesia - 77'), Hong Son (Việt Nam - 78'), Van Khai (Việt Nam - 117').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Christiawan (Indonesia).
Thái Lan - Malaysia 2-0
Ghi bàn: Kiatisuk 30', Tawan 35'
Đội hình:
Thái Lan: Virat, Tanongsak, Nived, Choktawee, Anurak, Tawan (Chukiat 79'), Surachai Jaturapattarapong (đội trưởng) (Therdsak 70'), Kiatisuk, Surachai Jirasirichote, Seksan (Sutee 76'), Tananchai.
Malaysia: Kamarulzaman, Rajinikandh, Ali Tahar, Ahmad Shahrul (đội trưởng), Maihah, Suresh Kumar (Nizaruddin 39'), Anuar Jusoh, Khairil (Abdul Ghani 65'), Rosdi, Azman, Hairuddin (Shaharuddin 77').
Trọng tài: U Tun Hla Aung (Myanmar), Razak (Indonesia), Mohd. Nazri (Malaysia), The Toan (Việt Nam).
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Tananchai (Thái Lan).
Tranh hạng ba (Bangkok)
- Ngày 18/11
Việt Nam - Malaysia 0-3
Ghi bàn: Rosdi 42', Suparman 59' 90'
Đội hình:
Việt Nam: Văn Hạnh, Tiến Dũng (Hùng Dũng 65'), Hoàng Bửu, Đức Thắng, Công Tuyền, Huỳnh Đức (đội trưởng), Văn Sỹ (Sỹ Thủy 64'), Như Thuần, Quan Huy (Công Minh 61'), Quang Hà, Philippines Hùng.
Malaysia: Azmin Azram, Abdul Ghani, Shaharuddin (Hairuddin 68'), Rajinikandh, Ahmad Shahrul (đội trưởng), Maihah, Suparman, Nizaruddin (Azman 80'), Leong Hong Seng, Jaafar (Anuar Jusoh 54'), Rosdi.
Trọng tài: HanluMyanmarung (Thái Lan), Klienklard (Thái Lan), U Tun Hla Aung (Myanmar), Abdul Razak (Indonesia). Thẻ vàng: Nhu Thuan (Việt Nam - 46'), Huynh Duc (Việt Nam - 56').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Suparman (Malaysia).
Chung kết (Bangkok)
- Ngày 18/11
Thái Lan - Indonesia 4-1
Ghi bàn: Thái Lan - Woorawut 14' 18' 32', Tanongsak 65'; Indonesia - Uston Nawawi 20'.
Đội hình:
Thái Lan: Virat, Tanongsak, Nived, Choktawee, Anurak, Tawan (Therdsak 88'), Surachai Jaturapattarapong (đội trưởng) (Chukiat 76'), Kiatisuk, Voravut (Seksan 63'), Surachai Jirasirichote, Tananchai.
Indonesia: Kartiko, Budiman, Purdjianto (đội trưởng), Suwandi, Nurdiantara (Bento 46'), Nawawi, Yulianto, Laala, P.Santoso (A.Santoso 18' [Nahumarury 65']), Nur'alim, Christiawan.
Trọng tài: Mohd. Nazri (Malaysia), U Hla Myint Hla (Myanmar), Kumbalingam (Singapore), The Toan (Việt Nam). Thẻ vàng: Nived (Thái Lan - 43'), Nur'alim (Indonesia - 56'), A.Santoso (Indonesia - 59'). Thẻ đỏ: Laala (Indonesia - 67').
Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu: Woorawut (Thái Lan).
Những danh hiệu của Tiger Cup 2000
- Cầu thủ xuất sắc nhất: Kiatisuk Senamuang (Thái Lan).
- Fair-Play: Đội tuyển Malaysia.
- Vua phá lưới: Woorawut Srimaka (Thái Lan) và Gendut Doni Christiawan (Indonesia) cùng được 5 bàn thắng.
Tiger Cup 2002
Vòng bảng
Bảng A
- Ngày 15/12:
Indonesia - Myanmarnmar 0-0
Đội hình:
Indonesia: Hendro Kartiko [c], Isnan Ali, Aples Gideon Tecuari, Sugiyantoro, Elie Aiboy, ZaIndonesial Arif, Supriyono, Imran Nahumaray (Budi Sudarsono 76'), Hary Syaputra (Amir Yusuf 70'), Nur Alim, Bambang Pamungkas (Gendut Doni Christiawan 73'). HLV: Ivan Kolev (Bulgaria).
Myanmarnmar: Aung Aung Oo, Min Thu, Zaw Lynn Tun, Soe Myanmart Min [c], Soe Lin Tun, Lwin Oo, Aung Kyaw Moe (San Muang 89'), Yan Paing (Kyaw Soe O0 76'), Zaw Zaw (Zaw Htaik 62'), Htay Aung, Tint Naing Tun Thein. HLV: David Booth (Anh).
Thẻ vàng: Indonesia: Hary Syaputra (27'), Aples Gideon Tecuari (59'); Myanmarnmar: Htay Aung (8'), Tint Naing Tun Thein (55').
Việt Nam - Campuchia 9-2
Ghi bàn: Việt Nam - Huỳnh Hồng Sơn 11', Trần Trường Giang 16', 40', Nguyễn Quốc Trunng 24', Lê Huỳnh Đức 63', 80', Nguyễn Minh Phương 75', Trịnh Xuân Thành 88', Phạm Văn Quyến 90'; Campuchia - Hok Sochetra 31', Ung Kanyanith 58'.
Đội hình:
Việt Nam: Trần Minh Quang, Nguyễn Huy Hoàng, Phạm Hùng Dũng (Phạm Văn Quyến 46'), Nguyễn Đức Thắng (Phạm Minh Đức 62'), Nguyen Văn Sỹ, Huỳnh Hồng Sơn (Trịnh Xuân Thành 46'), Lê Huỳnh Đức [c], Nguyen Minh Phương, Nguyễn Quốc Trung, Trần Trường Giang, Phan Văn Tài Em.HLV: Henrique Calisto (BĐN).
Campuchia: Oum Chandara, Chea Sameth, Soueur Chanveasna, Peas Sothy, Kao Nisai (Chek Sokhom 65'), Kim Chanburith, Ieng Saknida, Hok Sochetra [c] (Hok Sochivorn 77'), Samel Nasa, Meas Channa (Hok Sotitia 72'), Ung Kanyanith. HLV: Joachim Fickert (Đức).
Thẻ vàng: Việt Nam: Phạm Hùng Dũng (21'), Nguyễn Đức Thắng (43'), Nguyễn Minh Phương (79'); Campuchia: Peas Sothy (18', 39'), Hok Sochetra (38').
- Ngày 17/12:
Philippines - Myanmarnmar: 1-6
Ghi bàn: Philippines - Alfredo Gonzales 81'; Myanmarnmar - Aung Kyaw Moe 18', 52', Zaw Htaik 35', Soe Lin Tun 45', Zaw Zaw 56', Tint Naing Tun Thien 63'.
Đội hình:
Philippines: Edmundo Flores Mercado Jr, Wilson De La Cruz, Leo Jaena, Billy Estrella (Alvin OCampuchiapo 70'), Roel Gener, Ziggy Tonog, Ali Go, Dan Padernal (Marjo Allado 29'), Jimmy Dona (Alfredo Gonzalez 55'), Joshua Fegiderdo, Mark Villon.
Myanmarnmar: Aung Aung Oo (Hein Zayar Kyaw 66'), Min Thu, Zaw Lynn Tun-2, Soe Lin Tun, Min Min Aung, Lwin Oo, Aung Kyaw Moe, Yan Paing (Zaw Htaik 35'), Zaw Zaw, Htay Aung, Tint Naing Tun Thein (San Maung 71').
Thẻ vàng: Philippines: Leo Jaena (7'), Billy Estrella (42').
Indonesia - Campuchia: 4-2
Ghi bàn: Indonesia - ZaIndonesial Arif 35', Bambang Pamungkas 58', 79', 80'; Campuchia - Hok Sochetra 15', 45'.
Đội hình:
Indonesia: Hendro Kartiko [c], Isnan Ali, Aples Gideoan Tecuari (Firmansyah 46'), Sugiyantoro, Elie Aiboy (Gendut Christiawan 55'), ZaIndonesial Arif, Supriyono (Agung Setyobudi 50'), Jaris Riyadi, Amir Yusuf, Nur Alim, Bambang Pamungkas.
Campuchia: Ouk Mic, Chek Sokhom, Chea Sameth, Soeur Chanveasna, Kao Nisai, Kim Chanburith, Ieng Saknida, Hok Sochetra (Hok Sotitya 64'), Sam El Nasa, Meas Channa, Ung Kanyanith (Hok Sochivorn 74').
Thẻ vàng: Indonesia - Aples Gideon Tecuari (25'), Isnan Ali (76'); Campuchia - Souer Chanveasna (69', 81'), Hok Sotitya (90')
- Ngày 19/12
Myanmarnmar - Campuchia 5-0
Ghi bàn: Zaw Zaw 47', Lwin Oo 57', 77', Zaw Htaik 69', Tint Naing Tun Thien 83'
Đội hình:
Myanmarnmar: Aung Aung Oo, Min thu, Zaw Lynn Tun, Soe Myanmart Min, Soe Lin Tun (Khin Maung Tun 84'), Lwin Oo, Aung Kyaw Moe, Yan Paing (Zaw Zaw 35'), Htay Aung, Tint Naing Tun Thein, Zaw Htaik (Kyaw Soe Oo 70').
Campuchia: Ouk Mic, Chek Sokhom, Chea Sameth (Hok Sochivorn 54'), Peas Sothy (Sun Sampratna 55'), Kao Nisai, Kim Chanburith, Ieng Saknida, Hok Sochetra [c], Sam El Nasa (Tes Sophat 74'), Meas Channa, Ung Kanyanith.
Thẻ vàng: Myanmarnmar: Min Thu (38'); Campuchia: Hok Sochetra (19'), Kao Nisai (65').
Việt Nam - Philippines 4-1
Ghi bàn: Việt Nam - Huỳnh Hồng Sơn 60', 72', Lê Huỳnh Đức 68'pen, 79'; Philippines - Richard Canedo 71'
Đội hình:
Việt Nam: Tran Minh Quang, Pham Như Thuần, Nguyễn Huy Hoàng, Huỳnh Hồng Sơn, Lê Huỳnh Đức (Đặng Phương Nam 79'), Nguyễn Minh Phương, Triệu Quang Hà, Nguyen Quốc Trung, Phạm Minh Đức (Trần Trường Giang 45'), Phan Văn Tài Em (Ngô Quang Trường 69'), Trịnh Xuân Thành.
Philippines: Edmundo Mercado Jr, Wilson De La Cruz, Leo Jaena, Roel Gener, Ziggy Tonog, Alvin OCampuchiapo, Alfredo Gonzalez, Ali Go (Jimmy Dona 75'), Dan Padernal (Marjo Allado 78'), Joshua Fegiderdo (Richard Canedo 58'), Mark Villon.
- Ngày 21/12
Campuchia - Philippines 1-0
Ghi bàn: Ung Khanyanith 90'
Đội hình:
Campuchia: Ouk Mic, Chek Sokhom, Chea Sameth (Hok Sochivorn 46'), Souer Chanveasna, Kao Nisai (Chan Rithy 84'), Kim Chanburith, Ieng Saknida [c], Hok Sotitya (Tes Sophat 79'), Sam El Nasa, Meas Channa, Ung Kanyanith.
Philippines: Edmundo Mercado, Wilson de la Cruz, Roel Gener (Jeffrey Liman 46'), Ziggy Tonog, Alvin OCampuchiapo, Alfredo Gonzalez [c], Ali Go, Richard Canedo, Dan Padernal (Ian Araneta 62'), Joshua Fegidero, Mark Villon.
Thẻ vàng: Philippines- Ali Go (66'), Ziggy Tongo (83').
Indonesia - Việt Nam 2-2
Ghi bàn: Indonesia - Budi Sudarsono 12', ZaIndonesial Arief 83'; Việt Nam - Phan Văn Tài Em 53', Lê Huỳnh Đức 59'.
Đội hình:
Indonesia: Hendro Kartiko, Agung Setyobudi, Isnan Ali (ZaIndonesial Arif 83'), Sugiyantoro, Firmansyah, Budi Sudarsono (ZaIndonesial Ichwan 61'), Indra Putro, Gede Swisantoso, Amir Yusuf (Supriyono 90'), Nur Alim, Bambang Pamungkas, Gendut Doni Christiawan.
Việt Nam: Trần Minh Quang, Nguyễn Huy Hoàng, Lương Trung Tuấn (Phạm Hùng Dũng 79'), Nguyễn Đức Thắng, Huỳnh Hồng Sơn, Lê Huỳnh Đức, Nguyễn Minh Phương, Triệu Quang Hà (Trịnh Xuân Thành 32'), Nguyễn Quốc Trung, Trần Trường Giang (Đặng Phương Nam 76'), Phan Văn Tài Em.
Trọng tài: Salleh Subkhiddin. Thẻ vàng: Indonesia: Isnan Ali (15'), Indra Putra Swisantoso (51'), Gendut Doni Christiawan [R 80'], Nur Alim (90'); Việt Nam: Lê Huỳnh Đức (38'), Nguyễn Minh Phương (73'), Lương Trung Tuấn (75'), Đặng Phương Nam ( 89')
- Ngày 23/12
Myanmarnmar - Việt Nam 2-4
Ghi bàn: Myanmarnmar - Lwin Oo 30', Htay Aung 80'; Việt Nam - Trịnh Xuân Thành 38', Đặng Phương Nam 48', 66', Lê Huỳnh Đức 72' (11m).
Đội hình:
Myanmarnmar: Aung Aung Oo, Min Thu, Zaw Lyn (Zaw Zaw 54'), Soe Myanmart Min, Soe Lin Tun (Kyaw Soe Oo 62'), Lwin Oo, Aung Kyaw Moe, Yan Paing, Htay Aung, Tint Naing Tun Thein, Zaw Htaik.
Việt Nam: Trần Minh Quang, Nguyễn Huy Hoàng, Lương Trung Tuấn, Nguyễn Đức Thắng, Huỳnh Hồng Sơn (Ngô Quang Trường 57'), Lê Huỳnh Đức, Triệu Quang Hà (Đặng Phương Nam 35'), Nguyễn Quốc Trung, Trần TRường Giang, Phan Văn Tài Em (Phạm Hùng Dũng 79'), Trịnh Xuân Thành.
Trọng tài: SanThái Lann Nagalingham (Singapore). Thẻ vàng: Myanmarnmar: Yan Paing (30'), Lwin Oo (59', 86'), Htay Aung (67'), Tint Naing Tun Thein (Y 74'); Việt Nam: Ytiệu Quang Hà (10'),, Trịnh Xuân Thành (56').
Indonesia - Philippines 13-1
Ghi bàn: Indonesia - Bambang Pamungkas 1', 29', 35', 82', ZaIndonesial Arif 6', 38', 41', 57', Budi Sudarson 16', Sugiyantoro 55', 75', Imran Nahumarury 81', Solomon Licuanan 88'/phản lưới; Philippines - Ali Go 78'.
Đội hình:
Indonesia: Hendro Kartiko, Agung Styobudi, Sugiyantoro, Firmansyah, ZaIndonesial Arif, Supriyono, Budi Sudarsono (ZaIndonesial Ichwan 73'), Indra Putro Gede Swisantoso (Jaris Riadhi 65'), Amir Yusuf (Imran Nahumarury 39'), Nur Alim, Bambang Pamungkas.
Philippines: Alvin Montanez, Wilson de la Cruz, Ziggy Tonog (Neil CalIndonesiawagan 32'), Alvin OCampuchiapo, Alfredo Gonzalez, Ali Go, Dan Padernal (Ian Araneta 59'), Solomon Licuanan, Joshua Fegidero (Richard Canedo 81'), Mark Villon, Jeffrey Liman.
Trọng tài: Virat KhanThái Lanchai (Thái Lan). Thẻ vàng: Indonesia - Agung Setyobudi (11'); Philippines - Joshua Fegidero (6'), Dan Padernal (47'), Ian Araneta (66'), Solomon Licuanan (70'), Neil CalIndonesiawagan (90+1').
Bảng B
- Ngày 18/12
Người Thái đăng quang lần thứ 3.
Thái Lan - Lào 5-1
Ghi bàn: Thái Lan - Worrawut Srimaka 1', 24', Kiatisuk Senamuang 8', 83', 90'; Lào - Visay Phaphouvann 66'.
Đội hình:
Thái Lan: Kittisak Rawangpa, Thái Lannongsak Pajakkata, Wittaya Nabthong, (Peeratat Phoruandee 59'), Chukiat Noosalung, Terdsak Chaiman, Surachai Jaturapattarapong, Kiatisuk Senamuang [c], Worrawoot Srimaka (Narongchai Vachiraban 66'), Issawa Singaporegtong, Dusit Chalermsan, Tanachai Boriban (Phaitoon Thiabma 75').
Lào: Vanhnasith Thilavongsa, Anousone Khothsombuth, Vilayphone Sayyavong (BounThái Lanvy Khamphouvanh 49'), Chalana Luang-amath [c], Ananh Thepsouvanh, ValaSingaporee Dalaphone, Visay Phaphouvanin, Soubiah Keophet (Kholadeth Phonepachan 80'), Nithsavong Khounphachan, Phayvanh Luanglath (Soutsalhone Vongsamany 29'), Chanthy Souksombuth.
Trọng tài: Vijay Rahmanvijay (Singapore). Thẻ vàng: Thái Lan - Surachai Jaturapattarapong (32'), Wittaya Nabthong (46'); Lào- Ananh Thepsouvanh (78').
Singapore - Malaysia 0-4
Ghi bàn: Akmal Rizal Ahmad Rakhli 30', Indra Putra Mahayuddin 49', 65', Mohd Nizaruddin Yusoff 69')
Đội hình:
Singapore: Sharil Jantan,, Mohd Noh Rahman, S. Subramani, Daniel Bennett, Mohd Noor Mohd Ali, Zulkarnaen ZaIndonesial, (Aide Iskandar Sahak 46') , Mohd Nazri Nasir [c], Abdul Latiff Khamarudin (Mohd Rafi Mohd Ali 46'), Rudy Khairon Daiman (Indra Sahdan Daud 67'), Mohd Noh Alam Shah Kamaruzanam, Egmar Goncalves.
Malaysia: Azmin Azram Abdul Aziz, Subri Sulong, Norhafiz Zamani Misbah, Muhamad Kaironnisam Sahabudin Hussain, Rosdi Talib, Indra Putra Mahyuddin (Chan Wing Hoong 88'), Tengku Hazman Raja Hassan [c], K. NaThái Lankumar, Eddy Helmi Abdul Manan (Mohd Fadli Saari 66'), Hairuddin Omar (Mohd Nizaruddin Yusoff 58'), Akmal Rizal Ahmad Rakhli.
Trọng tài: Lee Young-chun (South Korea). Thẻ vàng: Malaysia -Tengku Hazman Raja Hassan (25').
- Ngày 20/12
Thái Lan - Malaysia 1-3
Ghi bàn: Thái Lan - Therdsak Chaiman 23'; Malaysia - Rizal Ahmad Rakhli 45', Tengku Hazman Raja Hassan 66', Indra Putra Mahayuddin 86'.
Đội hình:
Thái Lan: Kittisak Rawangpa, Thái Lannongsak Pajakkata, Preeratat Phouruandee, Narongchai Vachiraban, Chukiat Noosalung (Sutee Sukomkit 83'), Terdsak Chaiman, Manit Noyvach (Worawoot Srimaka 66'), Sakda Joemdee, Kiatisuk Senamuang, Phaitoon Tiabma, Satid Mukkratok (Dusit Chalermsan 42').
Malaysia: Azmin Azram Abdul Aziz, Subri Sulong, Norhafiz Zamani Misbah, Eddy Helmi Abdul Manan, Muhamad Khaironnisam Sahabudin Hussain, Indra Putra Mahyuddin, Akmal Rizal Ahmad Rakhli (Irwan Fadli Idrus 79'), Tengku Hazman Raja Hassan, Rosdi Talib, Mohd Nizaruddin Yusoff (Zainizam Marja 73'), K. NaThái Lankumar (Juzaili Samion 62').
Trọng tài: Lương Thế Tài (Myanmarnmar). Thẻ vàng: Thái Lan: Tersak Chaiman (4'), Narongchai Vachiraban (52'), Sakda Joemdee (57', 78'), Chukiat Noosalung (81'); Malaysia - K NanThái Lankumar (58'), Subri Sulong (62'), Muhamad Khaironnisam (79').
Singapore - Lào 2-1
Ghi bàn: Singapore - Mohd Noh Alam Shah 6', Mohammed Noor Ali 52'; Lào - Visay Phapouvann 19'
Đội hình:
Singapore: Sharil Jantan,, Mohd Noh Rahman, Mohd Rafi Mohd Ali (Rudy Khairon Daiman 76'), S. Subramani, Mohd Noh Alam Shah Kamaruzanam (Nazri Nasir 66'), Zulkarnaen ZaIndonesial, A. Sivakumar, Goh Tat Chuan, Daniel Bennett, Mohd Noor Mohd Ali, Mohd Fadzuhasny Juraimi (Indra Sahdan 55').
Lào: Vanhnasith Thilavongsa, Anousone Khothsombuth, Chalana Luang-Amath, Ananh Thepsouvanh, ValaSingaporee Dalaphone, Souksayanh Phengsengsay, Visay Phaphouvann, Nithsavong Khounphachan, Sengphet Thongmachan (BounThái Lanvy Khamphouvanh 58'), Soutsakhone Vongsamany 80'), Kholadeth Phonepachan (Soubiah Keophet 59'), Chanthy Souksombuth.
Trọng tài: Midi Nitrorejo Setiyono (Indonesia). Thẻ vàng: Singapore - Goh Tat Chuan (13', 56'); Lào- Visay Phapouvann
- Ngày 22/112
Malaysia - Lào 1-1
Ghi bàn: Malaysia - Mohamad Nizam Jamil 27'/11m; Lào - Visay Phapouvann 29'
Đội hình:
Malaysia: Mohamad Syamsuri Mohamed Mustafa, Subri Sulong (K NanThái Lanjukmar 52'), Victor Andrag, Chan Wing Hoong, Mohd Nizam Jamil, Irwan Fadli Idrus, Muhamad Kaironnisam Sahabudin Hussain [c], Zanizam Marjan, Muhammad Juzaili Saimon (Tengku Hazman Raja Hassan 71'), Mohd Fadli Saari (Eddy Helmi Abdul Manan 46'), Mohd Nizaruddin Yusoff.
Lào: Vanhnasith Thilavongsa, Anousone Khothsombath, Vilayphone Sayyavong, Chalana Luang-Amath [c], Ananh Thepsouvahn, ValaSingaporee Dalaphone, Souksayanh Phengsengsay, Visay Phapouvann, Nithsavong Khounphachan (Soutsakhone Vongsamany 89'), Sengphet Thongmachan (Chanthy Sousombath 88'), Kholadeth Phonepachan (Soubiah Kephet 71').
Trọng tài: Lee Young-chun (South Korea). Thẻ vàng: Malaysia: Mohd Nizaruddin Yusoff (34'), Irwan Fadli Idrus (63').
Singapore - Thái Lan 1-1
Ghi bàn: Singapore - Mohammed Noor Ali 44', Thái Lan - Worrawut Srimaka 15'
Đội hình:
Singapore: Sharil Jantan, S Subramani (Aide Iskandar 49'), Mohd Nazri Nasir [c], Egmar Goncalves, Zulkarnen ZaIndonesial (Mohd Rafi Ali 74'), A Sivakumar, Rudy Khairon, Daniel Bennett, Ahmad Latiff Khamarudin (Mohd Noh Alam Shah 35'), Mohd Noor Ali, Mohd Fadzuhasny Juraimi.
Thái Lan: Kittisak Rawangpa, Thái Lannongsak Pajakkata, Peeratat Phouruandee, Chukiat Noosalung (Narongchai Vachiraban 67'), Terdsak Chaiman, Surachai Jaturapattarapong [c], Worrawut Srimaka (Manit Noyvach 80'), Pahitoon Thiabma, Issawa Singaporegtong, Dusit Chalermsan, Sutee Sukonkit (Kiatisuk Senamuang 74').
Trọng tài: Jerry Anders (Philippines). Thẻ vàng: Singapore - Mohd Nazri Nasir (77'), Mohd Noh Alam Shah (90+1'; Thái Lan - Dusit Chalermsan (62').
Bán kết
Ngày 27/12
Việt Nam - Thái Lan 0-4
Ghi bàn: Worrawut Srimaka 24', Narongchai Vachiraban 42', Manit Noyvach 75', Sakada Joemdee 90'
Đội hình:
Việt Nam: Trần Minh Quang, Nguyễn Huy Hoàng (Phạm Hùng Dũng 36'), Lương Trung Tuấn, Nguyễn Đức Thắng, Huỳnh Hồng Sơn (Phạm Văn Quyến 46'), Lê Huỳnh Đức, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Quốc Trung, Ngô Quang Trường (Đặng Phương Nam 46'), Trần Trường Giang, Phan Văn Tài Em.
Thái Lan: Kittisak Rawangpa, Thái Lannongsak Pajakkata, Preeratat Phouruandee, Narongchai Vachiraban, Chukiat Noosalung, Terdsak Chaiman (Sakda Joemdee 85'), Kiatisuk Senamuang (Sutee Sukomkit 77'), Worrawut Srimaka (Manit Noyvach 63'), Phaitoon Tiabma, Issawa Singaporegtong, Dusit Chalermsan.
Thẻ vàng: Việt Nam - Phạm Hùng Dũng (54').
Indonesia - Malaysia 1-0
Ghi bàn: Bambang Pamungkas 75'
Đội hình:
Indonesia: Hendro Kartiko, Agung Setyobudi, Sugiyantoro, Firmansyah, ZaIndonesial Arif, Supriyono (Aples Gideon Tecuari 89'), Budi Sudarsono, Indra Putro Gede Swisantoso, Amir Yusuf (Hary Syaputra 80'), Nur Alim, Bambang Pamungkas (Imran Nahumarury 88').
Malaysia: Azmin Azram Abdul Aziz, Subri Sulong, Norhafiz Zamani Misbah, Eddy Helmi Abdul Manan, Hairuddin Omar, Muhamad Khaironnisam, Sahabudin Hussain, Indra Putra Mahyuddin, Akmal Rizal Ahmad Rakhli, Tengku Hazman Raja Hassan (Mohd Nizaruddin 81'), Rosdi Talib, K. NaThái Lankumar.
Trọng tài: Ebrahim Abdulhamid. Thẻ vàng: Indonesia - Supriyono (44'); Malaysia - Mohd Khaironnisam (45').
Tranh hạng ba
Việt Nam - Malaysia 2-1
Ghi bàn: Việt Nam - Trần Trường Giang 45', Nguyễn Minh Phương 59'; Malaysia - Indra Putra Mahayuddin 55'.
Đội hình:
Việt Nam: Trần Minh Quang, Phạm Hùng Dũng, Lương Trung Tuấn, Huỳnh Hồng Sơn, Lê Huỳnh Đức [c], Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Quốc Trung, Phạm Minh Đức (Nguyễn Huy Hoàng 76'), Trần Trường Giang (Ngô Quang Trường 82'), Phan Văn Tài Em, Trịnh Xuân Thành (Đặng Phương Nam 73').
Malaysia: Azmin Azram Abdul Aziz, Subri Sulong (Victor Andrag 46'), Norhafiz Zamani Misbah, Eddy Helmi Abdul Manan (Mohd Fadzli Shaari 46'), Hairuddin Omar (Nizaruddin Yusoff 62'), Muhamad Khaironnisam, Sahabudin Hussain, Indra Putra Mahyuddin, Akmal Rizal Ahmad Rakhli, Tengku Hazman Raja Hassan, Rosdi Talib, K. NaThái Lankumar.
Trọng tài: Midi Setiyono (Indonesia). Thẻ vàng: Việt Nam - Phan Văn Tài Em (87'); Malaysia - Tengku Hazman Raja Hassan (18')
Chung kết
- Ngày 29-12
Indonesia - Thái Lan 2-2 (Thái Lan thắng 4-2 bằng thi đá 11m).
Ghi bàn: Indonesia - Jaris Riyadi 46', Gendut Christiawan 79'; Thái Lan - Chukiat Noosalung 26', Therdsak Chaiman 38'.
Đội hình:
Indonesia: Hendro Kartiko, Agung Setyobudi (ZaIndonesial Arif 62'), Isnan Ali (Aples Gideon Tecuari 43'), Sugiyantoro, Firmansyah, Budi Sudarsono (Imran Nahumarary 46'), Indra Putro Gede Swisantoso, Jaris Riadi, Nur Alim, Bambang Pamungkas, Gendut Doni Cristiawan.
Thái Lan: Kittisak Rawangpa, Thái Lannongsak Pajakkata, Preeratat Phouruandee, Narongchai Vachiraban, Chukiat Noosalung, Terdsak Chaiman, Kiatisuk Senamuang, Worrawut Srimaka (Wittaya Nabthong 60'), Pahitoon Thiabma, Issawa Singaporegtong (Sakda Joemdee), Dusit Chalermsan.
Trọng tài: Salleh Subkhiddin (Malaysia). Thẻ vàng: Indonesia - Gendut Doni Christiawan (57'), Agung Setyobudi (59'), Imran Nahumarury (60'), Firmanshay (96'); Thái Lan - Kiatisuk Senamuang (41'), Issawa Singaporegtong(54'), Chukiat Noosalung (57'), Kittisak Rawangpa (118').
Sút luân lưu:
Thái Lan: Kiatisuk Senamuang, Sakda Joemdee, Terdsak Chaiman, Manit Noyvach, Dusit Chalermsan.
Indonesia: Bambang Pamungkas, Sugiyantoro (hỏng), Firmansyah (hỏng), Imran Nahumarury.
JakeSatan
30-11-2004, 15:57
Worldcup Pháp 1938
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363537_1938.jpg
Giải bóng đá thế giới lần thứ ba được tổ chức ở Pháp khi nguy cơ của một cuộc chiến tranh đang bao phủ khắp Châu Âu và những vấn đề về chính trị đã trở thành rào cản đối với một số đội bóng hàng đầu thế giới.
Cuộc nội chiến diễn ra ác liệt ở Tây Ban Nha, Áo sát nhập vào Đức và cả châu Âu đang dần kéo vào vòng xoáy của một cuộc chiến tranh khốc liệt và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại đã khiến cho vòng chung kết lần này có một số sự kiện đáng chú ý.
Đội tuyển Áo mặc dù đã giành được vé tham dự World Cup nhưng đã không thể có mặt và điều này đã khiến cho cầu thủ số một của đội tuyển Áo, Mathias Sinderla, uất ức tự tử ngày 22-1-1939. Trong khi đó 1 lần nữa, 2 cường quốc bóng đá Nam Mỹ là Argentina và Uruguay lại tẩy chay vòng chung kết lần này vì họ cho rằng World Cup 1938 lẽ ra phải được tổ chức ở Argentina chứ không phải là ở châu Âu.
Để chuẩn bị cho giải, người Pháp đã cho mở rộng SVĐ Stade de Colombes cùng với những sân vận động ở thành phố Bordeaux và Marseille. Và lần đầu tiên nước chủ nhà và đội đương kim vô địch được vào thẳng vòng chung kết.
Ngày 5-6, trên SVĐ Meinau tại thành phố Strasbourg nước Pháp, dưới trời mưa tầm tã, hơn 20.000 khán giả đã được chứng kiến 1 trận đấu được coi đẹp nhất mọi thời đại giữa 2 đội tuyển Brazil và Ba Lan cùng với số bàn thắng kỷ lục: 11 bàn và kết quả chung cuộc đội tuyển Brazil đã giành thắng lợi với tỷ số 6-5, trong đó có 4 bàn thắng do công của tiền đạo Leonidas với biệt danh Viên kim cương đen.
Một tuần sau tại Bordeaux, Brazil đã gặp đội Tiệp Khắc - á quân World Cup 34. Trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1, và tác giả bàn thắng của Brazil không ai khác ngoài Leonidas. Nhưng, đây lại là trận đấu của bạo lực với gần 50 lần tiếng còi của trọng tài vang lên do những pha vào bóng thô bạo, 3 cầu thủ đã bị đuổi khỏi sân và 5 cầu thủ khác bị thương trong đó 2 người đã phải vào viện do bị gẫy chân.
Bước vào vòng tứ kết, toàn bộ nước Pháp đã hi vọng rất nhiều vào đội bóng con cưng khi tại trận đấu trước đó, đội tuyển Pháp đã dễ dàng giành thắng lợi trước đội Bỉ với tỉ số 3-1 với sự nổi bật của hậu vệ cánh phải Fred Aston có biệt danh ''ma trơi''. Nhưng thật không may mắn cho 58.455 cổ động viên Pháp ngồi chật cứng ở SVĐ Yves-du-Manoir ở Colombes, một thành phố gần Paris để xem trận tứ kết, Pháp đã bại trận trước Italia với tỉ số 1-3. Không giống như Uruguay và Italia ở hai giải bóng trước, Pháp, nước chủ nhà, đã không thể giành được cúp vàng ngay trên đất nước mình.
Còn tại trận bán kết giữa Ý và đội tuyển Brazil, có lẽ nhiều người sẽ mãi không thể nào quên được sai lầm nghiêm trọng và khó hiểu của HLV đội tuyển Brazil. Ông Adheniar Pimenta đã để 2 cầu thủ chủ chốt, trong đó có tiền đạo tài năng Leonidas ngồi ghế dự bị, và sai lầm này đã khiến Brazil phải trả giá, đội Ý đã dễ dàng dẫn trước 2-0, và Romeo chỉ kịp ghi bàn thắng danh dự cho đội tuyển Brazil khi trận đấu chỉ còn 3 phút.
Giải thích trước giới báo chí về quyết định của mình, HLV Pimenta đã nói: ''Tôi nghĩ điều này sẽ giúp cậu ấy có thời gian nghỉ ngơi để dành sức cho trận chung kết''. Nhưng những lời giải thích đó đã không thể nào làm nguôi sự tiếc nuối của hàng triệu người Brazil khi một lần nữa họ lại được chứng kiến sự tỏa sáng của tiền đạo Leonidas khi cầu thủ này ghi liền 2 bàn thắng giúp đội tuyển Brazil giành thắng lợi chung cuộc với tỷ số 4-2 trong trận tranh ba tư trước đội tuyển Thụy Điển.
Trong trận chung kết, Meazza và Ferrari, cặp tiền đạo xuất sắc của vòng chung kết đã hoàn thành một giải đấu thành công của đội tuyển Italy với 4 bàn thắng vào lưới đội tuyển Hungary, giành thắng lợi với tỷ số 4-2. Đội Ý đã đi vào lịch sử bóng đá như là một trong những đội bóng vĩ đại nhất của thời đại.
Nhưng thế chiến II đã nổ ra chỉ 1 năm sau đó, khiến cho VCK phải lỡ hẹn đến 12 năm trời sau đó và đã tước đi một thế hệ những cầu thủ Ý tài năng có lẽ còn có thể gặt hái được chiến thắng lẫy lừng hơn thế.
Hành trình
Vòng bảng Gồm 15 đội tuyển: Bỉ, Brazil, Cuba, Tiệp Khắc, Pháp, Đức, Hà Lan, Hungary, Italia, Na Uy, Ba Lan, Rumania, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Đông Ấn
Bán kết Hungary - Thuỵ Điển 5-1
Italia - Brazil 2-1
Chung kết Italia - Hungary 4-2
Đội hình hai đội
Italia: Olivieri - Foni, Rava - Serantoni, Andreolo, Locatelli - Biavati,
Meazza, Piola, Ferrari, Colaussi.
Hungary: Szabo - Polgar, Biro - Szalay, Szucs, Lazar - Sas, Vincze,
Sarosi, Zsengeller, Titkos
Ghi bàn: 1:0 Colaussi 6, 1:1 Titkos 8, 2:1 Piola 16, 3:1 Colaussi 35, 3:2 Sarosi 70,
4:2 Piola 85
JakeSatan
30-11-2004, 16:31
Worldcup Brazil 1950
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363599_1950.jpg
Trong suốt Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Phó Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Ý, ông Ottorino Barassi, đã phải giấu chiếc Cúp, biểu tượng của bóng đá World Cup, ở trong hộp để giầy dưới gầm giường để tránh không cho nó rơi vào tay của quân phát xít.
Tại vòng chung kết lần này, vòng đấu loại đã trở thành một trò khôi hài khi một số đội bóng ban đầu giành được vé tham dự vòng chung kết nhưng lại rút ra và do đó một số đội bị loại lại được gọi vào vòng chung kết. Còn đội Ấn Độ vào những phút cuối cùng đã rút lui khỏi giải đấu chỉ vì FIFA không cho họ đá bóng bằng chân đất. Vì vậy, cuối cùng chỉ có 13 đội tham gia vào vòng chung kết lần này.
Còn tại vòng đấu bảng đã có một số bất ngờ khi đội Mỹ đánh bại Anh với tỉ số 1-0 ở Belo Horizonte và đội bóng nghiệp dư của Thụy Sĩ hạ gục Ý với tỉ số 3-2 ở Sao Paulo.
Đại hội FIFA đầu tiên sau thế chiến 2 đã được tổ chức vào ngày 25/7/1946 ở Luxembourg mang tính lịch sử vì nhiều lý do. Trước hết, để tỏ lòng tôn kính đối với ông Chủ tịch FIFA, người mà trong suốt những năm chiến tranh đã làm mọi việc trong khả năng của mình để giữ cho tinh thần của bóng đá không bị diệt vong, chiếc cúp biểu tượng của World Cup từ đó trở đi đã được mọi người biết đến là chiếc Jules Rimet Cup.
Đại hội này cũng đã báo trước việc trở lại của liên minh Anh (vắng mặt kể từ năm 1929). Tuy nhiên, chính Liên đoàn bóng đá Brazil với đội bóng của họ đã có ảnh hưởng lớn đến giải FIFA World Cup năm 1938, được trao trọng trách tổ chức giải World Cup tới dự định vào năm 1950.
Bóng đá ở Brazil trở nên phổ biến đến mức chính phủ Brazil đã quyết định xây dựng một SVĐ lớn nhất thế giới với sức chứa 220 nghìn người, ở ngoại ô của thủ đô Rio de Janeiro để phục vụ cho vòng chung kết lần này. Công việc xây dựng được khởi công vào ngày 2/8/1948. Tuy nhiên thời gian để hoàn thành đã phải lui lại nhiều so với thời gian dự kiến. 5 tuần trước khi giải bóng bắt đầu, những nhà tổ chức của Brazil vẫn chưa thể hoàn thành công tác chuẩn bị.
Đứng trước tình hình đó, FIFA đã quyết định cử ông Ottorino Barassi, lúc này là chủ tịch Liên đoàn bóng đá Italia, người đã tổ chức thành công World Cup 1934, sang giúp đỡ LĐBĐ Brazil và cuối cùng vào ngày 24/6/1950, sân vận động Maracana đã chính thức khánh thành mặc dù trông vẫn giống như một bãi xây dựng và chưa có khán đài. Nhưng SVĐ này đã sẵn sàng đăng cai cho 13 đội thi đầu ở vòng chung kết. Các đội được chia làm 4 bảng (hai bảng 4 đội và 2 bảng 3 đội).
Sau chiến thắng chẳng mấy khó khăn trước Mexico với tỉ số 4-0, đội Brazil lại gây thất vọng cho khán giả nhà khi họ để hòa 2-2 với Thụy Sĩ. Trong khi đó, Nam Tư, đội đã giành được thắng lợi 2 trận đầu, chỉ cần thủ hòa với Brazil là đã có thể lọt vào vòng trong. Nhưng trước sự cổ vũ nồng nhiệt của 150.000 cổ động viên ở SVĐ Maracana, Brazil đã đánh bại Nam Tư với tỉ số 2-0 và giành quyền vào vòng trong với ba đội khác là: Tây Ban Nha, Uruguay và Thụy Sĩ.
Tại vòng này, 4 đội sẽ thi đấu với nhau theo thể thức vòng tròn 1 lượt tính điểm để giành ngôi vô địch. Sau một tuần nghỉ ngơi, đội tuyển Brazil đã chứng tỏ được sức mạnh của mình khi đè bẹp Thụy Sĩ với tỉ số 7-1 và Tây Ban Nha với tỉ số 6-1.
Với những trận thắng thuyết phục này, ở thời điểm đó, không một ai có thể nghĩ đội tuyển Brazil lại có thể để cúp vàng tuột khỏi tay khi mà đối thủ của họ lúc đó, đội tuyển Uruguay, đã có trận hòa đầy thất vọng với Tây Ban Nha và chỉ có 3 điểm, do đó Brazil chỉ cần thủ hoà là cũng có thể trở thành nhà vô địch thế giới.
Tại trận chung kết, với sự cổ vũ nồng nhiệt của 220.000 khán giả, đội tuyển Brazil đã mở được tỷ số ở ngay những phút đầu hiệp 2, nhưng có vẻ những áp lực đó lại đè nặng lên vai họ khiến các cầu thủ Brazil đã không thể hiện được đúng phong độ của mình. Họ đã phải trả giá khi vào phút thứ 66, cầu thủ Schiaffino Juan đã cân bằng và phút thứ 79, tiền đạo Ghigga Alcudes ghi bàn thắng ấn định 2- 1, mang cúp vàng về cho Uruguay.
Brazil đã để chiếc cúp lọt khỏi tay. Cả đất nước Brazil chìm trong nỗi thất vọng.
Các quan chức Brazil thậm chí đã quên trao chiếc cúp cho Uruguay và chính vị chủ tịch FIFA, ông Jules Rimet, đã phải xuống sân để tìm đội trưởng của Uruguay tiến hành lễ trao giải. Brazil chỉ có thể an ủi được rằng vòng chung kết lần này đã rất thành công về mặt tài chính cũng như về mặt chuyên môn.
Bóng đá đã bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thống trị làng thể thao thế giới.
Hành trình
Vòng Trận Tỷ số
Vòng bảng Gồm 13 đội tuyển: Bảng A: Brazil, Nam Tư, Mexico, Thuỵ Sĩ; Bảng B: Chile, Anh, Tây Ban Nha, Mỹ; Bảng C: Italia, Paraguay, Thuỵ Điển (Ấn Độ); Bảng D: Bolivia, Uruguay (Scotland, Thổ Nhĩ Kỳ rút lui)
Bán kết Uruguay - Thuỵ Điển 3-2
Brazil - Tây Ban Nha 6-1
Chung kết Brazil - Uruguay 1-2
Đội hình hai đội
Brazil: Barbosa - Augusto, Juvenal, Bauer - Danilo, Bigode - Friaca, Zizinho, Ademir - Jair, Chico
Uruguay: Maspoli - M.Gonzales, Tejera, Gambetta - Varela, Andrade - Ghiggia, Perez, Miguez, Schiaffino, Moran
Ghi bàn: 0:1 Friaca 46, 1:1 Schiaffino 58, 2:1 Ghiggia 61
JakeSatan
01-12-2004, 16:46
Worldcup Thụy Sĩ 1954
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363619_1954.jpg
Bốn năm sau giải đấu cuồng nhiệt tại thánh địa Maracana của Brazil, chiếc cúp Jules Rimet đã quay trở lại châu Âu trong bầu không khí yên bình của đất nước Thụy Sĩ.
World Cup lần thứ 5 này đã không thể nào quên với những trận đấu nhiều bàn thắng, 140 bàn thắng trong 26 trận đấu (trung bình 5,43 bàn/trận) và một trận chung kết gây nhiều ngạc nhiên của đội tuyển Tây Đức- thắng lại đội tuyển Hungary với tỉ số 3-2 sau khi bị dẫn trước 2-0, mặc dù tại vòng bảng, đội tuyển Đức đã từng bị đội tuyển Hungary đè bẹp với tỷ số 8-3. Và đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử tất cả các cầu thủ mang cùng một số áo.
Hungary là đội hình được ưa thích nhất vòng chung kết lần này với những cầu thủ xuất sắc như Puskas, Bozsik, Kocsis và Hidegkuti. Suốt từ tháng 5/1950, đội tuyển Hungary không hề biết đến thất bại. Trong 31 trận, đội tuyển Hungary thắng 27 trận và hòa 4. Từ 1 đội lần đầu tiên có mặt tại 1 vòng chung kết bóng đá thế giới, đội tuyển Hungary đã chứng tỏ được năng lực vượt trội của mình khi thắng đậm Hàn Quốc với tỷ số 9- 0, Đức với tỷ số 8- 3.
Vòng đấu bảng đã có số lượng kỷ lục các đội bóng tham gia mà chưa có một kỳ World Cup nào trước đó có được. 16 đội đã lọt vào vòng chung kết, nhiều hơn 3 đội ở vòng chung kết tại Brazil 4 năm trước đó. Nam Mỹ có các đại diện là Uruguay, Brazil và Mexico; châu Á là Hàn Quốc và châu Âu là các đội Áo, Bỉ, CH Séc và Slovakia, Anh, Pháp, Hungary,Ý, Scotland, Thuỵ Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Đức và Nam Tư. Số lượng các đội tham gia vòng chung kết này vẫn được duy trì cho tới World Cup 1982 tại Tây Ban Nha (24 đội).
Điều ngạc nhiên cũng đến từ 2 đội châu Âu khác. Trước tiên là đội tuyển Thụy Sĩ, đội đã đánh bại đội tuyển Ý nhưng cuối cùng cũng đã bị đội tuyển Áo loại với tỷ số 5-7.
Thứ 2, đội tuyển Tây Đức. Đội đã tiến tới vòng chung kết với một phong cách không ồn ào và tại trận chung kết này, đội tuyển Tây Đức đã phải gặp lại đối thủ tại vòng 1, đội tuyển Hungary.
Tất cả các khán giả đều mong đợi Hungary lặp lại được thành tích tại vòng 1 và quả thực họ đã là được điều này khi họ nhanh chóng ghi được 2 bàn thắng vào lưới đội tuyển Đức. Nhưng chỉ trong vòng 10 phút, đội tuyển Đức đã kịp ghi liền 2 bàn cân bằng tỷ số và vẫn chưa dừng ở đây, 6 phút trước khi hết giờ, cầu thủ Helmut Rahn đã ghi bàn quyết định cho đội tuyển Đức trước sự ngỡ ngàng của toàn đội Hungary cũng như toàn bộ khán giả.
SVĐ Wankdorf tại Berne đã được chứng kiến 1 trong những trận chung kết hay nhất, nhiều bất ngờ nhất và được coi là ngoạn mục nhất trong lịch sử các vòng chung kết thế giới. Đây là chiếc cúp đầu tiên đội tuyển Tây Đức có được và là bước khởi đầu cho những thành công tiếp theo của đội tuyển này.
Hành trình
Vòng bảng Gồm 16 đội tuyển: Bảng A: Brazil, Pháp, Nam Tư, Mexico; Bảng B: Đức, Hungary, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ; Bảng C: Áo, Tiệp Khắc, Scotland, Uruguay; Bảng D: Bỉ, Anh, Italia, Thuỵ Sĩ
Bán kết Hungary - Uruguay 4-2
Đức - Áo 6-1
Chung kết Đức - Hungry 3-2
Đội hình hai đội
Đức: Turek - Posipal, Kohlmeyer, Eckel - Liebrich, Mai - Rahn, Morlock,
O. Walter, F. Walter, Schafer.
Hungary: Grosics - Buzanszky, Lantos, Bozsik - Lorant, Zakarias - Czibor, Kocsis, Hidegkuti, Puskas, M.Toth.
Ghi bàn: 0:1 Puskas 6, 0:2 Czibor 9, 1:2 Morlock 11, 2:2 Rahn 18, 3:2 Rahn 84
JakeSatan
01-12-2004, 16:50
Worldcup Thụy Điển 1958
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363633_1958.jpg
Sau Thụy Sĩ, Thụy Điển đã có vinh dự được đăng cai vòng chung kết bóng đá thế giới 1958. Đây là World Cup đầu tiên được phát sóng truyền hình trên phạm vi quốc tế. Giải này cũng đạt kỷ lục về số nước tham gia (55 đội). Vì vậy vòng loại World Cup lần này đã diễn ra với nhiều bất ngờ.
Những đội bóng mạnh như Bỉ, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Tây Ban Nha, Uruguay và đội bóng được kỳ vọng nhiều nhất, đội Ý, đều đã không thể vượt qua vòng loại. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc những người hâm mộ có thể được chứng kiến những quốc gia bóng đá mới như Xứ Wales, Bắc Ailen, Liên Xô và Thụy Điển.
Vòng chung kết này, những người hâm mộ bóng đá trên khắp thế giới đã được chứng kiến những ngôi sao bóng đá thế giới như Kopa, Fontaine, Charlton, Yashin, Garrincha, Vava và Pelé, người đã ghi được 6 bàn thắng trong đó có 2 bàn trong trận chung kết giúp đội tuyển Brazil giành được cúp vàng.
Nhưng có lẽ ngạc nhiên nhiều nhất vẫn là đội tuyển Pháp với bộ 3 tấn công kỳ ảo: Kopa, Piantoni và Fontaine. Kết thúc vòng chung kết, đội tuyển Pháp đã giành được hàng loạt giải thưởng như: Vua phá lưới Just Fontaine; Cầu thủ xuất sắc nhất Raymond Kopa và đội bóng có hàng tấn công mạnh nhất với 23 bàn thắng. Kết thúc vòng đấu bảng, đội Pháp đã dẫn đầu với 11 bàn chỉ trong 3 trận. Tuy nhiên, đội Pháp đã phải dừng bước tại vòng bán kết trước Brazil.
Sau những thất bại liên tiếp tại vòng chung kết 1950 và 1954, đội tuyển Brazil đã bắt đầu đạt được những thành công. Họ đã vượt qua vòng đấu bảng đầy khó khăn gồm có đội Áo với tỷ số 3-0, hòa Anh 0-0 và thắng Liên Xô 2-0.
Ở trận tứ kết, suốt 60 phút đầu, Brazil đã gần như bế tắc trước đội bóng Xứ Wales nhưng sau bàn thắng mở tỷ số của tài năng trẻ mới 17 tuổi, tiền đạo Pelé, đội tuyển Brazil đã chơi hoàn toàn khởi sắc và thẳng tiến tới vòng bán kết. Và ở vòng đấu này, tiền đạo Pelé tiếp tục chứng tỏ được khả năng ghi bàn siêu đẳng khi một mình anh ghi tới 3 bàn thắng vào lưới đội tuyển Pháp.
Một lần nữa đội tuyển Brazil lại có mặt trong trận chung kết và lần này họ gặp Thụy Điển. Việc Thụy Điển có mặt tại trận chung kết lần này là một bất ngờ lớn bởi vì đến với giải lần này, đội tuyển Thụy Điển chỉ kịp hình thành trong một thời gian rất ngắn. Nhưng Thuỵ Điển đã chứng tỏ được ưu thế sân nhà khi đánh bại đội tuyển Tây Đức với tỷ số 3-1 tại vòng bán kết. Thuỵ Điển sớm có bàn thắng mở tỷ số ở trận chung kết.
Nhưng những ưu thế của Thuỵ Điển đã không tồn tại được lâu khi các cầu thủ Zagallo, Vava và hơn hết là tiền đạo Pelé, người đã ghi 2 bàn thắng đưa đội tuyển Brazil giành thắng lợi với tỷ số chung cuộc 5-2. Kết thúc vòng chung kết, Chủ tịch FIFA, ông Arthur Drewry, đã trao tượng Nữ thần vàng cho thủ quân đội tuyển Brazil, cầu thủ Bellini.
Hành trình
Vòng bảng Gồm 16 đội tuyển: Bảng A: Arrgentina, Tiệp Khắc, Đức, Nigeria; Bảng B: Pháp, Nam Tư, Paraguay, Scotland; Bảng C: Hungary, Mexico, Thuỵ Điển, Wales; Bảng D: Áo, Brazil, Anh, Liên Xô
Bán kết Brazil - Pháp 2-1
Thuỵ Điển - Đức 3-1
Chung kết Brazil - Thuỵ Điển 5-2
Đội hình hai đội
Brazil: Gilmar - D.Santos, N.Santos, Zito - Bellini, Orlando - Garrincha, Didi, Vavá, Pelé, Zagalo
Thuỵ Điển: Svensson - Bergmark, Axbom, Borjesson - Gustavsson, Parling - Hamrin, Gren, Simonsson, Liedholm, Skoglund
Ghi bàn: 0:1 Liedholm 4, 1:1 Vavá 9, 2:1 Vavá 32, 3:1 Pelé 55, 4:1 Zagalo 68, 4:2
Simonsson 80, 5:2 Pelé 90 h
JakeSatan
02-12-2004, 14:02
Worldcup Chilê 1962
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images363893_1962.jpg
Một lần nữa đội tuyển Brazil lại chiến thắng nhưng Pelé chỉ chơi trong trận khai mạc với đội tuyển Mexico trước khi bị chấn thương. Brazil thắng Tiệp Khắc 3-1 trong trận chung kết trên sân Santiago với các bàn thắng của các cầu thủ Amarildo, Zito và Vava.
Giải đấu này cũng bị coi là một giải đấu tai tiếng nhất trong lịch sử giải FIFA World Cup.
Sân Santiago trở thành đấu trường trong trận Italia gặp Chilê, trong đó hai cầu thủ Italia bị đuổi ra sân và một cầu thủ bị vỡ mũi vì một cú đấm sang bên trái của một cầu thủ Chilê. Brazil trở lại vị trí đứng đầu.
Tại Chilê, dưới chân dãy Andes, đội Brazil đã đăng quang lần thứ hai liên tiếp, ngay cả khi Pelé vắng mặt trong đội tuyển. Nhưng giải FIFA World Cup lần thứ 7 này được nhớ đến như một mốc đánh dấu bóng đá trở nên bạo lực hơn.
Sau hai giải đấu liên tiếp được tổ chức tại châu Âu, ở Thụy Sĩ năm 1954 và ở Thụy Điển năm 1958, giải FIFA World Cup đã được đưa về tổ chức tại Nam Mỹ sau 12 năm kể từ khi Brazil là nước chủ nhà.
Tuy nhiên việc FIFA chọn Chilê đã gây ra không ít băn khoăn bởi vì đó là nước được coi là không đủ tiêu chuẩn về nhiều mặt như SVĐ, đường xá, và đặc biệt là không đủ khả năng là một nước chủ nhà trong một giải thi đấu ở cấp độ lớn như vậy.
56 đội là một kỷ lục mới tham gia vào vòng đấu loại, trong đó 2 trong số các đội bóng mạnh nhất vào lúc bấy giờ là Pháp và Thụy Điển đã bị loại.
Nhiều trận đấu ở vòng đầu tiên của giải FIFA World Cup 1962 như trận đấu giữa Nam Tư và Liên Xô, Chilê và Italia, Tây Đức và Thụy Sĩ đã bị làm vẩn đục bởi lối chơi quá bạo lực. Mặt trái của bóng đá lần đầu tiên đã lộ rõ trong một giải FIFA World Cup: tất cả phơi bày rõ ràng hơn vì những nhà vô địch Brazil không đủ khả năng thường xuyên trình diễn lối chơi sắc sảo của mình và có vấn đề trong việc ổn định lối chơi. Và chấn thương của Pelé ở trận đấu với Nam Tư vẫn kéo dài lại càng làm cho vấn đề khó khăn hơn.
Ngôi sao trong giải FIFA World Cup 1958 đã chìm dần khỏi giải đấu năm 1962 sau chấn thương trong trận đấu với đội Tiệp Khắc. Tuy vậy, đội Brazil do Garrincha và Zagallo chỉ huy dẫu không có sức công phá như ở giải đấu 4 năm về trước, vẫn vượt qua đội tuyển Anh tại vòng tứ kết với tỷ số 3-1.
Khác với trường hợp của các đội Uruguay, Argentina hay Italia, cả nước Chilê đã đổ xuống đường để ăn mừng sau khi đánh bại Liên Xô với tỉ số 2- 1, và nguyên nhân của trận thua này lại thuộc về thủ môn huyền thoại của thế giới, Lev Yachine, khi bất cẩn để lọt lưới bởi cú sút từ xa 20m không mấy nguy hiểm của Landa. Nhưng niềm vui của người Chilê chẳng được bao lâu bởi vì người Brazil đã tỏ chứng tỏ họ mạnh hơn rất nhiều trong vòng bán kết.
Và Brazil đã lần thứ hai liên tiếp vào chơi trận chung kết. Đối thủ tranh chức vô địch của họ là Tiệp Khắc, đội tuyển đã chiến thắng một cách ngạc nhiên trước đội Nam Tư.
Đội tuyển Tiệp Khắc trước đó đã hòa với đội Brazil ở vòng 1 và sau đó đã chiến thắng một cách ngoạn mục trước đội tuyển Hungary ở vòng tứ kết, khi đội tuyển Hungary đã đá trúng cột gôn không dưới 4 lần.
Trong khi đó, lượng trước sức mình, đội tuyển Tiệp Khắc đã hai lần thanh toán tiền khách sạn để trở về nước sớm (do nghĩ rằng mình sẽ bị loại) nhưng thật bất ngờ, Tiệp Khắc cứ từng bước tiến vào chung kết.
Tại trận chung kết, đội tuyển Tiệp Khắc lại tiếp tục gây bất ngờ khi họ chính là người mở tỷ số trận đấu, trước khi đội tuyển Brazil kịp san bằng tỉ số hai phút sau đó và ghi tiếp 2 bàn, giành chức vô địch lần thứ 2 liên tiếp.
Hành trình
Vòng Trận Tỷ số
Vòng bảng Gồm 16 đội tuyển: Bảng A: Colombia, Nam Tư, Uruguay, Liên Xô; Bảng B: Đức, Chile, Italia, Thuỵ Sỹ; Bảng C: Brazil, Tiệp Khắc, Tây Ban Nha, Mexico; Bảng D: Argentina, Bulgaria, Anh, Hungary
Bán kết Brazil - Chile 4-2
Tiệp Khắc - Nam Tư 3-1
Chung kết Brazil - Tiệp Khắc 3-1
Đội hình hai đội
Brazil: Gilmar - D. Santos, N. Santos, Zito - Mauro, Zózimo, Garrincha,
Didi - Vavá, Amarildo, Zagalo
Tiệp Khắc: Schrojf - Tichy, Novak, Masopust - Popluhar, Pluskal - Pospichal,
Scherer, Kadraba, Kvasnak, Jelinek
Ghi bàn: 0:1 Masopust 15, 1:1 Amarildo 17, 2:1 Zito 69 h, 3:1 Vavá 78
vietnamnet.vn
JakeSatan
02-12-2004, 14:09
Worldcup Anh 1966
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images364033_1966.jpg
Kể từ khi được bắt đầu vào năm 1930, FIFA World Cup đã nhanh chóng phát triển thành một giải đấu đỉnh cao có tầm cỡ quốc tế. Tại vòng chung kết lần này, đội bóng của vua bóng đá Pele một lần nữa đã bị đánh bại bởi đội tuyển Hungari và Bồ Đào Nha, xóa tan hi vọng lần thứ liên tiếp giành danh hiệu vô địch thế giới của đội tuyển Brazil.
Còn đội tuyển Anh dưới sự dẫn dắt của HLV Alf Ramsey đã đánh bại đội tuyển Tây Đức với tỷ số 4-2 sau 2 hiệp phụ trong trận chung kết đầy kịch tính trên sân Wembley và tại trận đấu này, tiền đạo Geoff Hurst của đội tuyển Anh đã làm nên lịch sử với cú hat-trick trong đó có một bàn thắng gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử. Liệu quả bóng có thực sự vượt qua vạch sau khi nảy xuống từ xà ngang hay không? Cho đến giờ, câu trả lời vẫn còn là một ẩn số.
16 nước châu Phi tuyên bố chịu phạt ngay trước giờ khai mạc do họ phản đối quy định mới của FIFA yêu cầu các nước chiến thắng ở khu vực châu Phi sẽ phải thắng trong vòng đấu với các nước chiến thắng ở châu Á và châu Úc để được quyền vào vòng chung kết năm 1966.
Vòng loại của giải FIFA World Cup đã bắt đầu không mấy suôn sẻ. Các nước châu Phi tin rằng việc chiến thắng trong khu vực của họ cũng đủ để tiến thẳng vào vòng chung kết. Cuối cùng, quy định được đưa ra năm 1964 này đã phải thay đổi theo hướng có lợi cho các nước châu Phi vào 4 năm sau đó.
Trong khi đó với 70 đội tham dự vòng loại lập nên một kỷ lục mới, FIFA đã quyết định tham dự vòng chung kết lần này sẽ có 10 đội ở châu Âu, 4 đội ở Nam Mỹ, 1 đội ở châu Á và 1 đội ở Bắc và Trung Mỹ.
Đội tuyển đầu tiên vượt qua vòng loại là đội Bồ Đào Nha với trận hoà trước Tiệp Khắc, đội tham dự trận chung kết 4 năm trước đó. Và đội tuyển Anh, một trong những đội được ưa thích nhất trong giải đấu này, đã chơi thật sự hiệu quả và không để lọt lưới một bàn nào, họ đã chiến thắng cho đến tận vòng tứ kết, hòa với Uruguay (0-0), thắng Mexico (2-0), và tiếp tục thắng Pháp (2- 0).
Nhưng bất ngờ lớn nhất ở vòng 1 là việc đội tuyển đang giữ chức vô địch Brazil bị loại. Sau khi chiến thắng đội tuyển Bungary, Pele và đồng đội đã chơi tồi đi ở trận với Hungary và tiếp sau đó là đội Bồ Đào Nha. Và một lần nữa Pele lại là nạn nhân của các hậu vệ. Bị thương trong trận đấu với Bungary khiến anh đã không thể thi đấu trong trận gặp đội tuyển Hungary trước khi lại bị cáng ra sân trong trận đấu với đội tuyển Bồ Đào Nha.
Còn tại vòng 2, đội tuyển CHDCND Triều Tiên đã thực sự gây bất ngờ cho toàn thế giới khi họ giành chiến thắng trước đội tuyển Italia và trong trận đấu với Bồ Đào Nha, trận đấu được coi là hay nhất vòng chung kết.
Các cầu thủ CHDCD Triều Tiên đã dẫn trước với tỷ số 3-0 nhưng đội Bồ Đào Nha sau đó đã có cú lội ngược dòng ngoạn mục và giành chiến thắng với tỷ số 5- 3, trong đó có 4 bàn thắng do công của cầu thủ huyền thoại Eusebio.
Còn đội tuyển Anh với lợi thế đặc biệt là được chơi tất cả các trận đấu trên sân Wembley, cuối cùng đã đoạt chức vô địch sau khi giành chiến thắng trước đội tuyển Đức với tỷ số 4 2 sau 120 phút thi đấu. Và đội trưởng Bobby Moore đã dẫn toàn đội lên bục vinh quang nhận cúp vàng từ tay Nữ hoàng Elizabeth II.
Hành trình
Vòng Trận Tỷ số
Vòng bảng Gồm 16 đội tuyển: Bảng A: Anh, Pháp, Mexico, Uruguay; Bảng B: Argentina, Tây Ban Nha, Đức, Thuỵ Sĩ; Bảng C: Brazil, Bulgaria, Hungary, Bồ Đào Nha; Bảng D: Chile, Italia, CHDCND Triều Tiên, Liên Xô
Bán kết Đức - Liên Xô 2-1
Anh - Bồ Đào Nha 2-1
Chung kết Anh - Đức 4-2
Đội hình hai đội
Anh: Banks - Cohen, J. Charlton, Moore, Wilson - Stiles, R. Charlton,
Peters - Ball, Hunt, Hurst
Đức: Tilkowski - Höttges, Schulz, Weber, Schnellinger - Beckenbauer,
Overath, Haller - Seeler, Held, Emmerich
Ghi bàn: 0:1 Haller 12, 1:1 Hurst 18 h, 2:1 Peters 78, 2:2 Weber 90, 3:2 Hurst 101,
4:2 Hurst 120
vietnamnet.vn
Tonythai
02-12-2004, 16:29
AC Milan
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365449_milan.jpg
Năm 1899, người đàn ông người Anh Alfres Edwards đã sáng lập ra CLB Bóng đá & Cricket. Chỉ 2 năm sau, đội bóng có biệt danh 'Rossoneri' đã ẵm về cúp Scudetto đầu tiên. Trong giai đoạn đầu thế kỷ 20, Milan đoạt thêm 2 chức vô địch Serie A nữa trước khi rơi khoảng thời gian hơn 40 năm ''đói'' thành tích.
Mãi đến khi bộ ba Thụy Điển Gre - No - Li (Gunnar Gren, Gunnar Nordahl và Nils Liedholm) xuất hiện, mới cứu rỗi, xóa tan đi màn đêm u tối tại San Siro bằng cách giúp Milan đoạt 4 chức vô địch Serie A trong thập niên 50.
Vào năm 1979, Milan bị giáng cấp vì lý do tài chính. 7 năm sau, nhờ sự can thiệp của Silvio Berlusconi đã cứu cho CLB khỏi vỡ nợ. HLV Arrigo Sacchi dẫn dắt đội cùng sự góp mặt của bộ ba ngôi sao Hà Lan Ruud Gullit, Marco Van Basten và Frank Rijkaard đã mở ra thời kỳ hoàng kim nhất của đội bóng áo sọc đỏ - đen khi Milan làm mưa làm gió ở cả đấu trường trong nước và châu Âu.
Đầu thập niên 90, Fabio Capello đến với Milan và cùng CLB này mang về 4 Scudetto, 4 Siêu Cúp Italia, 1 chức vô địch Champions League, Siêu Cúp châu Âu. Alberto Zaccheroni cùng Milan đoạt Scudetto lần thứ 16 và Carlo Ancelotti tiếp nối thật ấn tượng với 1 Cúp C1, Coppa Italia và cả Scudetto.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1899
Biệt danh: Rossoneri
Chủ tịch: Silvio Berlusconi
HLV: Ancelotti
Địa chỉ: Via Turati, 3 - 20121 Milan
Điện thoại: 0039-02-62281
Fax: 0039-02- 6598876
Website: www.acmilan.com
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo Milanello, Carnago
Màu áo: Đỏ - Đen
SVĐ: San Siro
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Gunnar Nordahl - 210 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Gunnar Nordahl - 35 bàn (49/50)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Franco Baresi - 231 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Rui Costa - 27 triệu bảng (từ Fiorentina mùa giải 01/02)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Cristian Zenoni - 8,3 triệu bảng (đến Juventus mùa giải 01/02)
- Thành tích tại châu Âu: 6 Cúp C1 (63/69/89/90/94/03), 2 Cúp C2 (68/73), 2 Siêu Cúp (89/90/95)
Kỷ lục tại Serie A
- Vô địch: 17 lần (1901/06/07/51/55/57/59/62/68/79/88/92/93/94 /96/99/04)
- Cúp Italia: 5 lần (67/72/73/77/03)
- Siêp Cúp Italia: 4 (88/92/93/94)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 82 điểm (03/04)
- Mùa giải ít điểm nhất: 27 bàn (81/82)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 9-0 trước Palermo (50/51)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-6 trước Juve (96/97)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 8-0 trước Genoa (54/55)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-6 trước Alessandria (35/36)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 27 trận (49/50)
- Mùa giải thắng ít nhất: 5 trận (76/77)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 15 trận (30/31)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 0 (91/92)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 118 bàn (49/50)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 21 bàn (81/82)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 62 bàn (32/33)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 12 bàn (68/69)
AS Romahttp://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images365725_roma.jpg
AS Roma ra đời vào năm 1927, là sự sát nhập của 3 CLB khác nhau: Alba, Fortitudo và Roman. Thi đấu khá thành công trong những năm 30 để đến 1942, đội bóng thành Rome đoạt Scudetto lần đầu tiên.
Tuy thế, khó khăn đến với đội ở mấy mùa giải sau đó. Mùa hè 1951, Roma bị rớt hạng nhưng rồi nhanh chóng trở lại chỉ sau 1 mùa, phấn đấu vươn lên thứ hạng 3 và đoạt Cúp UEFA vào năm 1961. 3 năm sau, Roma ăn mừng với chức vô địch Coppa Italia lần đầu tiền.
Thời kỳ hùng mạnh nhất của Roma thuộc về thập niên 80 với 2 Cúp Italia, lần thứ 2 đoạt Scudetto dưới sự dẫn dắt của HLV Nils Liedholm (1983). 1 năm sau, nhờ thắng trong loạt sút penalty trước Liverpool ngay tại sân Olympico đã mang về chiếc Cúp châu Âu cho Roma.
Mùa giải 2000/01, Capello cùng các trụ cột như Batistuta, Tott, Montella... đã đoạt chức vô địch Serie A lần thứ 3 trong lịch sử của CLB.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1927
Chủ tịch: Franco Sensi
HLV: Del Neri
Địa chỉ: Via di Trigoria km 3,600 - 00128 Roma
Điện thoại: 0039-06-5060200
Fax: 0039-06-5061736
Website: www.asromacalcio.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo F Bernadini, Via di Trigoria
Màu áo: Đỏ - Vàng - Trắng
SVĐ: Olympico
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Roberto Pruzzo - 130 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Rodoflo Volk - 29 bàn (30/31)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Giacomo Losi - 386 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Gabriel Batistuta - 23 triệu bảng (từ Fiorentina mùa giải 00/01)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Hidetoshi Nakata - 20 triệu bảng (đến Parma 01/02)
Kỷ lục tại Serie A
Thành tích: Đoạt Scudetto: 3 (1942/81/01); Vô địch Coppa Italia: 7 (1964/69/80/81/84/86/91); Siêu Cúp Italia (2001)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 75 điểm (00/01)
- Mùa giải ít điểm nhất: 24 điểm (72/73)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 9-0 trước Cremonese (29/30)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-7 trước Torino (47/48)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 6-1 trước Alessandria (34/35)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-7 trước Juventus (31/32)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 22 trận (30/31 & 00/01)
- Mùa giải thắng ít nhất: 6 trận (72/73)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 20 trận (50/51)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 2 trận (80/81 & 01/02)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 87 bàn (30/31)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 23 bàn (72/73)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 70 bàn (49/50)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 15 bàn (74/75)
Atalanta
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images364921_atalanta.jpg
Thành lập vào năm 1907 với tên ban đầu Bergamo, tên một người đàn bà Hy Lạp nổi tiếng về tốc độ và kỹ năng đi săn. Bảy năm sau, Bergamo được FIGC chính thức công nhận. Lần đầu thăng hạng Serie A vào mùa giải 1936-37 nhưng Atalanta cũng chỉ trụ lại được một mùa.
Sự tái xuất lần thứ 2 của Atalanta gặt hái thành công hơn khi giữa giai đoạn 1940 - 73 chỉ 2 lần rớt xuống Serie B. Đây đựơc xem là ''thời kỳ vàng'' của Atalanta với chiến thắng Coppa Italia năm 1962-63. Đó cũng là chiến tích duy nhất mà CLB này có được trong lịch sử của mình.
Bắt đầu những năm 1980 là sự tuột dốc xuống tận Serie C1, quay trở lại rồi lại xuống hạng. Nerazzurri là nơi đào tạo cầu thủ trẻ nổi tiếng ở Italia, với nhiều cầu thủ thành danh ở Serie A hiện nay như Alessio Tacchinardi, Morfeo và thủ môn của Roma Ivan Pelizzoli Domenico.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1907
Biệt danh: Nerazzurri & Orobici
Chủ tịch: Ivan Ruggeri
HLV: Andrea Mandorlini
Địa chỉ: Via Pitentino 14/a, 24124 Bergamo
Điện thoại: 0039-035-242555
Fax: 0039-035-239677
Website: www.atalanta.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo Bortolotti Zingonia
Màu áo: Xanh - Đen
SVĐ: Atleti Azzurri d'Italia
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Adriano Bassetto - 56 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Filippo Inzaghi (96-97) - 24 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Stefano Angeleri - 238 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Gianni Comandini (từ Milan 01-02) - 8 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Ivan Pelizzoli (đến Roma 01-02) - 10 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: hạng 5 (1948)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 45 điểm (01-02)
- Mùa giải ít điểm nhất: 16 điểm (37-38)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 7-1 trước Triestina (51-52)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-7 trước Fiorentina (63-64)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 6-2 trước Bologna (49-50)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-9 trước Torino (41-42)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 17 trận (49-50)
- Mùa giải thắng ít nhất: 4 trận (37-38)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 18 trận (37-38)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 7 trận (84-85)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 66 bàn (49-50)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 16 bàn (72-73)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 69 bàn (50-51)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 69 bàn (50-51)
Bologna
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images364973_bologna1.jpg
Từ khi ra đời vào năm 1909, Bologna đã 7 lần vô địch Serie A, chỉ thua Juventus, Milan, Inter và Genoa. Scudetto gần đây nhất của họ vào 1964 với trận thắng play-off 2-0 trước Inter. Đây là 1 trong tổng số 2 lần Serie A phải quyết định ngôi vô địch bằng đầu play-off.
Trong thời gian những năm 1960 và 70, Bologna cũng 2 lần đoạt cúp Italia, 1 Anglo-Italian Cup và 1 Mitropa Cup trước khi bước vào giai đoạn đen tối của thập niên 80. Bắt đầu mùa giải 1981-82, CLB trưuợt dốc với 2 lần rớt hạng và xuống tận Serie C1. Sau khi trở lại Serie A, đều đặn từ năm 1996, Bologna luôn nằm ở giữa bảng xếp hạng nhưng luôn nhắm đến 1 suất dự Cúp UEFA.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1909
Biệt danh: Rossoblu
Chủ tịch: Renato Cipollini
HLV: Mazzone
Địa chỉ: Via Casteldebole 10 - 40132 Bologna
Điện thoại: 0039-051-6111111
Fax: 0039-051-6111122
Website: www.bolognafc.it
Trung tâm tập luyện: Centro Tecnico Casteldebole
Màu áo: Đỏ - Xanh
SVĐ: Renato Dall’Ara
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Angelo Schiavio - 244 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Gino Pivatelli (55-56) - 29 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Giacomo Bulgarelli - 392 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Julio Cruz (từ Feyenoord 00-01) - 8 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Kennet Andersson (đến Lazio 99-00) - 7,8 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: vô địch (7 lần: 1925/29/36/37/39/41/64)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 54 điểm (63-64)
- Mùa giải ít điểm nhất: 18 điểm (90-91)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 8-0 trước Triestina (31-32)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-6 trước Inter (88-89)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 7-1 trước Liguria (42-43)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 2-8 trước Lazio (48-49)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 22 trận (63-64)
- Mùa giải thắng ít nhất: 4 trận (78-79 & 90-91)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 20 trận (90-91)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 2 trận (63-64)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 85 bàn (31-32)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 21 bàn (77-78)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 63 bàn (49-50 & 90-91)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 18 bàn (63-64)
Brescia
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images364987_01.jpg
Thành lập vào năm 1911, Brescia đã tiêu phí hầu hết thời gian của họ ở Serie B, thậm chí từng xuống Serie C. Tuy thế, Brescia đang phấn đấu để mùa giải thứ tư liên tiếp vẫn trụ lại được ở Serie A.
Lịch sử gần đây của Brescia thậm chí còn đáng ngạc nhiên hơn. Từ 1969, Brescia không trụ lại quá 1 mùa giải ở Serie A. Tuy nhiên, sự nguyền rủa đó chấm dứt vào mùa giải 2000/01 khi HLV Carlo Mazzone dẫn dắt họ đạt tới hạng 8, vị trí cao nhất trong lịch sử CLB.
Brescia đoạt cúp Anglo-Italian vào mùa giải 1993/94, giải thưuởng duy nhất của đội. Nhưng Brescia được xem là nơi để hồi sinh sự nghiệp của nhưững cầu thủ kỳ cựu như Roberto Baggio và Gigi Di Biagio Roberto.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1911
Biệt danh: Rondinelle
Chủ tịch: Luigi Corioni
HLV: Giovanni De Biasi
Địa chỉ: Via Bazoli 10 - 25127 Brescia
Điện thoại: 0039-030-2410751
Fax: 0039-030-2410787
Website: www.bresciacalcio.it
Trung tâm tập luyện: Sportivo Erbusco
Màu áo: xanh trắng
SVĐ: Mario Rigamonti
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Virginio De Paoli - 103 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Dario Hubner (00-01) - 17 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Egidio Salvi - 408 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Luca Toni (từ Vicenza 01-02) - 8 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Daniele Bonera (đến Parma 02-03) - 10 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A:
- Thứ hạng cao nhất: hạng 8 (2001)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 44 điểm (00-01)
- Mùa giải ít điểm nhất: 12 điểm (94-95)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 7-3 trước Alessandria (30-31)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-5 trước Torino (67-68)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 4-0 trước Triestina (30-31)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-7 trước Inter (65-66)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 18 trận (28-29)
- Mùa giải thắng ít nhất: 2 trận (94-95)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 26 trận (94-95)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 7 trận (28-29)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 67 bàn (28-29)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 18 bàn (94-95)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 65 bàn (94-95)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 25 bàn (80-81)
nguồn:vietnamnet
Tonythai
02-12-2004, 16:34
Cagliari
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images364989_cagliari.jpg
Cagliari xuất hiện vào 1920 từ sáng kiến của một nhóm sinh viên vùng Sardinia. Phải mất hơn 40 năm Cagliari mới thăng hạng Serie A. Họ có thể làm điều đó sớm hơn 10 năm nếu không thua Pro-Patria trong trận play-off ở Serie B năm 1954. Được chơi ở hạng cao nhất năm 1964, Cagliari bé nhỏ không dám nghĩ sẽ đoạt Scudetto vào năm 1970 nhờ 1 đội hình giỏi với huyền thoại bóng đá Italia Gigi Riva.
Tuy nhiên, đến 1987, Cagliari rơi xuống Serie C. Nhưng rồi họ lại tái xuất ở giải đấu cao nhất bóng đá Italia và đang xây dựng để trở thành 1 CLB hàng đầu trong thời gian tới.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1920
Biệt danh: Rossoblu
Chủ tịch: Massimo Cellino
HLV: Daniele Arrigoni
Địa chỉ: Viale La Playa 15-09123 Cagliari
Điện thoại: 0039-070-604201
Fax: 0039-070-6042029
Website: www.cagliaricalcio.it
Màu áo: Đỏ - Xanh
SVĐ: Sant’Elia
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Gigi Riva - 156 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Gigi Riva (69-70, 71-72) - 21 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Claudio Nene - 311 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Patrick Mboma (từ Gamba Osaka 98-99) - 5 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Fabian O'Neill (đến Juventus 00-01) - 8 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: vô địch (1970)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 45 điểm (69-70)
- Mùa giải ít điểm nhất: 19 điểm (75-76)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 5-0 trước Sampdoria (98-99)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-4 trước Milan (70-71)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 5-0 trước Torino (92-93), 6-1 trước Varese (68-69)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-5 trước Sampdoria (94-95), trước Napoli (74-75)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 17 trận (69-70)
- Mùa giải thắng ít nhất: 3 trận (99-00)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 18 trận (99-00)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 2 trận (69-70)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 45 bàn (92-93)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 22 bàn (74-75)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 62 bàn (96-97)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 11 bàn (69-70)
Chievo
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images364993_chievo.jpg
Chievo là một câu lạc bộ đã làm sự nhảy vọt từ nghiệp dư đến bóng đá đỉnh cao chỉ trong mười lăm năm. Cùng sở hữu SVĐ với địch thủ lớn hơn - Verona. Chievo chỉ là một khu lân cận nhỏ của thành phố với ít hơn 3,000 dân.
Bắt đầu với cái tên OND Chievo vào 1929 - dành cho đội bóng công nhân các nhà máy sau mỗi giờ tan tầm. CLB đã đổi tên không ít lần bao gồm Cardi Chievo và Paluani Chievo, trong đó tên nhà tài trợ gắn ở phía trước.
Chievo bắt đầu đi lên bóng đá chuyên nghiệp vào 1986, dù thua trong trận play-off, CLB vẫn được lên Serie C2 thay cho Bassano bị truất quyền tham dự. Từ đó, họ mất 3 năm để lên Serie C1 vào 1988/89 và 5 năm sau lên Serie B. Mùa giải 2001/02, lần đầu tiên Chievo được chơi ở Serie A và kết thúc mùa giải với hạng 5 đáng ngạc nhiên.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1929
Biệt danh: Gialloblu, Những chú lừa bay
Chủ tịch: Luca Campedelli
HLV: Mario Beretta
Địa chỉ: Corso Milano, 90/a - 37138 Verona
Điện thoại: 0039-045-575779
Fax: 0039-045-575609
Website: www.chievoverona.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo Veronello Via Veronello, 37010 Calmasino di Bardolino
Màu áo: Vàng - Vàng
SVĐ: Marc’Antonio Bentegodi
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Flavio Fiorio - 47 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Massimo Marazzina (01-02) - 13 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Maurizio D’Angelo - 220 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Simone Perrotta (từ Bari 01-02) - 1 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Nicola Legrottaglie (đến Juventus 03-04) - 5,5 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: hạng 5 (01-02)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 55 điểm (02-03)
- Mùa giải ít điểm nhất: 54 điểm (01-02)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 4-1 trước Atalanta (02-03)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-4 trước Parma (02-03)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 3-0 trước Piacenza (02-03)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-5 trước Roma (01-02)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 16 trận (02-03)
- Mùa giải thắng ít nhất: 11 trận (03-04)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 15 trận (03-04)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 8 trận (01-02)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 57 bàn (01-02)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 43 bàn (03-04)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 56 bàn (03-04)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 39 bàn (02-03)
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images364993_chievo.jpg
Chievo là một câu lạc bộ đã làm sự nhảy vọt từ nghiệp dư đến bóng đá đỉnh cao chỉ trong mười lăm năm. Cùng sở hữu SVĐ với địch thủ lớn hơn - Verona. Chievo chỉ là một khu lân cận nhỏ của thành phố với ít hơn 3,000 dân.
Bắt đầu với cái tên OND Chievo vào 1929 - dành cho đội bóng công nhân các nhà máy sau mỗi giờ tan tầm. CLB đã đổi tên không ít lần bao gồm Cardi Chievo và Paluani Chievo, trong đó tên nhà tài trợ gắn ở phía trước.
Chievo bắt đầu đi lên bóng đá chuyên nghiệp vào 1986, dù thua trong trận play-off, CLB vẫn được lên Serie C2 thay cho Bassano bị truất quyền tham dự. Từ đó, họ mất 3 năm để lên Serie C1 vào 1988/89 và 5 năm sau lên Serie B. Mùa giải 2001/02, lần đầu tiên Chievo được chơi ở Serie A và kết thúc mùa giải với hạng 5 đáng ngạc nhiên.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1929
Biệt danh: Gialloblu, Những chú lừa bay
Chủ tịch: Luca Campedelli
HLV: Mario Beretta
Địa chỉ: Corso Milano, 90/a - 37138 Verona
Điện thoại: 0039-045-575779
Fax: 0039-045-575609
Website: www.chievoverona.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo Veronello Via Veronello, 37010 Calmasino di Bardolino
Màu áo: Vàng - Vàng
SVĐ: Marc’Antonio Bentegodi
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Flavio Fiorio - 47 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Massimo Marazzina (01-02) - 13 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Maurizio D’Angelo - 220 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Simone Perrotta (từ Bari 01-02) - 1 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Nicola Legrottaglie (đến Juventus 03-04) - 5,5 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: hạng 5 (01-02)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 55 điểm (02-03)
- Mùa giải ít điểm nhất: 54 điểm (01-02)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 4-1 trước Atalanta (02-03)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-4 trước Parma (02-03)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 3-0 trước Piacenza (02-03)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-5 trước Roma (01-02)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 16 trận (02-03)
- Mùa giải thắng ít nhất: 11 trận (03-04)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 15 trận (03-04)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 8 trận (01-02)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 57 bàn (01-02)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 43 bàn (03-04)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 56 bàn (03-04)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 39 bàn (02-03)
Fiorentina
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365009_fiorentina.jpg
Nhiều người cho rằng, cái tên Fiorentina sẽ mãi mãi thuộc về quá khứ của Serie A sau khi bị giải thể ở mùa hè thảm họa 2002. Đội bóng áo tìm không chỉ rơi xuống Serie B giáng xuống 2 hạng nữa khi tài chính sụp đổ.
Fiorentina mất tất cả, thậm chí cả cái tên khi tồn tại dưới 1 cái tên mới Florentia Viola. Tuy nhiên, họ thăng hạng lên Serie C1 và được tham dự ngay Serie B khi giải đấu này tăng số đội. Một chiến thắng trong trận play-off trước Perugia giúp họ có mặt ở Serie A, quay trở lại chỉ sau 24 tháng.
Fiorentina là một trong những CLB lớn của bóng đá Italia bất kể thành công có hạn của họ. Đội đoạt Scudetto chỉ hai lần, cùng với Cúp Italia, nhưng phần lớn thời gian là chơi ở Serie A, chỉ có 4 năm không tham dự từ 1931.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1909
Biệt danh: Viola
Chủ tịch: Diego Della Valle
HLV: Emiliano Mondonico
Địa chỉ: Viale Manfredo Fanti 4, 50137 Florence
Điện thoại: 0039-055-5030190
Fax: 0039-055-5030191
Website: www.acffiorentina.it
Trung tâm tập luyện: Coverciano
Màu áo: Tím - Tím
SVĐ: Artemio Franchi
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Gabriel Batistuta - 151 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Kurt Hamrin (58-59 &59-60), Gabriel Batistuta (94-95) - 26 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Giancarlo Antognoni - 341 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Nuno Gomes (từ Benfica 00-01) - 11,9 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Manuel Rui Costa (đến Milan 01-02) - 27 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: vô địch (2 lần: 1956/69)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 59 điểm (95-96)
- Mùa giải ít điểm nhất: 15 điểm (37-38)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 8-0 trước Modena (41-42)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 3-7 trước Milan (92-93)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 7-1 trước Atalanta (63-64)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-8 trước Juventus (52-53)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 20 trận (55-56/58-59/59/60)
- Mùa giải thắng ít nhất: 3 trận (37-38/70-71)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 22 trận (01-02)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 1 trận (55-56/68-69)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 95 bàn (58-59)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 26 bàn (70-71/78-79)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 69 bàn (46-47)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 17 bàn (81-82)
Inter Milan
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365011_inter.jpg
Chỉ mất vỏn vẹn 2 năm sau ngày ra mắt (1908), CLB Inter Milan đã đoạt chức vô địch Italia. Đó là lần đầu tiên trong 13 Scudetto cho Nerazzurri. Đúng ra, con số ấy có thể hơn nếu Inter không để vuột mất chức vô địch vào mùa b1ong 1963/64 khi để thua Bologna 0-2 trong trận đấu play-off.
Nhưng cũng trong năm này, Inter đoạt Cúp C1 và Cúp liên lục địa. Chiến công đuợc lặp lại ở mùa sau đó.
Đó là những năm vàng son với HLV Helenio Herrera, đã cách mạng hóa bóng đá Italia và châu Âu. Cùng với Juventus, Inter chưa bao giờ bị rớt hạng. Họ cũng có 3 cúp UEFA, 3 Cúp Italia và 1 Siêu cúp Italia.
Thập niên qua, dưới thời Chủ tịch Massimo Moratti, nhiều ngôi sao đã đến rồi đi, nhưng lại ít đạt được danh hiệu. Giovanni Trapattoni nâng Scudetto cuối cùng của họ vào 1989.
THÔNG TIN VỀ CLB:
Năm thành lập: 1908
Biệt danh: Nerazzurri
Chủ tịch: Giacinto Facchetti
HLV: Roberto Mancini
Địa chỉ: Via Durini, 24 - 20122 Milan
Điện thoại: 0039-02-77151
Fax: 0039-02-781514
Website: www.inter.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo Angelo Moratti, La Pinetina, Appiano Gentile
Màu áo: Xanh - Đen
SVĐ: San Siro
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Giuseppe Meazza - 246 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Antonio Valentin Angelillo (58-59) - 33 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Giuseppe Bergomi - 519 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Christian Vieri (từ Lazio 99-00) - 32,1 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Ronaldo (đến Real Madrid 02-03) - 28 triệu bảng
- Thành tích tại châu Âu: 2 Cúp C1 (64/65), 3 Cúp UEFA (91/94/98), 2 Cúp Inter-Continental
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: vô địch (13 lần: 1910/20/30/38/40/53/54/ 63/65/66/71/ 80/89)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 69 điểm (97-98 & 01-02)
- Mùa giải ít điểm nhất: 26 điểm (41-42)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 9-0 trước Casale (33-34)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-6 trước Milan (00-01)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 6-0 trước Udinese (60-61) & trước Bologna (88-89)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-9 trước Juventus (60-61)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 27 trận (50-51)
- Mùa giải thắng ít nhất: 7 trận (41-42)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 19 trận (47-48)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 2 trận (64-65 & 88-89)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 107 bàn (50-51)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 26 bàn (74-75)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 60 bàn (47-48 & 49-50)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 17 bàn (86-87)
Nguồn:vietnamnet
Tonythai
02-12-2004, 16:42
Juventus
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365135_juventus.jpg
Bà Đầm Già - La Vecchia Signora của bóng đá Italia được thành lập vào năm 1897 với màu áo hồng lúc ban đầu. CLB trở thành Bianconeri dựa theo những màu trắng và đen của đội Notts County vào năm 1903. Họ đoạt chức vô địch quốc gia 2 năm sau. Giai đoạn 1930-1935, CLB thành Turin đoạt 5 Scudetto liên tiếp. Các kỳ World Cup 1934, 38, 78, 82, Juventus chiếm lực lượng đa số trong đội hình Azzurri.
Cùng với Inter, Juventus chưua bao giờ bị rớt hạng và là đội giàu thành tích nhất Italia với 27 chức vô địch, 9 Cúp Italia, 2 cúp C1, 1 cúp C2, 3 cúp UEFA, 2 cúp Liên lục điạ, 2 Siêu cúp châu Âu, 4 Siêu cúp Italia.
Sở hữu bởi gia đình Agnelli, Juve có sức mạnh tài chính của FIAT hậu thuẫn đằng sau. Tuy nhiên, CLB này nổi tiếng về sự thận trọng và bán cầu thủ ngôi sao với một mức lợi nhuận cao. Zinedine Zidane phá vỡ kỷ lục chuyển nhuợng của thế giới khi sang Real Madrid với giá 48 triệu bảng.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1897
Biệt danh: Bianconeri & La Vecchia Signora
Chủ tịch: Franzo Grande Stevens
HLV: Fabio Capello
Địa chỉ: Piazza Crimea, 7 - 10131 Turin
Điện thoại: 0039-011-65631
Fax: 0039-011-6604550
Website: www.juventus.com
Trung tâm tập luyện: Centro Sisport
Màu áo: Đen - Trắng
SVĐ: Delle Alpi
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Giampiero Boniperti - 178 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Felice Borel (33-34) - 32 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Giampiero Boniperti - 444 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Gianluigi Buffon (từ Parma 01-02) - 32 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Zinedine Zidane (đến R Madrid 01-02) - 48 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: vô địch (27 lần 1905/26/31/32/33/34/35/50/52/58/60/61/67/72/73/75/77/78/81/82/84/86/95/97/98/02/03)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 74 điểm (97-98)
- Mùa giải ít điểm nhất: 29 điểm (38-39 & 61-62)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 9-1 trước Inter (60-61)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-7 trước Milan (49-50)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 7-0 trước Pro Patria (50-51)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-6 trước Inter (53-54)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 28 trận (49-50)
- Mùa giải thắng ít nhất: 8 trận (38-39 & 55-56)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 15 trận (61-62)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 1 trận (77-78)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 103 bàn (50-51)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 28 bàn (38-39)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 56 bàn (61-62)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 14 bàn (81-82)
Lazio
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365149_lazio.jpg
Thành lập vào năm 1900 với tên gọi Societa Spotiva Lazio, 1 CLB với nhiều môn thể thao. Biancocelesti bắt đầu dồn toàn bộ thời gian vào bóng đá từ 1906. Giành được chiến tích nhỏ ở giải đấu thành Rome năm 1944. CLB có đưuợc danh hiệu đầu tiên mang tầm vóc quốc gia là Coppa Italia 1958 nhưng 3 mùa bóng sau bị xuống hạng.
Vài lần lên xuống hạng cho đến lúc Lazio đoạt Scudetto đầu tiên mùa giải 1973/74 khi đưuợc dẫn dắt bởi huyền thoại Giorgio Chinaglia. Nhưng 5 năm đen tối nhất của Lazio xảy ra khi phải xuống hạng vì phá sản và thất bại 1 trận play-off, xuống Serie C năm 1987.
Sergio Cragnotti mua lại câu lạc bộ vào 1992 và tiền của ông đã giúp Lazio trở thành đội mạnh ở Italia và châu Âu. Từ 1997 Biancocelesti đã chiến thắng 1 Scudetto, 1 cúp C2, 1 Siêu cúp châu Âu, 1 Siêu cúp Italia và 2 Cúp Italia. Tuy nhiên, nhờ bán cầu thủ ồ ạt và giảm luơng mới giúp Lazio tránh việc phá sản.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1900
Biệt danh: Biancocelesti
Chủ tịch: Claudio Lotito
HLV: Mimmo Caso
Địa chỉ: Via di Santa Cornelia, 14 -00060 Formello, Rome
Điện thoại: 0039-06-9040601
Fax: 0039-06-9040127
Website: www.sslazio.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo Formello
Màu áo: Xanh nhạt - Trắng
SVĐ: Olimpico
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Silvio Piola - 143 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Giuseppe Signori (92-93) & Hernan Crespo (00-01) - 26 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Aldo Puccinelli - 339 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Hernan Crespo (từ Parma 00-01) - 35,7 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Christian Vieri (đến Inter 99-00) - 32,1 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: vô địch (2 lần: 1974/2000)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 72 điểm (1999-00)
- Mùa giải ít điểm nhất: 15 điểm (84-85)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 9-1 trước Modena (31-32)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-5 trước Fiorentina (59-60)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 6-2 trước Palermo (56-57)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-8 trước Ambrosiana (33-34)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 21 trận (99-00 & 00-01)
- Mùa giải thắng ít nhất: 2 trận (84-85)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 21 trận (60-61)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 3 trận (72-73)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 69 bàn (94-95)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 16 bàn (84-85)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 66 bàn (33-34)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 16 bàn (72-73)
Lecce
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365153_lecce.jpg
Lecce có sự khởi đầu kém may khi thành lập 1 CLB thể thao năm 1908 nhưng không lâu sau bị khánh kiệt. Đến khi hợp nhất giữa phe địa phuơng Juventus và Gladiator thành Unione Sportiva Lecce đuợc ra đời năm 1927. Những chiếc đen - trắng được thay bằng màu vàng - đỏ. Nhưng 1 lần nữa câu lạc bộ bị đình chỉ hoạt động từ 1932-36.
Lecce trôi dạt giữa Serie C và giải bán chuyên nghiệp vào những năm 1950. 18 năm ở Serie C cho đến khi lên Serie B năm 1977 và lần đầu tiên lên Serie A năm 1985. Do có ít kinh nghiệm đỉnh cao nên đến nay chưa bao giờ Lecce trụ lại 3 mùa giải liên tiếp ở Serie A.
Giữa 1994-99, Lecce 2 lần rớt hạng liên tiếp xuống Serie C1. Sau đó 3 lần lên hạng để cuối cùng quay trở lại Serie A.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1908
Biệt danh: Giallorossi
Chủ tịch: Quirico Semeraro
HLV: Zdenek Zeman
Địa chỉ: Via Templari, 11 - 73100 Lecce
Điện thoại: 0039-0832-240211
Fax: 0039-0832-243171
Website: www.uslecce.it
Trung tâm tập luyện: Stadio Comunale, Calimera
Màu áo: Đỏ - Vàng
SVĐ: Via Del Mare
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Anselmo Bislegni - 83 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Javier Chevanton (03-04) - 19 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Michele Lorusso - 417 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Ernesto Chevanton (từ Danubio 01-02) - 3,5 triệu bảng
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Javier Chevanton (đến Monaco 03-04) - 7,5 triệu bảng
Kỷ lục tại Serie A
- Thứ hạng cao nhất: hạng 9 (1989)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 41 điểm (03-04)
- Mùa giải ít điểm nhất: 11 điểm (93-94)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 5-1 trước Atalanta (93-94)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-5 trước Inter (97-98)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 2-0 trước Ascoli (89-90), 3-1 trước Reggina (03-04)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-6 trước Udinese (97-98), trước Inter (99-00)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 11 trận (03-04)
- Mùa giải thắng ít nhất: 3 trận (93-94)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 26 trận (93-94)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 11 trận (89-90)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 40 bàn (00-01)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 20 bàn (90-91)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 72 bàn (97-98)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 35 bàn (88-89)
Livorno
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365169_live.jpg
Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Livorno có 12 mùa giải chơi ở Serie A. Tuy nhiên, CLB này đã vắng bóng ở giải hạng Nhất bóng đá Italia kể từ năm 1949. Kết thúc mùa bóng 1942/43, suýt nữa Livorno chạm tay vào Scudetto khi chỉ kém Torino xếp nhất vỏn vẹn 1 điểm.
Thật khó để Livorno vượt qua thành tích ấy. Trong hơn 50 năm qua, các chàng trai Tusca đã phải chơi ở giải đấu thấp hơn. Cuối thập niên 90, Livorno còn chơi ở Serie C. Nhưng với sự xuất hiện của ông Aldo Spinelli trong vai trò Chủ tịch, Livorno phấn đấu cho mục tiêu thăng hạng. Và họ đã thành công.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1915
Biệt danh: Granata
Chủ tịch: Aldo Spinelli
HLV: Franco Colomba
Địa chỉ: Via Indipendenza, 16 - 57126 Livorno
Điện thoại: 0039-0586-219295
Fax: 0039-0586-213552
website: www.livornocalcio.it
Màu áo: Đỏ - Đỏ
SVĐ: Armando Picchi
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Teresio Piana - 36 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Renato Raccis (46/47)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Mario Stua - 177 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Marco Amelia - 500.000 bảng (từ Roma mùa giải 01/02)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Giorgio Chillini (đến Juve - 1,2 triệu bảng mùa giải 04/05)
Kỷ lục tại Serie A
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 43 điểm (42/43)
- Mùa giải ít điểm nhất: 20 điểm (30/31)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 4-1 trước Roma (46/47)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-3 trước Torino (47/48)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 3-0 trước Tristina (46/47)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-6 trước Juve (47/48)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 18 trận (42/43)
- Mùa giải thắng ít nhất: 6 trận (30/31)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 20 trận (30/31)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 5 trận (42/43)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 52 bàn (42/43)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 28 bàn (34/35)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 62 bàn (47/48)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 34 bàn (42/43)
Messina
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365483_Messina.jpg
CLB Bóng đá Messina ra đời từ ý tưởng của một nhóm sinh viên vào năm 1906. Tuy nhiên, sau đó bị tan ra khi chiến tranh thế giới 1 nổ ra. Khi trở lại, Messina có tên mới là Messinese, sau đó chuyển thành AC Messina và đây cũng là tên chính thức của CLB khi lấy cột mốc thành lập năm 1972.
Đến thời điểm đó, Messina chỉ một lần chạm tới giải đấu đỉnh cao và ít ai tin, họ sẽ tạo ra một cơ hội khác cho mình để chen chân trở lại Serie A, nhất là khi vào những năm 90 do khủng hoảng tài chính, Messia đã rơi rụng khỏi giải bóng đá chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, niềm đam mê bóng đá của các fan đội bóng Messia không bao giờ tắt, là một động lực lớn lao đưa CLB hoạt động trở lại sau thời kỳ đen tối. Nhưng, đó cũng chỉ là ở các giải Serie C1, sau đó lên C1 (2000) và Serie B ở năm sau đó. Đến mùa giải 2003/04 thì điều kỳ diệu đã đến với Messina, trở lại Serie A sau 39 năm. Không chỉ thế, Messina đang có khỏang thời gian đẹp khi chưa thua trận nào sau 5 lượt đấu và đi vào lịch sử nhờ đánh bại cả ĐKVĐ AC Milan lẫn á quân Roma.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1972
Biệt danh: Giallorossi
Chủ tịch: Pietro Franza
HLV: Bortolo Mutti
Địa chỉ: Via Acireale, Zona Zir - 98124 Messina
Điện thoại: 0039-090-2282300
Fax: 0039-090-2282390
Website: www.mondomessina.it
Trung tâm tập luyện: Stadio Giovanni Celeste
Màu áo: Trắng - Vàng
SVĐ: San Filippo
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Paolo Morelli - 13 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Romano Bagatti - 10 bàn (64/65)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Antonio Ghelfi - 67 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Arturo Di Napoli - 500.000 bảng (từ Palermo mùa giải 03/04)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Salvatone Schillaci - 3 triệu bảng (đến Juve mùa giải 89/90)
Kỷ lục tại Serie A
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 28 điểm (63/64)
- Mùa giải ít điểm nhất: 22 điểm (64/65)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 4-0 trước Lazio (64/65)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-3 trước Fiorentina (63/64, 64/65)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 1-0 trước Bari & Fiorentina (63/64), Atalanta, Roma (64/65)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-4 trước Inter (63/64)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 9 trận (63/64)
- Mùa giải thắng ít nhất: 7 trận (64/65)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 19 trận (64/65)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 15 trận (63/64)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 26 bàn (64/65)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 25 bàn (63/64)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 46 bàn (63/64)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 44 bàn (64/65)
Palermo
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365625_palermo.jpg
Đã 31 năm, trang phục hồng - đen của Palermo vắng bóng ở giải đấu cao nhất bóng đá Italia. Mãi đến mùa hè vừa qua, họ mới tái xuất hiện. Với sự đầu tư của Chủ tịch Maurizio Zamparini, Palermo giờ đây có thể là đối thủ của nhiều CLB hàng đầu.
Người ta sẽ không thể quên niềm vui sướng vô bờ bến của người dân yêu bóng đá nơi đảo Sicilia và cái quang cảnh ăn mừng chiến thắng khi đội chính thức đoạt vé dự Serie A. Là một trong những vùng nghèo nhất của Italia, Palermo từng tuyên bố giải tán vào năm 1986. Nhưng rồi Palermo vẫn tiếp tục tồn tại và giờ đây đang phấn đấu để trụ lại lâu dài ở Serie A.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1900
Biệt danh: Rosaneri
Chủ tịch: Maurizio Zamparini
HLV: Francesco Cuidolin
Địa chỉ: Viale del Fante 11, 90146 Palermo
Điện thoại: 0039-091-6901211
Fax: 0039-091-6700263
Website: www.ilpalermocalcio.it
Trung tâm tập luyện: Stadio Renzo Barbera
Màu áo: Hồng - Đen
SVĐ: Renzo Barbera
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Dante Di Maso - 40 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Dante Di Maso - 15 bàn (50/51)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Gino Giaroli - 151 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Simone Barone - 3,5 triệu bảng (từ Parma mùa giải 04/05)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Davide Bombardini - 2 triệu bảng (Roma mùa giải 02/03)
Kỷ lục tại Serie A
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 36 điểm (48/49 & 51/52)
- Mùa giải ít điểm nhất: 17 điểm (72/73)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 8-0 trước Pro Patria (50/51)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-4 trước Roma (62/63)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 3-0 trước Fiorentina (48/49)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-9 trước Milan (50/51)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 14 trận (48/49, 50/51, 51/52)
- Mùa giải thắng ít nhất: 3 trận (72/73)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 19 trận (56/57)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 12 trận (61/62)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 57 bàn (48/49)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 13 bàn (72/73)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 63 bàn (56/57)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 35 (61/62)
nguồn:vietnamnet
Tonythai
02-12-2004, 16:47
Parma
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365641_parma.jpg
CLB Bóng đá Verdi ra đời năm 1913 nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà soạn nhạc nổi tiếng Giuseppe Verdi. Đến tháng 12 cùng năm, Verdi được đổi tên thành Parma với màu áo trắng có 1 đường kẻ ngang là màu đen.
Năm 1931, Parma được gọi là AS Parma, 1 CLB nhỏ trải qua nhiều năm ở giải Serie B và C trước khi bước vào giải đấu nghiệp dư (1967). Cái tên của đội thay đổi theo quyền sở hữu của các ông chủ, cho đến khi AC Parmense kết hợp với Parma AC vào năm 1970 để trở thành AC Parma hôm nay.
Lần đầu tiên Parma thi đấu ở Serie A vào năm 90 và lập tức giành 1 suất dự Cúp UEFA. Trong lịch sử của mình, Parma đoạt 2 Cúp UEFA, 3 Cúp Italia, 1 Cúp C2, Siêu Cúp Italia và Siêu Cúp châu Âu.
Tuy nhiên, do sự phá sản của nhà tài trợ Parmalat, Parma lâm vào khủng hoảng tài chính. Còn tiếp tục tồn tại như hiện nay đã là một điều may mắn với Parma.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1913
Biệt danh: Gialloblu
Chủ tịch: Guido Angiolini
HLV: Silvio Baldini
Địa chỉ: Viale Partigiani d'Italia, 1 - 43100 Parma
Điện thoại: 0039-0521-505111
Fax: 0039-0521- 505100
Website: www.acparma.it
Trung tâm tập luyện: Campo Sportivo Collechio
Màu áo: Vàng - Xanh
SVĐ: Campo Sportivo Collechio
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Hernan Crespo - 80 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Hernan Crespo - 22 bàn (99/00)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Antonio Benarrivo - 258 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Hidetoshi Nakata - 20 triệu bảng (từ Rona mùa giải 01/02)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Hernan Crespo - 35,7 triệu bảng (đến Lazio 00/01)
Thành tích tại Cúp châu Âu: - 1 Cúp C2 (92/93), 2 Cúp UEFA (94/95, 98/99), 1 Siêu Cúp châu Âu (93/94)
Kỷ lục tại Serie A
Thành tích: - Hạng 2 (1997); Cúp Italia: 3 (92/99/02); Siêu Cúp Italia: 1 (9)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 63 điểm (94-95 & 96-97)
- Mùa giải ít điểm nhất: 38 điểm (90/91 & 91/92)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 5-0 trước Perugia (00/01)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-4 trước Fiorentina (99/00)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 4-0 trước Cagliari &Genoa (93/94)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-5 trước Juventus (90/91 & 93/94)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 18 (94/95)
- Mùa giải thắng ít nhất: 11 (91/92)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 14 (01/02)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 7 (91/92, 96/97 & 97/98)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 55 bàn (97/98 & 98/99)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 32 bàn (91/92)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 47 (01/02)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 26 (96/97)
Reggina
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365677_Reggina.jpg
Được thành lập với tên ban đầu là Unione Sportiva Reggio Calabria vào năm 1914. Sau đó, CLB này còn đổi tên rất nhiều lần. Nhưng cuối cùng lấy tên chính thức Reggina (1944) dựa theo tên của thành phố Reggio Calabria.
Reggina trải qua nhiều năm ở các giải thi đấu cấp thấp, lận đận ở giải hạng Nhì gần 1 thập niên (giai đoạn những năm 60 và 70) để sau đó xuống hạng thấp hơn Serie C. Tuy nhiên, thời gian gần đây thì tình hình có khá hơn với Reggina.
CLB lên chơi ở Serie B vào năm 1995 với luồng sinh khí mới và người hâm mộ đội bóng này đã vô cùng vui sướng khi lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1999, Reggina điền tên vào Serie A. Nhưng 2 năm sau đó, Reggina lại rớt hạng khi thua ở lượt trận play-off trước khi trở lại giải đấu cao nhất của bóng đá Italia trong mùa giải kế tiếp.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1914
Biệt danh: Amaranti
Chủ tịch: Pasquale Foti
HLV: Walter Mazzarri
Địa chỉ: Via Tommaso Gulli, 1 - 89127 Reggio Calabria
Điện thoại: 0039-0965-385714
Fax: 0039-0965-313238
Website: www.regginacalcio.it
Trung tâm tập luyện: Centro Sportivo S Agata
Màu áo: Đỏ tươi - Đen
SVĐ: Orneste Granillo
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Francesco Cozza
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Mohamed Kallon - 11 bàn (99/00)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Lorenzo Stovini - 66 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Emiliano Bonazzoli - 3,5 triệu bảng (từ Parma mùa giải 03/04)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Bruno Cirillo - 4,4 triệu bảng (đến Inter 00/01)
Kỷ lục tại Serie A
- Thành tích cao nhất: Hạng 12 (99/00)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 40 điểm (99/00)
- Mùa giải ít điểm nhất: 34 điểm (03/04)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 4-1 trước Como (02/03)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-4 trước Roma (99/00)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 3-0 trước Verona (00/01)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-6 trước Inter (03/04)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 10 trận (00/01)
- Mùa giải thắng ít nhất: 6 trận (03/04)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 17 trận (00/01)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 12 trận (99/00 & 03/04)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 38 bàn (02/03)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 29 bàn (03/04)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 53 bàn (02/03)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 42 bàn (99/00)
Sampdoria
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365735_samp.jpg
AC Sampdoria ra đời vào năm 1946 dưới sự hợp tác của Andrea Doria và Sampierdarenese. Chơi ở Serie B vào năm 1966, kiếm suất thăng hạng sau đó và nằm giữa bảng xếp hạng trong gần 1 thập niên.
Năm 1979, ông Paolo Mantovani lên giữ chức Chủ tịch CLB và tìm ra phương thức giúp Sampdoria trở thành một trong những đội bóng đáng gờm nhất của làng bóng Italia. Đội bóng với sự góp mắt của các ngôi sao như Gianluca Vialli và Roberto Mancini đã đoạt Scudetto năm 1991, Cúp C2, Siêu Cúp Italia, Coppa Italia... Có lẽ, điều tiếc nuối nhất của Chủ tịch Mantovani là chứng kiến đội bóng của ông bị Barcelona đánh bại trong trận chung kết châu Âu 1992.
Kể từ khi vị Chủ tịch này qua đời, Sampdoria phải vật lộn với khó khăn về tài chính, buộc phải bán hàng loạt cầu thủ đáng gia, trải qua 4 mùa giải ở Serie B. Tuy nhiên, với sự ra tay của ông chủ mới: Riccardo Garrona, Sampdoria đã trở lại Serie A.
THÔNG TIN VỀ CLB:
Năm thành lập: 1946
Biệt danh: Blucerchiati
Chủ tịch: Riccardo Garrone
HLV: Walter Novellino
Địa chỉ: Campetto, 2 - 16123 Genoa
Điện thoại: 0039-010-2549111
Fax: 0039-010-2549160
Website: www.sampdoria.it
Trung tâm tập luyện: Moena
Màu áo: Xanh - Trắng
SVĐ: Luigi Ferraris.
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Roberto Mancini - 132 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Sergio Brighenti - 27 bàn (60/61)
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Roberto Mancini - 454 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: David Di Michele - 8,5 triệu bảng (từ Salernitana mùa giải 01/02)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Stefano Fiore - 15,5 triệu bảng (từ Lazio 01/02)
Kỷ lục tại Serie A
Thành tích: Đoạt Scudetto (1991); Vô địch Coppa Italia: 4 (1985/88/89/94)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 53 điểm (96/97)
- Mùa giải ít điểm nhất: 20 điểm (73/74)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 7-0 trước Pro Patria (55/56)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-5 trước Inter (65/66 & 69/70)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 7-3 trước Venezia (49/50) và 6-2 trước Padova (56/57)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 1-7 trước Inter & Udinese (55/56 & 60/61)
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 20 trận (09/91)
- Mùa giải thắng ít nhất: 4 trận (74/75)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 18 trận (49/50)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 3 trận (90/91)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 74 bàn (48/49)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 16 bàn (72/73)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 76 bàn (50/51)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 21 bàn (84/85 & 86/87
Siena
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365767_siena.jpg
Màu áo đen trắng dành cho cho bộ môn bóng đá tại CLB thể thao và đua xe đạp Siena trong thị trấn bé nhỏ Tuscan được ra mắt vào năm 1908. Các phong trào hoạt động thể thao nơi đây được phát triển nhờ giới sinh viên đại học.
Siena trở thành 1 CLB chuyên nghiệp vào năm 1921, hài lòng với việc chơi ở giải hạng 2 và 3. Tân Chủ tịch Paolo De Luca lên nắm quyền vào mùa giải trước và ngay lập tức mang đến niềm vui nhất trời cho các CĐV khi đưa đội có mặt tại Serie A lần đầu tiên trong lịch sử.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1904
Biệt danh: Bianconeri
Chủ tịch: Paolo De Luca
HLV: Luigi Simoni
Địa chỉ: Via Montanini, 87 - 53100 Siena
Điện thoại: 0039-0577-281084
Fax: 0039-0577- 281083
Website: www.acsiena.it
Trung tâm tập luyện: Stadio Comunale di Santa Fiora
Màu áo: Đen - Trắng
SVĐ: Artemio Franchi
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc mọi thời đại: Eugenio Pazzaglia - 53 bàn
- Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa giải: Simone Tiribochi - 17 bàn
- Cầu thủ có số lần khoác áo nhiều nhất: Andres Pepi - 218 lần
- Cầu thủ đắt giá nhất: Arano - 1,5 triệu bảng (từ Racing A mùa giải 03/04)
- Hợp đồng chuyển nhượng cao giá nhất: Fioretti (từ Bari mùa giải 88/89)
Kỷ lục tại Serie A
Thành tích: hạng 13 (03/04)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 34 điểm (03/04)
- Mùa giải ít điểm nhất: 34 điểm (03/04
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 4-0 trước Modena và Empoli (03/04)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 1-3 trước Juve (03-04)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 3-1 trước Modena (03/04)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-6 trước Roma (03/04).
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 8 trận (03/04)
- Mùa giải thắng ít nhất: 8 trận (03/04)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 16 trận (03/04)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 16 trận (03/04)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 41 bàn (03/04)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 41 bàn (03/04)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 54 bàn (03/04)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 54 bàn (03/04)
Udinese
http://thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images365775_udinese.jpg
Udinese được thành lập vào năm 1896, trong đó bóng đá chỉ là một phần nhỏ trong các hoạt động thể thao của CLB này. Năm 1923, cái tên Udinese gia nhập vào hệ thống thi đấu Calcio và lần đầu tiên xuất hiện ở Seire A vào năm 1950.
Thời khắc đáng nhớ nhất tại Serie A mà Udinese từng có được là xếp hạng 2 sau Milan tại mùa giải 1954-55. Tuy nhiên, cũng trong mùa giải đó, Udinese bị rớt hạng. Mặc dù trở lại giải đấu cao nhất của bóng đá Italia ngay năm sau đó. Nhưng Udinese cũng có 2 mùa bóng liên tiếp chơi ở Serie C và phải mất 15 mới khôi phục trở lại dưới thời HLV Massimo Giacomini từng cùng đội lên hạng 2 lần.
Thập niên những năm 80 được xem là giai đoạn tươi sáng cho CLB Friuli nhưng một lần nữa, Udinese rơi vào thảm họa khi rớt hạng vào năm 1987. Lên chơi ở Serie A, HLV Alberto Zaccheroni dẫn dắt Udinese đoạt thứ hạng 3 mùa giải 1997/98 và lần đầu tiên giành suất dự Cúp UEFA.
THÔNG TIN VỀ CLB
Năm thành lập: 1896
Biệt danh: Bianconeri
Chủ tịch: Franco Soldati
HLV: Luciano Spalletti
Địa chỉ CLB: Via A e A Candolini, 2 - 33100 Udine
Điện thoại: 0039-0432-54491
Fax: 0039-0432-544933
Website: www.udinese.it
Trung tâm huấn luyện: Centro Sportivo Udinese
Màu áo: Đen - Trắng
SVĐ: Stadio Friuli, sức chứa: 41,825
NHỮNG KỶ LỤC
- Cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất: Walter D'Odorico - 87 bàn.
- Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải: Oliver Bierhoff - 27 bàn (mùa bóng 1997/98).
- Cầu thủ khoác áo nhiều nhất: Valerio Bertitto - 260 lần.
Kỷ lục tại Serie A
- Thành tích cao nhất: Hạng 3 (1998)
- Mùa giải đạt số điểm cao nhất: 64 điểm (1997-98)
- Mùa giải ít điểm nhất: 15 điểm (86/87)
- Thắng lợi sân nhà đậm nhất: 7-0 trước Napoli (57/58)
- Thất bại sân nhà lớn nhất: 0-6 trước Inter (60/61)
- Chiến thắng sân khách đậm nhất: 5-0 trước Genos (83/84) và Perugia (99-00)
- Thất bại sân khách nặng nề nhất: 0-7 trước Fiorentina và Milan (58-59).
- Mùa giải có số trận thắng nhiều nhất: 19 trận (97/98)
- Mùa giải thắng ít nhất: 3 (79-80)
- Mùa giải thất bại nhiều nhất: 23 trận (61-62)
- Mùa giải thất bại ít nhất: 4 (82/83)
- Mùa giải có số bàn thắng cao nhất: 62 bàn (97/98)
- Mùa giải có số bàn thắng ít nhất: 24 bàn (79/80 & 80/81)
- Mùa giải để lọt lưới nhiều nhất: 63 bàn (61/62)
- Mùa giải để lọt lưới ít nhất: 29 (82/83).
nguồn:vietnamnet
Trời ơi mấy bác làm ơn tha dùm cái, stop ngay cái việc lấy dữ liệu cuả bên vietnamnet ngay đi ( đã có 1 cộng tác viên bên đó lên tiếng khiếu nại rồi đấy ). Gì mà post tràn lan thấy mà ớn!!!
Tới đây thôi nhé! Đọc thông tin lấy tư liệu rồi tự sử đi ( tự viết 1 bài cuả mình ), nếu còn tình hình này mà bên kia nói nưã là tui buộc phải lock cái topic này.
Xú Quận Mã
06-12-2004, 14:43
Câu chuyện bắt đầu vào năm 1894,một anh chàng người Anh có tên Charles Miller rời thành phố sương mù Southampton và khám phá miền đất lạ Brazil thông qua 1 hợp đồng với CT đường sắt Sao Paolo.Trong số hành trang của anh có 2 quả bóng da,đến Brazil, Miller đã thành lập 1 đội bóng và chính anh cũng không ngờ rằng mình đã đem đến cho người dân Brazil 1 tôn giáo mới là bóng đá.Chuyện kể rằng chính với 1 trong 2 quả bóng da đó mà ĐT Brazil (Selecao) đã dành chiến thắng đầu tiên ở 1 giải quốc tế,đó là Copa Roca năm 1914,một cuộc chạm trán giữa Brazil và Argentina.
Mối tình giữa Selecao và cúp thế giới bắt đầu năm 1930 ở Uruguay bằng 1 kỷ niệm đau buồn,sớm bị loại bởi ĐT Nam Tư.Năm 1938,với "viên kim cương đen" Leonidas da Silva-chuyên gia của cú đá móc quay người có một không hai- ĐT Brazil là 1 ứng cử viên,trong 1 trận đấu Leonidas đã đi chân đất vào sân và khi trọng tài yêu cầu ông mang giày để được thi đấu ông đã xỏ giày và ghi liên tiếp 3 bàn thắng.Tiếc rằng do quá chủ quan HLV Brazil đã cho Leonidas nghỉ trong trận bán kết gặp Ý để giữ sức cho trận CK và Brazil đã bị loại.Hơn 10 năm sau ngay tại thánh địa Maracana,Jair và cả đất nước Brazil đành gạt lệ trước bàn thắng của Ghiggia,Brazil thua 1-2,giấc mơ vẫn chưa thành."Futebol"-bóng đá- là máu là thịt của người Brazil và năm 1958 ở Thuỵ Điển chính là 1 điểm mốc của bóng đấ Brazil,chưa bao giờ người hâm mộ bóng đá được chứng kiến 1 Mondial hay đến thế,với 1 chùm sao sáng như "vua làm bàn" Just Fontaine,"Napoleon" Raymont Kopa,"giáo sư" Didi,"con nhện đen" Lev Yashine...nhưng có 1 ngôi sao sáng nhất, 1 "ông vua",đó là Pele.Với cuộc cách mạng chiến thuật của HLV Vincent Feola,đội hình chiến thuật 4-2-4,Pele và đồng đội đã vượt qua ĐT Thuỵ Điển ở trận CK với tỷ số khó tin 5-2.Bốn năm sau tại Chilê đội hình tấn công của Selecao với đầu tàu Pele đã vượt qua lối đá bê tông của Tiệp Khắc để đăng quang lần thứ 2.Nhưng ấn tượng hơn tất cả là tại Mehico 70,với con cáo già Zagallo,Selecao đã đem đến cho người xem 1 đội hình hoàn hảo nhất đã đem lại cho khán giả niềm hưng phấn tột bậc với Felix làm thủ môn,hàng hậu vệ gồm Carlos Alberto,Brito,Peazza,Everaldo,tiền vệ Clodoaldo,Gerson,Tostao,tiền đạo Pele,Rivelino,Jairzinho.Một ngày tháng 6 -1970 trên SVĐ Arteca trước sự có mặt của 107000 khán giả,Pele đã nhảy cao hơn tất cả các HV ĐT Ý đánh đầu ghi bàn thắng lịch sử,Brazil là nước đầu tiên 3 lần đoạt cúp thế giới,cúp nữ thần vàng đã ở lại và biến mất vĩnh viễn ở Brazil.Trong suốt 1 thời gian dài sau đó tình hình bóng đá Brazil liên tục xấu đi,những Rivelino,Falcao,Zico...đã không đem lại thành công cho bóng đá Brazil cho đến năm 1994 với nghệ sĩ thiên tài Romario và 1 HLV thực dụng Parreira,Selecao lại 1 lần nữa chiến thắng trong trận CK với Ý để gắn lên chiếc áo vàng truyền thống ngôi sao thứ 4.Năm 2002 Brazil lại 1 lần nữa đoạt cúp thế giới ở ngoài châu lục với ngôi sao Ronaldo và 1 HLV thực dụng khác,Felipe Scolari,hướng tới cúp thế giới 2006 tại Đức những Ronaldo,Kaka,Ronaldinho...đang quyết tâm đem lại chức vô địch lần thứ 6 như 1 sự khẳng định Selecao hơn tất cả, đầy đam mê và mạnh mẽ.
So_No_Mi
22-12-2004, 12:21
Phải chăng bóng đá phát xuất từ Trung Quốc , khi từ những năm 1400 trước Công Nguyên đã xuất hiện môn chơi gọi là "Tsu-Chu" với một quả bóng tròn được độn bằng rơm được 2 phe tìm cách đưa qua khoảng trống giữa hai chiếc cột cách nhau khoảng 10 met nối với nhau bằng một sợi dây căng cách mặt đất 2 mét ? Hay nó xuất phát từ Nhật Bản khoảng 14 thế kỷ trước , tại đất nước Mặt Trời mọc xuất hiện một môn chơi chuyền bóng cho nhau gọi là " Kanari"? Nhiều người còn cho rằng môn bóng đá còn xuất hiện sớm hơn nữa , từ thơì cổ Hy Lạp khi những người đàn ông ( và cả đàn bà khoả thân ) xoa trên mình một lớp dầu , đưa bóng cho nhau nhịp nhàng như môn vũ bale . Cách chơi này có thể là khởi thủy cho một môn thể thao mà người cổ Hy Lạp gọi là "Harpaston" , với quả bóng được truyền đi bằng mọi cách vượt qua vạch giới hạn ( thường ở đầu hai thành phố ) trong sự cản phá của một đội đối phương . Đã có truyền thuyết cho rằng chính Alexandre Đại Đế của vùng Macedonia đã khuyến khích thần dân cuả mình chơi môn naỳ và bản thân ông cũng không ít lần tham gia .
Môn Harpaston này đã được phát triển sang La Mã với tên gọi chệch đi "Harpastum" mà chính hoàng đế Julius Caesar cũng là người hâm mộ nhiệt tình . Tại La Mã , môn này mang nhiêù màu sắc bạo lực hơn khi được dành cho chiến binh . Binh lính La Mã thường chơi môn này giữa các trận đánh như một cách để giữ cho thể lực lúc nào cũng sung mãn . Đế quốc La Mã phát triển đến đâu là môn Harpastum lan theo đến đó , kể cả nước Anh ( vào khoảng năm 54 trước Công Nguyên ) . Cũng có người cho rằng bóng đá phát triển từ thời trung cổ ( phát triển nhất là khoảng thế kỷ 12-13 ) tại vùng Florence ( thuộc nước Ý hiện nay ) với cái tên " Calccio" . Môn này nhanh chóng phát triển đến thành Roman và một trong những trận đấu hấp dẫn nhất trong năm diễn ra taị quãng trường thánh Peter , xung quanh điện Vatican , với sự thưởng thức từ trên bao lơn của các Đức Giáo Hoàng Leo X ( 1513-1521) , Clement VII ( 1523-1534) , Uban VIII (1623-1644) . Môn Calccio này mất dần tính phổ cập trong thế kỷ 18 và chỉ bắt đầu được chơi lại từ cuối thế kỷ 19 trong những lễ hội truyền thống như một cách hoài cổ chứ không còn là một môn thể thao thuần tuý . Môn Calccio này đã vượt biên giới sang Pháp để phát triển thành một môn chơi tương tự với tên "Soule" . Sau đó môn Soule đã vượt biển sang Anh rôì dần dần biến thành môn bóng bâù dục (Rugby) , một môn cho phép người chơi va chạm nhau một cách thô bạo .
Như thế có rất nhiêù nước -cả phương Đông lẫn phương Tây - tự nhận mình là quê hương của bóng đá . Nhưng dù chưa có cơ sở xác thực nào để khẳng định đâu là đất tổ tích của môn thể thao đến nay được coi là Vua , vẫn có một điều không ai phủ nhận : dù mang tên là Tsu-Chu (Trung Quốc) , Kenari (Nhật Bản) , Harpaston (Hy Lạp) , Harpastum(La Mã) hay Calccio (Florence) thì môn chơi này vẫn không thể thiêú quả bóng . Dù được làm bằng cỏ , rơm rêu , lông súc vật ,tóc người , bao tử súc vật , cao su hay những vật liệu khác thì quả bóng vẫn là vật được quan tâm nhất . Từ những quả bóng làm bằng những nguyên liệu thô sơ ấy , để có một quả bóng làm bằng chất liệu tổng hợp như hiện nay , đã có một chiêù dài lịch sử hàng nghìn năm .
Tuy nhiên nước Anh vẫn có nhiều cơ hội được thừa nhận là thuỷ tổ của môn bóng đá vì từ những xa xưa trong những bữa tiệc mừng chiến thắng , lính Anh dùng ... đầu lâu của những tử sỹ thuộc đạo quân Đan Mạch xâm lăng để đá qua đá lại . Từ năm 1175 , những lễ hội của Anh không thể thiếu trò chơi đá bóng . Đến giai đoạn này quả bóng đã được làm bằng vật liệu khác chứ không còn là đầu người . Nhưng thời ấy chỉ có giới hạ lưu và bình dân chơi môn này , vì trong trận đấu các đấu sĩ không nề hà bất cứ hành động nào - húc , đấm ,đá , cắn - và những va chạm nặng nề trong khi chơi thường gây ra những thương tích nặng nề thậm chí cả tử vong . Thêm nữa các cuộc trả thù cuả hai phe đã nhiêù lần gây naó động trên đường phố và gây hại đến nhiều người khác . Theo thỉnh cầu của giới quý tộc , ngày 13/4/1314 , vua Edward III (trị vì từ 1307-1327) đã ban lệnh cấm chơi môn này , ai không tuân lệnh sẽ bị chặt đầu . Các vị vua Anh sau đó (Richard III , Henry IV , Henry VIII) đều duy trì lệnh cấm này . Nhưng dù các hình phạt vô cùng nghiêm khắc vẫn không thể buộc tất cả mọi người từ bỏ môn chơi này . Băn 1581 , lệnh cấm được nới lỏng hơn khi nữ hoàng Elizabeth II chỉ cấm tuyệt đối môn này ở London , vì cho rằng việc chơi bóng trên đường phố gây thiệt hại cho các cửa hàng.
..........
[diendanbongda]
Tonythai
07-02-2005, 09:22
Chương 1:LỊCH SỬ BÓNG TRÒN THẾ GIỚI
THỜI KÌ SƠ KHAI
-Truyền thuyết kể rằng đã từ lâu đất nước Trung Hoa cổ xưa,trong các ngày hội đình đám ở thôn quê thường có tổ chức đá cầu.Bọn trẻ lóc nhóc vẫn là đám khán giả đông đảo nhất đứng xung quanh các cuộc thi đấu,tình cờ 1 đứa xin được cái bao tử heo.thổi phồng lên và rủ các bạn bắt chước người lớn đá qua đá lại cho vui.Dần dà thấy trò chơi hay hay,người ta nghĩ ra sáng kiến bọc thêm da ở bên ngoài bao tử heo để đá cho bền,đó chính là những quả bóng da đầu tiên trong lịcg sử loài người.Dân tộc Tring Hoa đã đặt ra trò chơi"Tsu Chu" từ khoảng 2500 năm trước đây
-Tại Châu Âu mỗi khi mùa Đông đến thì bề mặt các sông ngòi hồ ao đóng cứng thành băng,chạy nhảy trượt băng là trò chơi rất thú vị,người lớn lẫn trẻ con đều ưa thích chia phe để đá những mẫu gỗ nhỏ hình tròn dẹp trên bền mặt băng tuyết.Ở những vùng núi cáo thuộc Nam Mỹ và Đông Nam Á cho tới ngày nay vài dân tộc thiểu số vẫn còn giữ trò chơi cổ truyền đá quả banh đan băng tre.Nói chung,mỗi dân tộc đều có trò chơi na ná giống như môn bóng tròn dưới nhiều hình thức
-Từ thời xa xưa người thổ dân da đỏ Nam Mỹ đã biết dùng nhựa cao su để bẫy dính chân thú rừng,chim chóc.cây cao su nguyên thuỷ sống tại rừng già miền châu thổ sông Amazon chính là tổ tiên xuất phát của các giống cao su gieo trồng khắp nơi trên thế giới hiện nay.Chất nhưa cao su sử dụng làm nguyên liệu chế tạo những quả banh có sức đàn hồi tốt và có độ bền cao,nhờ đó môn bóng tròn ngày càng được phổ biến rộng rãi ra thêm.Đến thế kỷ 19 thì môn bóng tròn rất được ưa thích tại nhiều quốc gia,mỗi nơi có 1 cách chơi khác nhay,tuỳ theo sở thích mà đặt ra luật lệ về khung thành,số lượng cầu thủ,diện tích cỏ.....Năm 1848 đại học Cambridge tại Anh đã biên soạn bộ luật đầu tiên cho môn bóng tròn rồi in thành văn bản.Bộ luật này nhanh chóng được áp dụng thống nhất khắp nơi và luôn sửa đổi để phù hợp theo nhu cầu thực tế sân cỏ
-Thế vận hội Olympic đã đóng góp 1 vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tiến triển cảu lịch sử quả bóng tròn thế giới.Ko ai biết đích xác nhưng phỏng đoán từ năm 776 trước công nguyên cứ các mỗi 3 năm ngày hội truyền thống của dân tộc Hy Lạp lại tổ chức tưng bừng ở vận động trường Olympic tại thủ đô Athen cổ kính.Nguyên thuỷ Olimpic chỉ có 1 mon thi chay nhanh,giải thưởng vinh quang dành cho người chiến thắng là vòng vương miện đan bằng các nhánh cây ô liu.Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử,ngày hội Olympic vẫn bền bỉ tồn tại và phát triển thêm 1 số môn thi đấu như xe ngựa,đánh bốc,đô vật....Đến năm 1892 vì ngưỡng mộ hình ảnh cao đẹp của Olympic nên bá tước người Pháp Pierre de Coubertin đã đề ra sáng kiến,biến ngày hội riêng của Hy Lap thành thế vận hội chung cho toàn thế giới.Năm 1896 thế vận Olympic đầu tiên tổ chức tại Athen,năm 1900 tạo Paris,....Sự ra đời của thế vận hội đi đôi với sự phân loại các vận động viên.Trước khi thế vận Olympic ra dời thì môn bóng tròn hầu như chỉ đóng khung trong phạm vi quốc gia,thỉnh thoảng lắm mới có trận đấu giao hữu.Kể từ thế vận hội 1900 trở đi môn bóng tròn đã bước sang 1 trang sử hoàn toàn mới m
Liên đoàn bóng đá Đức (DFB)
http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images550829_DFB_Logo.jpg
I - Lời mở đầu
Khi nghiên cứu các mô hình, ta nên định trước các giới hạn. Mỗi quốc gia có một thể chế chính trị và môi trường xã hội khác nhau và điều này phản ảnh vào phương thức tổ chức LĐBĐ của riêng mình. Sự phát triển bóng đá lại cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế đất nước.
Một hiện tượng mà ai cũng thấy: các cầu thủ Nam Mỹ hay Phi châu dù rất tài năng nhưng chỉ có thể thực sự thành danh khi sang thi đấu ở châu Âu. Vì sao vậy? Vì châu Âu là một lục địa có nền kinh tế phát triển, xã hội đã được công nghiệp hoá từ lâu và hiện vẫn thường xuyên hiện đại hoá. Đó là thứ bóng đá phát triển trong xã hội công nghiệp mà chúng ta chưa thể có.
"Trong DFB, bóng đá đỉnh cao có ý nghĩa trung tâm, nhưng bóng đá quần chúng còn quan trọng hơn nữa và cùng với nó là xã hội mà trong đó chúng ta đang sống”
Nhưng mặt khác, Bắc Mỹ cũng là xã hội phát triển cực thịnh về mặt kinh tế, nhưng tại sao bóng đá lại không phát triển? Đó là do những yếu tố truyền thống có tính văn hoá mà không thể khiên cưỡng được. Người Mỹ vốn ưa những môn thể thao chơi bằng tay hơn nhiều (đấm bốc, quần vợt, bóng rổ, bóng bầu dục...). Năm 1994, FIFA đã đem cả World Cup đến nước Mỹ hòng phát triển môn thể thao vua ở nước này mà vẫn không thành công chính là vì thiếu truyền thống đó.
Nói khác đi, bóng đá phát triển có quy luật riêng của nó và phụ thuộc vào những yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội của từng nước. LĐBĐ là hạt nhân của phong trào bóng đá tất cũng tuân theo những quy luật đó.
Nhưng mặt khác, bóng đá là môn thể thao đại chúng nhất trên trái đất. Người ta nói rằng số LĐBĐ thành viên của FIFA đông hơn cả các quốc gia và vùng lãnh thổ thành viên của Liên hợp quốc. Luật bóng đá thì chỉ có một, và các LĐBĐ thành viên cũng phải tuân theo luật FIFA. Cho nên, cách thức tổ chức các LĐBĐ ở các quốc gia khác nhau bao giờ cũng có những nét chung, những điểm tương đồng. Tham khảo những mô hình như vậy, có thể tìm ra một số nét cơ bản giúp ta xây dựng hệ thống của riêng mình.
”Mục đích của chúng tôi không chỉ là truyền đạt cho trẻ em và người lớn kỹ năng sút bóng bằng má trong như thế nào, tạo một đường chuyền hình quả chuối ra sao, mà quan trọng hơn, chúng tôi phải truyền đạt cho họ ý thức sâu sắc về trách nhiệm chính trị xã hội”.
Trên những tinh thần ấy, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc mô hình tổ chức của DFB. Trong lời nói đầu cuốn sách nhoẻ giới thiệu về DFB, ông E. Braun, Chủ tịch lúc đó của DFB (1994) đã viết :”Hầu như ai cũng biết DFB. Nhưng ít ai biết được tất cả những gì ẩn đằng sau 3 chữ cái ấy. Và đấy là lý do chúng tôi cho xuất bản cuốn sách này”.
Về mục đích và tiêu chí của DFB, Braun viết tiếp :”Khi nghiên cứu cuốn sách, bạn sẽ dễ dàng nhận ra rằng, DFB không phải chỉ là đội tuyển quốc gia và Bundesliga như nhiều người vẫn tưởng. Điều cơ bản nhất ghi trong điều lệ vẫn và sẽ là tạo cho môn thể thao bóng đá những điều kiện khung tối ưu để phát triển. Chính vì thế, DFB tập trung sự chú ý đặc biệt vào bóng đá trẻ, nguồn gốc của tương lai. Trong DFB, bóng đá đỉnh cao có ý nghĩa trung tâm, nhưng bóng đá quần chúng còn quan trọng hơn nữa và cùng với nó là xã hội mà trong đó chúng ta đang sống”.
http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550621_DFB_2.jpg (http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550621_DFB_2.jpg) Bóng đá, một trò chơi tập thể sẽ giúp các em lớn lên và học được những hành vi xã hội trong cả cuộc đời.
Khi xuất bản cuốn sách này, DFB đang ráo riết vận động để được đăng cai tổ chức World Cup 2006. Hướng tới chủ đề này, Braun khẳng định :”DFB đánh giá rất cao tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ nhà nước, của các Hội đoàn, các Bang và các cộng đồng. Sự đầu tư xây dựng các sân vận động cho một sự kiện tầm cỡ như vậy đòi hỏi những nỗ lực lớn lao ở tất cả các Bang. Trên con đường đến World Cup 2006, DFB sẽ mãi mãi cố gắng để luôn luôn là đối tác mạnh mẽ và tin cậy của tất cả các giới”.
Niềm tự hào của bóng đá Đức: DFB là tổ chức thành viên lớn nhất trong đại gia đình FIFA. Năm 1994, DFB có 5.328.748 hội viên, trong tổng số hơn 200 triệu hội viên của FIFA như ông Blatter, Tổng thư ký lúc đó của FIFA, tuyên bố.
II - Hệ thống và cấu trúc
DFB là một hệ thống hình tháp gồm 5 cấp: 1-DFB, 2-LĐBĐ 5 khu vực, 3-LĐBĐ 21 bang, 4-Hệ thống CLB phong trào, 5-Các hội viên.DFB được thành lập ngày 28 tháng 01 năm 1900 tại khách sạn “Mariengarten” (Leipzig) trong một ngày hội có đại diện của 86 CLB bóng đá nước Đức thời bấy giờ.
DFB có một cấu trúc hình tháp gồm 5 cấp. Ta sẽ xét 5 cấp này dựa theo các giải bóng đá mà từng cấp đảm trách.
Cấp thứ nhất là DFB, người tổ chức giải bóng đá chuyên nghiệp gồm 2 hạng: Bundesliga và Bundesliga hạng II.
http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550619_Bundesliga.gif (http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550619_Bundesliga.gif) Bundesliga là trung tâm của hệ thống thi đấu, nhưng cũng chỉ là cái đỉnh của hình tháp gồm hơn 6 triệu người chơi bóng đá
Cấp thứ hai là 5 LĐBĐ khu vực: 1 - Khu vực Bắc , 2 - Khu vực Đông Bắc, 3 - Khu vực Tây, 4 - Khu vực Tây Nam và 5 - Khu vực Nam.
Cấp giải thứ ba trong bóng đá Đức là Giải khu vực (Regionalliga) do các LĐBĐ này phụ trách. Đội thắng ở Regionalliga sẽ thăng lên Bundesliga II. Cấp thứ ba gồm 21 LĐBĐ địa phương, tính theo các Bang vì Đức là một nhà nước Liên Bang (Bayern, Berlin, Sachsen, Bremen, Thueringen, Wuettemberg, Wesfalen...). Giải bóng đá được tổ chức từ cấp huyện trở lên (Kreisliga - huyện, Bezirkliga - tỉnh, Oberliga). Khó có thể tượng tượng được đời sống bóng đá ở cấp cơ sở trên đất Đức. Toàn nước Đức tổ chức thi đấu bóng đá thống nhất theo các hạng sau:
Nam giới: Giải trưởng thành (từ 18 tuổi),
Giải trẻ chia làm 6 hạng: A - 16 đến 18 tuổi, B - 14 đến 16 tuổi
C - 12 đến 14 tuổi , D - 10 đến 12 tuổi
E - 8 đến 10 tuổi và F - dưới 8 tuổi.
Nữ giới: Giải trưởng thành (từ 16 tuổi),
Giải trẻ chia làm 3 hạng: A - 13 đến 16 tuổi, B - 10 đến 13 tuổi và
C - dưới 13 tuổi.
Giải lão tướng: Chia làm 3 hạng, A - trên 30, B - trên 38 và C - trên 44.
Giải phụ lão có 1 hạng: trên 50 tuổi.
Cấp thứ tư và thứ năm là các tổ chức bóng đá cơ sở:
Cấp thứ tư - CLB, đội bóng đá: 26.010 Đội bóng
Cấp thứ năm - Hội viên: 6.272.803 Hội viên.
Những năm vừa qua, DFB phát triển mạnh bóng đá nữ với số hội viên ghi danh hiện nay là 857.220 (riêng số hội viên mới năm 2003 là 6.686).
Một cái tên quen thuộc: Bang Bayern. LĐBĐ Bayern hiện có 4.417 CLB bóng đá với 29.215 đội bóng bao gồm 1.348.348 hội viên.
Số 1.348.348 hội viên của LĐBĐ Bayern lại còn có thể chi tiết hoá như sau:
Nam: - trên 18 tuổi: 820.823 hội viên
- 15 - 18 tuổi: 111.032 hội viên
- đến 14 tuổi: 240.903 hội viên
Nữ: - trưởng thành: 129.721 hội viên
- dưới 16 tuổi: 45.869 hội viên
Mục đích chung, thống nhất của toàn bộ hình tháp này là: tạo một tổ chức hoàn thiện cho tất cả mọi người chơi bóng đá, từ em bé nhỏ nhất tới cụ già lớn tuổi nhất. Không có sự tổ chức ấy thì không có gì cả và chúng ta đều biết số công việc rất nhiều: Các thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận - thẻ thi đấu, lịch thi đấu, trọng tài, xây dựng sân bãi, chuyển nhượng, xét xử, hội phí, thuế, các lớp huấn luyện, đào tạo HLV, thi đấu hữu nghị cả trong nước lẫn quốc tế.
Một sự thống nhất khác trong tất cả các cấp cấu trúc của DFB: những hoạt động tình nguyện. Đấy là một tiền đề không thể thiếu để tạo nên sức sống bóng đá ở các CLB, đặc biệt trong bóng đá nghiệp dư và bóng đá trẻ.
III - Tổ chức
DFB được tổ chức theo 3 ngành: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
a/ Lập pháp
DFB có hai mức của cơ quan lập pháp là Đại hội và Hội đồng tư vấn.
Đại hội DFB tổ chức ở cấp Liên Bang theo nhịp độ 3 năm 1 lần. Nhiệm vụ: Bầu Chủ tịch và Đoàn Chủ tịch, bầu cơ quan pháp luật và các hội đồng. Quyết định những vấn đề về điều luật và điều lệ. Đại biểu tham dự đại hội là là các đại biểu được đề cử từ 5 LĐ khu vực và 21 LĐ địa phương, các thành viên Đoàn chủ tịch và các CLB thuộc bóng đá nhà nghề.
Hội đồng tư vấn (Beirat) họp 2 lần trong một năm để giải quyết những vấn đề về điều lệ và điều luật cũng như tất cả công việc do Đại hội DFB ủy nhiệm. Đại biểu tham dự: các thành viên Đoàn Chủ tịch, Chủ tịch các LĐ địa phương, Chủ tịch các Hội đồng và cơ quan tư pháp, thành viên DFL (Deutsche Fussball Liga, cơ quan chịu trách nhiệm về giải Bundesliga) cũng như 2 đại biểu của Bundesliga hạng I và hạng II.
b/ Hành pháp
Trước hết là Đoàn Chủ tịch do Đại hội DFB bầu ra. Đoàn Chủ tịch họp chừng 10 lần trong năm và ra quyết định về những vấn đề xuất hiện trong công việc của DFB. Gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các ủy viên (thường trực tiếp phụ trách các hội đồng). Hiện nay DFB có 2 đồng Chủ tịch (nhưng sẽ xoá bỏ ngay một vị trí sau World Cup 2006). Các Phó Chủ tịch: Tổng Thủ qũy, PCT về bóng đá nghiệp dư, PCT phụ trách DFL, PCT bóng đá giải trí và quan hệ với các LĐ khác, PCT về pháp luật, PCT phụ trách các vấn đề xã hội, PCT phụ trách về tương lai phát triển của bóng đá, PCT làm giám đốc điều hành Công ty TNHH Liga, PCT về các LĐ địa phương, Tổng thư ký.
http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550589_braun.jpg (http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550589_braun.jpg) Edidius Braun, cựu Chủ tịch lâu năm đáng kính của DFB, Người đứng đầu cơ quan hành pháp và cũng là nhà tư tưởng của DFB
Các ủy viên phụ trách các hội đồng chuyên môn: hội đồng thi đấu, hội đồng thanh niên, hội đồng kiểm tra, hội đồng trọng tài, hội đồng thuế - kinh tế, hội đồng bóng đá nữ, hội đồng bóng đá giải trí và bóng đá quần chúng, hội đồng an ninh trật tự và 1 ủy viên cho nhiệm vụ đặc biệt.
Trong đoàn chủ tịch còn có 5 đại biểu của các LĐ thành viên và 8 đại biểu của các CLB bóng đá chuyên nghiệp.
Ban thư ký không do đại hội bầu ra (trừ chức vụ Tổng thư ký nằm trong Đoàn Chủ tịch).
Đứng đầu ban thư ký là Tổng thư ký, có trách nhiệm thực hiện mội quyết định của Đoàn Chủ tịch. Ban thư ký của DFB chia thành 5 tiểu ban va bao gồm chừng 60 nhân viên.
Các tiểu ban đó là:
- Phòng thư ký
- Tiểu ban Luật - nhân sự và quản trị
- Tiểu ban Liga - tiếp thị- kinh tế- tài chính
- Tiểu ban Thanh thiếu niên - nhà trường - đào tạo
- Tiểu ban báo chí - in ấn - quan hệ công chúng
c/ Tư pháp
Hoạt động tư pháp của DFB gồm toà án có hai cấp.
Cấp sơ thẩm gọi là toàn án thể thao, xét xử tất cả những trường hợp, những thái độ chống lại tinh thần thể thao, vi phạm quy tắc thể thao trong và trong mối quan hệ với với các trận đấu thuộc Bundesliga (Bundesliga, Bundesliga II, Cup DFB).
Cấp chung thẩm gọi là toàn án (thể thao) liên bang . Đây là cấp xét xử cao nhất trong khuôn khổ nội bộ LĐ.
Những phán quyết của Toà án thể thao và toà án liên bang được kiểm tra bởi một toà án trọng tài trung lập dành cho các CLB bóng đá chuyên nghiệp và các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Ngoài ra, có khả năng xử giảm án ở Chủ tịch đoàn.
IV - Hoạt động
Ngoài những họat động hiển nhiên liên quan đến chuyên môn, Chủ tịch DFB có một lời tuyên bố rất đáng được ghi nhớ :”Mục đích của chúng tôi không chỉ là truyền đạt cho trẻ em và người lớn kỹ năng sút bóng bằng má trong như thế nào, tạo một đường chuyền hình quả chuối ra sao, quan trọng hơn, chúng tôi phải truyền đạt cho họ ý thức sâu sắc về trách nhiệm chính trị xã hội”.
”Các bậc phụ huynh cũng nên biết rằng, một trò chơi tập thể sẽ giúp các em lớn lên và học được những hành vi xã hội trong cả cuộc đời. Đấy là vẻ quyến rũ đầy mê hoặc của bóng đá”
Những hoạt động xã hội của đội tuyển Đức từ lâu đã quen thuộc với giới hâm mộ. Như chiến dịch chống Ma túy năm 1990, chiến dịch cứu trợ trẻ em mồ côi Mehico 1986, chiến dịch “Người nước ngoài là bạn tôi” năm 1992, qũy hỗ trợ bóng đá quốc tế thành lập năm 1977, phong trào “Những người bạn của đội tuyển quốc gia”...
DFB là mối quan tâm lớn của giới công nghiệp. Và Braun thú vị mô tả rằng DFB chơi trò “bật tường” với giới kinh doanh một cách thành thạo. Với Mercedez - Benz: “Chúng ta là số một trong bóng đá và số một trong kỹ nghệ ô tô”. Nhưng bạn đồng hành lâu đời nhất của DFB là ADIDAS (từ năm 1954), hãng sản xuất tất cả các trang phục và dụng cụ thể thao. Một khẩu hiệu khác :”Đâu có thể thao, ở đó có Coca-Cola”, một khẩu hiệu đi cùng đội tuyển Đức từ World Cup 1994. Chuyên lo cho vấn đề dinh dưỡng của DFB là Ernaehrungspool - một công ty thành lập năm 1977. Triết lý của họ: cái gì tốt cho những nhà thể thao đỉnh cao thì cũng tốt cho tất cả mọi người. Đúng là thể thao kết hợp với kinh tế....
http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images550593_adidas_logo.jpg (http://www.thethao.vietnamnet.vn/dataimages/original/images550593_adidas_logo.jpg) Adidas - bạn đồng hành lâu năm nhất của DFB (từ năm 1954)
DFP khẳng định rằng, tổ chức này là một người bạn tốt của giới truyền thông. Ngay từ năm 1993, DFB đã tự hào ghi nhận rằng, trong mỗi trận đấu của đội tuyển quốc gia có tới 200 phóng viên báo viết, 100 nhà nhiếp ảnh, 30 phóng viên phát thanh và hơn 100 nhân viên truyền hình. Theo một thống kê năm 1992, mỗi ngày ở Đức người ta mua tới 35 triệu tờ báo, và trong tờ báo nào cũng nói tới bóng đá. Vai trò của truyền hình ngày một to lớn và đã trở thành nguồn thu chính của hoạt động thể thao, từ Free TV, qua Pay TV rồi Pay -per - View TV. Đó đã trở thành những ngành hoạt động có doanh thu và tầm ảnh hưởng đặc biệt.
Phần cuối cùng trong cuốn sách tự giới thiệu về mình của DFB mang tiêu đề :”Trò chơi của con trẻ”. Sau khi đã khuyên các CLB tập trung nỗ lực tổ chức trò chơi này cho các em dưới nhiều hình thức phong phú, câu cuối cùng của cuốn sách rất ấn tượng :”Các bậc phụ huynh cũng nên biết rằng, một trò chơi tập thể sẽ giúp các em lớn lên và học được những hành vi xã hội trong cả cuộc đời. Đấy là vẻ quyến rũ đầy mê hoặc của bóng đá”.
Vũ Chí Anh
ai biết lịch sử thành lập Man ko vậy
archenemy
29-05-2005, 15:34
Barcelona
Địa chỉ : Avda. Arides Maillol s/n, 08028 Barcelona
Điện thoại : 93 496 36 00
Fax: 93 496 36 87
Thành lập : 20-Nov-1899
Sân nhà : Camp Nou
Website: www.fcbarcelona.com
Chủ tịch hiện tại : Joan Laporta
Huấn luyện viên hiện tại : Frank Rijkaard
Lịch sử :
FC Barcelona , còn được gọi là Barca , là một câu lạc bộ thể thao ở Barcelona , Catalonia , Tây Ban Nha . Được thành lập năm 1899 bởi một nhóm gồm 12 người , đứng đầu là Joan Gamper , khẩu hiệu của câu lạc bộ là " El Barca moque un club " ( Barca không chỉ là một câu lạc bộ ) , sân nhà là Nou Camp , Barcelona .
Mặc dù phải đấu tranh dữ dội với đối thủ truyền kiếp Real nhưng Barca vẫn được xem là biểu tượng lớn nhất của bóng đá của Tây Ban Nha .
Barca còn nổi tiếng bởi họ không bao giờ cho phép quảng cáo trên áo thi đấu , bởi vì họ là biểu tượng của Catalonia , bất cứ lời đề nghị nào về quảng cáo trên áo đấu đều bị khước từ . Họ chỉ cho phép in logo của nhà sản xuất trên áo của ... đội bóng rổ Barca .
Sự khởi đầu :
CLB bóng đá Barcelona được thành lập bởi một thương nhân người Thuỵ Điển tên là Hans Kamper , một người theo chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành đến nỗi ông đổi tên thành một cái tên Catalan là Joan Gamper . Gamper đã đổi tên gốc của CLB thành tên hiện nay mọi người vẫn gọi : Barcelona . Mọi thứ bắt đầu khi Gamper quyết định đăng một mẩu tin tuyển mộ cầu thủ lên báo , và 11 người đầu tiên có mặt trong buổi họp mặt là : Gualteri Wild, Lluis d'Ossa , Bartomeu Terradas, Otto Kunzle , Otto Maier , Enric Ducal , Pere Cabot , Carles Pujol , Josep Llobet , John Parsons , và William Parsons . tính chất đa quốc gia của CLB được thể hiện ngay ở sự tồn tại của CLB .
CLB đã không phải chờ đợi lâu . năm 1901 họ đã dành được Cúp Macaya ( bây giờ được gọi là giải vô địch Catalonia ) , Đến năm 1909 họ đã chuyển đến sân vận động khác có sức chứa 6000 khán giả , đó là sân vận động đầu tiên mà họ có quyền sở hữu. Trong suốt nhưng năm sau đó , câu lạc bộ đã có những kinh nghiệm đầu tiên về danh hiệu và thống nhất trong đội bóng .
Thời kì hoàng kim :
Những cầu thủ huyền thoại của đội như Alcantara, Zamora, và Samitier đã đưa Barca đến thành công nhờ lối chơi rất phong cách . năm 1922 , CLB lại mở cửa SVĐ mới có sức chứa 30.000 người , sau đó được nâng cấp lên 60.000 người . năm 1929 , Barca giành được danh hiệu vô địch TBN đầu tiên .
Khủng hoảng và nội chiến :
Cuộc khủng hoảng bắt đầu vào cuối năm 1920 , đó là thời kì mà Miguel Primo de Rivera đang xây dựng chế độ độc tài ở TBN , và sự việc càng tồi tệ hơn khi cuộc nội chiến TBN bắt đầu . Những vấn đề chính trị của quốc gia bắt đàu ảnh hưởng đến CLB , chủ tịch CLB bị sát hại , trụ sở bị đánh bom . Sau những sự kiện đó , CLB đã đổi tên thành Club de Futbol Barcelona và chủ tịch mới được bầu lên là một người theo phe của độc tài Franco .
Kubala :
Cuối những năm 1940 , CLB bắt đầu khôi phục , hầu hết ban lãnh đạo cũ bị giải tán . Khi tình hình chính trị đã ổn định , CLB đã trở lại với phong cách thi đấu đặc trưng , những danh hiệu đã được đem về và những mối lo về tình hình tài chính trở nên nhẹ nhàng hơn . năm 1950 , Ladislao Kubala chuyển đến Barca , những năm sau đó , CLB đã giành tất cả các danh hiệu ở tất cả các giải đấu mà họ tham gia và tiền đạo của họ - Kubala , cùng với Cesar , Basora đã trở thành những huyền thoại , và đến giờ vẫn được tưởng nhớ .
Nou Camp :
Năm 1957 , SVĐ Nou Camp được mở cửa công cộng . Nó có sức chứa tới 90.000 chỗ ngồi và đã trở thành một trong những SVĐ lớn nhất thế giới . Nhưng đáng tiếc là sau khi SVĐ được khánh thành , các danh hiệu trở nên khan hiếm hơn . Trong suốt những năm 1960 , họ chỉ dành được 3 danh hiệu chính thức , mặc dù vậy nhưng CLB vẫn không ngừng phát triển .
Không như những năm của thập kỉ 50 , khi Real đánh cắp cầu thủ người Argentina - Alfredo Di Stefano từ Barca , năm 1973 , khi cầu thủ huyền thoại người Hà Lan Johan Cruyff kí một hợp đồng với CLB . Lối chơi sôi nổi , nhanh và thông minh của cầu thủ này đã cuốn hút các fan của Barca . Dường như số tiền lương kỉ lục mà Barca đã trả cho anh cũng chả bõ bèn gì sau khi anh giúp Barca đánh bại Real 5-0 trên sân nhà và giành luôn chức vô địch . Những năm sau đó , số lượng thành viên của CLB lên đến 70.000 người và làm cho Barca trở thành CLB mạnh nhất thế giới .
Thời kì hoàng kim thứ 2 (1988-1996) :
Hàng tá các danh hiệu được đem về . Trong suốt những năm 1990-1994 , dream team của Johan Cruyff đã liên tiếp dành được 4 danh hiệu vô địch trong nước và một chức vô địch Champion League ( 1992 ).
Cuối những năm 1990 với những kết quả hài lòng :
Louis Van Gaal đã đến với câu lạc bộ sau khi Bobby Robson ra đi cùng với những thất bại , Van Gaal đã cùng với Barca giành được 2 danh hiệu trong nước còn ở Châu Âu họ vẫn thất bại . Do bị các cổ động viên chỉ trích nặng nề , Van Gaal cũng ra đi nốt .
Sự trở lại :
Joan Laporta đã chứng minh ông chính là sự lựa chọn tốt nhất cho chiếc ghế chủ tịch , ông đã đưa về Nou Camp ngôi sao Ronaldinho và huấn luyện viên Frank Rijkaard , với phong cách huấn luyện mới , Rijkaard đã đưa CLB trở về với chu kì thành công . mùa bóng năm ngoái ông đã đưa Barca về nhì , còn mùa bóng năm nay Barca đã giành được danh hiệu vô địch La liga , báo hiệu thời kì hoàng kim thứ 3 .
Danh Hiệu :
Champions League: 1
1991-92
FC Barcelona 1 - 0 Sampdoria
Goal by Ronald Koeman (111')
UEFA Cup: 4
1958
FC Barcelona 6 - 0 London XI
London XI 2 - 2 FC Barcelona
1960
FC Barcelona 4 - 1 Birmingham City
Birmingham City F.C. 0 - 0 FC Barcelona
1966
Real Zaragoza 2 - 4 FC Barcelona
FC Barcelona 0 - 1 Real Zaragoza
1971
FC Barcelona 2 - 1 Leeds United
Siêu cúp Châu Âu : 2
1992
Werder Bremen 1 - 1 FC Barcelona
FC Barcelona 2 - 1 Werder Bremen
1997
FC Barcelona 2 - 0 Borussia Dortmund
Borussia Dortmund 1 - 1 FC Barcelona
Vô địch giải hạng nhất : 16 lần
1928-29, 1944-45, 1947-48, 1948-49, 1951-52, 1952-53, 1958-59, 1959-60, 1973-74, 1984-85, 1990-91, 1991-92, 1992-93, 1993-94, 1997-98, 1998-99
Siêu cúp TBN: 5
1984, 1992, 1993, 1995, 1997
Và một số danh hiệu lặt vặt khác
archenemy
31-05-2005, 20:18
Nhân có sự kiện CLB Villareal lần đầu tiên dành quyền dự CL tôi xin cung cấp cho mọi người một số thông tin sơ lược về câu lạc bộ này .
FC Villareal
Địa chỉ : Camino Miralcamp, s/n 12540 Villareal(Castellón)
Số điện thoại : 964 500 250
Fax: 964 500 167
Thành lập : 1923
Sân nhà : El Madrigal
Website: www.villarrealcf.es
Thông tin :
FC Villareal ( Villareal Club de Fotbol ), gọi tắt là Villareal , là một câu lạc bộ bóng đá chơi ở giải hạng nhất Tây Ban Nha , có trụ sở đặt tại Villareal , ngoại ô Castellón , sân nhà là El Madrigal có sức chứa 26.000 người . Đối thủ truyền kiếp của họ là câu lạc bộ láng giềng Valencia , những trận Derby giữa Villareal và Valencia thuộc vào hàng hấp dẫn nhất La Liga . Khoảnh khắc tự hào nhất của Villareal là trận Derby xứ Castellón ở tứ kết UEFA Cup năm ngoái , tuy nhiên phần thắng lại thuộc về người hàng xóm nổi tiếng của họ : FC Valencia , đội bóng sau đó đã trở thành nhà vô địch UEFA Cup .
Trong nhiều năm ở La Liga , Villareal chỉ dậm chân mãi ở một vị trí giữa bảng xếp hạng cho tới khi tiền đạo người Uruguay Diego Forlan chuyển đến câu lạc bộ , anh đã cùng những cầu thủ Nam Mỹ khác như Joan Roman Riquelme , Joan Pablo Sorin và tiền đạo người Tây Ban Nha Jose Mari đem đến thành công cho Villareal với vị trí thứ ba chung cuộc tại La Liga , đồng nghĩa với một xuất dự Champion League mùa sau .
Thành tích : không có danh hiệu nào đáng kể
Tonythai
02-06-2005, 17:32
Những điểm chính của Luật bóng đá
Luật I - SÂN THI ĐẤU
http://photobucket.com/albums/y177/longvn/Animevn/Football/th_post-17-1099621104_thumb.jpg
1. Kích thước: sân hình chử nhật, chiều dài tối đa là 120 mét và tối thiểu là 90 mét, chiều ngang tối đa 90 mét và tối thiểu là 45 mét. Sân theo tiêu chuẩn quốc tế có kích thước tối đa là 110 mét x 75 mét và tối thiểu 100 mét x 64 mét.
2. Các đường giới hạn, đường biên: rộng không quá 0, 12 mét. Mỗi góc sân có cột cờ không nhọn đầu, cao tối thiểu 1 mét 50. Điểm giữa đường giới hạn giữa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân hay còn gọi là điểm giao bóng. Lấy điểm này làm tâm kẻ một đường tròn bán kết 9 mét 15.
3. Khu cầu môn: từng đường biên ngang của mỗi phần sân, cách cột cầu môn 5 mét 50 kẻ vào sân hai đoạn thẳng dài 5 mét 50, vuông góc với đường biên cuối sân và kẻ đường nối liền hai đoạn thẳng ấy gọi là khu vực 5 mét 50.
4. Khu phạt đền: từng đường biên ngang của mỗi phần sân, cách cột cầu môn 16 mét 50 kẻ vào sân hai đoạn thẳng dài 16 mét 50, vuông góc với đường biên cuối sân và kẻ đường nối liền hai đoạn thẳng ấy gọi là khu vực 16 mét 50. Trong mỗi khu 16 mét 50 có một điểm được đánh dấu rõ ràng, đường kính 0, 22 mét, cách điểm giữa đường biên ngang 11 mét. Đó là điểm đá quả phạt 11 mét, hay còn gọi là phạt đền (penalty). Lấy tâm là điểm 11 mét kẻ 1 cung tròn bán kính 9 mét 15 ngoài khu 16 mét 50, để xác định vị trí đứng của các cầu thủ (ngoại trừ cầu thủ thực hiện quả 11 mét và thủ môn) khi thực hiện quả phạt.
5. Khu đá phạt góc: Lấy tâm là chân mỗi cột cờ góc, kẻ vào trong sân 1/ 4 vòng tròn có bán kính 1 mét. Đây là vị trí đặt quả bóng đá phạt góc. Một đoạn thẳng kẻ vuông góc vơi đường biên ngang, cách cột cờ góc 10 mét, giúp trọng tài xác định vị trí đứng của cầu thủ phòng ngự khi thực hiện quả phạt góc.
6. Khung cầu môn: đặt ở đường biên ngang cuối sân, gồm 2 cột dọc cách đều các cột cờ góc và khoảng cách giữa hai cột là 7 mét 32 (tính từ mép trong của cột), chiều cao cột là 2 mét 44 (tính từ mép dưới xà ngang). Các cột dọc và xà ngang có cùng kích thước và không quá 0, 12 mét. Lưới cầu môn phải làm bằng sợi vải, sợi đay hoặc sợi nylon.
Luật II - BÓNG THI ĐẤU
Bóng phải hình tròn. Chất liệu vỏ ngoài của bóng phải bằng da hoặc chất liệu khác được FIFA công nhận.
- Chu vi quả bóng không quá 0, 17 mét và không nhỏ hơn 0, 68 mét.
- Trọng lượng: không nặng hơn 450 gram và nhẹ hơn 410 gram.
- Áp suất của bóng từ 0, 6 đến 1, 1 átmốtphe (600 đến 1100gram/cm2).
- Chỉ có trọng tài chính mới được quyền thay bóng trong trận đấu.
Tonythai
02-06-2005, 17:35
Luật III - SỐ LƯỢNG CẦU THỦ
- Trong một trận đấu phải có 2 đội bóng. Mỗi đội có tối đa 11 cầu thủ trên sân, trong đó có 1 thủ môn.
- Một trận đấu không hợp lệ nếu một trong hai đội bóng không có tối thiểu 7 cầu thủ trên sân. Đội bóng không đủ cầu thủ chơi trên sân sẽ bị xử thua.
- Một cầu thủ bị đuổi khỏi sân trước khi trận đấu bắt đầu thì đội bóng đó có quyền thay thế bằng một cầu thủ khác. Trường hợp cầu thủ bị đuổi sau khi trận đấu bắt đầu thì không được phép thay thế cầu thủ dự bị khác.
Luật IV - TRANG PHỤC
- Trang phục cơ bản và bắt buộc của một cầu thủ gồm: áo, quần, vớ, giầy và bọc bảo vệ ống chân.
- Bọc ống chân phải được vớ dài phủ kín. Nguyên liệu của bọc ống chân phải thích hợp (bằng cao su, plastic, sáp hoặc các chất liệu tương tự) và có khả năng bảo vệ cao.
- Cầu thủ không được mang bất cứ vật gì gây nguy hiểm cho mình và cầu thủ khác khi vào sân.
- Thủ môn phải mặc áo khác màu với các cầu thủ trên sân và trọng tài.
Luật V - TRỌNG TÀI CHÍNH
- Mỗi trận đấu có 1 trọng tài chính để điều khiển. Quyền hạn và việc thi hành quyền lực của trọng tài chính do Luật bóng đá qui định, có hiệu lực khi trọng tài bước vào sân.
- Trọng tài có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm, kể cả trong những lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định của trọng tài chính, kể cả kết quả của trận đấu là quyết định cuối cùng.
- Trang phục của trọng tài khác màu hai đội.
Luật VI - TRỢ LÝ TRỌNG TÀI
Trong mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý trọng tài được xác định rõ nhiệm vụ như sau:
- Xác định bóng vượt qua giới hạn của sân.
- Xác định đội được hưởng phạt góc, đá quả phát bóng trong khu 5 mét 50 hoặc ném biên.
- Thời điểm cầu thủ đội tấn công phạm luật việt vị. - Xác định lỗi khiếm nhã hoặc sự cố khác xãy ra ngoài tầm nhìn của trọng tài chính.
- Phối hợp thực hiện thủ tục thay thế cầu thủ. Trường hợp trợ lý trọng tài không đảm đương được công việc, phạm sai sót thì trọng tài chính có quyền thay thế bằng trọng tài thứ tư.
Luật VII - THỜI GIAN TRẬN ĐẤU
- Một trận đấu được chia làm 2 hiệp và mỗi hiệp 45 phút.
- Thời gian nghỉ giữa hai hiệp không quá 15 phút. Điều lệ thi đấu phải xác định rõ thời gian nghỉ giữa hiệp.
- Việc bù giờ đã mất trong hiệp đấu vì các lý do: thay thế cầu thủ mất nhiều thời gian, cầu thủ chấn thương, nằm sân nhiều, cầu thủ có hành động kéo dài thời gian hoặc bất kỳ lý do nào khác.
- Trọng tài chính có quyền kết thúc trận đấu sớm hơn qui định vì một lý do nào đó (như an ninh, bạo động), nếu xét thấy thời gian không nhiều thì kết quả trận đấu được trọng tài chính công nhận, ngược lại trận đấu sẽ phải tổ chức lại.
Tonythai
02-06-2005, 17:37
Luật VIII - QUẢ GIAO BÓNG BẮT ĐẦU TRẬN ĐẤU VÀ QUẢ TUNG BÓNG
1. Quả giao bóng:
- Trước trận đấu bắt đầu bằng việc chọn sân. Đội chọn sân thì đội kia được giao bóng.
- Cầu thủ của đội mỗi đội phải đứng trên phần sân nhà, đội không giao bóng phải đứng bên ngoài vòng cung giữa sân (tức khoảng cách 9 mét 15). Khi trọng tài nổi còi bắt đầu trận đấu, cầu thủ giao bóng đá quả bóng ở vị trí trung tâm sân, bóng phải lăn đủ 1 vòng thì trận đấu mới được coi đã bắt đầu. Cầu thủ đá phải giao bóng đầu tiên không được chạm bóng lần hai.
- Sau mỗi bàn thắng, đội bị lọt lưới thực hiện quả giao bóng từ chấm giữa sân.
- Bắt đầu hiệp hai, hai đội đổi sân và đội không giao bóng khởi đầu trận đấu ở hiệp 1 sẽ được giao bóng đầu hiệp hai.
- Khi cầu thủ thực hiện quả giao bóng không đúng luật thì phải thực hiện lại lần hai. Trường hợp, cầu thủ đội giao bóng tiếp tục phạm luật lần hai thì đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp.
2. Quả tung bóng, hay còn gọi là quả "thả bóng chạm đất" được thực hiện sau khi trọng tài tạm dừng trận đấu.
Luật IX - BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC
Bóng ngoài cuộc:
- Khi đã vượt hẳn ra ngoài đường biên dọc hoặc đường biên ngang, dù bóng ở trên không hay dưới mặt sân.
- Khi trọng tài thổi còi dừng trận đấu.
Bóng trong cuộc:
- Tức ngoài hai trường hợp vừa nêu trong phần bóng ngoài cuộc.
- Kể cả các trường hợp sau: bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc, bóng bật vào sân từ trọng tài chính hoặc trợ lý trọng tài đứng bên trong sân, khi trọng tài chưa thổi dừng trận đấu sau một hành động phạm luật của cầu thủ.
Luật X - BÀN THẮNG HỢP LỆ
Bàn thắng được công nhận là hợp lệ khi toàn bộ quả bóng đã vượt qua đường cầu môn giữa hai cột dọc khung thành và dưới xà ngang, ngoại trừ: -
Những trường hợp đặc biệt do luật qui định.
- Quả bóng do cầu thủ tấn công dùng tay hoặc cánh tay ném, ôm hoặc đấm vào cầu môn.
Luật XI - LUẬT VIỆT VỊ
1. Một cầu thủ ở vị trí việt vị là khi cầu thủ đó đứng gần đường biên ngang cuối sân đối phương hơn bóng, trừ các trường hợp:
- Cầu thủ đó đang ở phần sân đội mình.
- Có ít nhất 2 cầu thủ đối phương gần biên ngang sân đối phương hơn.
2. Một cầu thủ đứng ở vị trí việt vị, nhưng vẫn chưa coi là vi phạm luật việt vị nếu:
- Không tham gia vào tình huống tấn công đó.
- Không gây trở ngại cho đội phòng ngự.
- Không tìm cách chiếm lợi thế trong vị trí việt vị.
- Nhận bóng trực tiếp từ quả ném biên, quả phát bóng. Việt vị chỉ được tính từ khi cầu thủ đồng đội chuyền bóng. Trọng tài cho đội phòng ngự được hưởng quả phạt việt vị bằng quả phạt gián tiếp ngay vị trí phạm lỗi, nhưng nếu điểm phạt trong khu cầu môn thì có thể đá ở bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn.
Luật XII - LỖI VÀ HÀNH VI THIẾU ĐẠO ĐỨC
Những pha vào bóng quyết liệt thế này chắc chắn sẽ bị nhận thẻ.
1. Những lỗi phạt trực tiếp:
- Đá hoặc tìm cách đá vào người đối phương.
- Ngáng chân đối phương.
- Nhảy vào ngừơi đối phương.
- Chèn đối phương.
- Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.
- Xô đẩy đối phương.
Hoặc phạm 1 trong 4 lỗi sau đây:
- Khi xoạc bóng, chân tiếp xúc với người đối phương trước khi chạm bóng.
- Lôi kéo đối phương.
- Nhổ nước bọt vào mặt đối phương.
- Cố tình dùng tay chơi bóng. Nếu điểm phạm lỗi trong khu vực 11 mét, trọng tài cho đội tấn công được hưởng quả 11 mét.
2. Những lỗi phạt gián tiếp:
Một cầu thủ phạm 1 trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt gián tiếp:
- Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có lối chơi nguy hiểm.
- Cố tình ngăn cản đường di chuyển của đối phương.
- Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
- Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác, không được đề cập ở luật XII, mà trận đấu phải dừng để cảnh cáo hoặc đuổi cầu thủ.
3. Những lỗi cảnh cáo:
Cầu thủ sẽ bị cảnh cáo bằng thẻ vàng nếu phạm vào 1 trong 7 lỗi sau:
- Hành vi phi thể thao.
- Hành động, lời nói phản đối quyết định