PDA

View Full Version : Tiểu thuyết Resident Evil - Tập 3 ( Thành phố chết )


Lioncoeur
03-11-2006, 08:04
Đây là topic chỉ để đăng tải bản dịch tập 3 tiểu thuyết Resident Evil. Mọi người đừng post bất cứ gì vào đây nhé. Mọi ý kiến đóng góp bình luận thắc mắc, link xem truyện gốc và bản dịch các tập trước, đăng ký dịch truyện, ... xin vào bên này: http://forums.gamevn.com/showthread.php?t=193802

Lioncoeur
03-11-2006, 08:08
RESIDENT EVIL
Nguyên tác : S.D.Perry
TẬP 3 - THÀNH PHỐ CHẾT
*
* *
Mở đầu
Người dịch : JediDarkLord

Thời báo Raccoon, ngày 26 tháng 8 năm 1998
THỊ TRƯỞNG LOAN BÁO KẾ HOẠCH BẢO VỆ AN NINH CHO THÀNH PHỐ

THÀNH PHỐ RACCOON - Chiều hôm qua, trong cuộc họp báo tại tiền sảnh của tòa thị chính, thị trưởng Haris cho biết Hội đồng thành phố đã họp và quyết định sẽ tuyển dụng thêm ít nhất mười nhân viên cảnh sát mới để bổ sung cho lực lượng cảnh sát thành phố, thay cho những nhân viên của Lực lượng đặc nhiệm cứu hộ và tác chiến (S.T.A.R.S) đã bị đình chỉ công tác, kể từ khi những vụ án mạng dã man lan rộng tại thành phố Raccoon hồi đầu mùa hè năm nay. Kế hoạch này đã được cảnh sát trưởng Brian Irons và tất cả các ủy viên trong Hội đồng thành phố thông qua, thị trưởng Haris cũng cam kết với các công dân thành phố và các phóng viên, rằng thành phố Raccoon sẽ trở lại an toàn và yên ổn cho mọi người sống và làm việc. Ông cũng nói thêm rằng mười một vụ án “ăn thịt người” và ba vụ án thú hoang tấn công người vẫn chưa có thêm manh mối nào.

“Việc không có người nào bị tấn công trong tháng trước không có nghĩa là các nhân viên cảnh sát có thể ngơi nghỉ.”Thị trưởng Harris nhấn mạnh. “Các công dân trong thành phố hoàn toàn có thể tin tưởng vào lực lượng cảnh sát, và hãy an tâm rằng các ủy viên hội đồng đang làm tất cả những gì có thể để đem lại an toàn cho mọi người. Như các bạn cũng đã biết thì việc đình chỉ công tác của S.T.A.R.S có vẻ sẽ là vô thời hạn. Việc mười hai người thuộc hai đội không có khả năng giải quyết các vụ án, cùng việc họ đột nhiên biến mất khỏi thành phố Raccoon cho thấy rằng họ không quan tâm đến cộng đồng cư dân thành phố - nhưng tôi bảo đảm với các bạn rằng chúng tôi quan tâm. Tôi, cảnh sát trưởng Irons, cùng tất cả những người trong buổi họp báo hôm nay chỉ muốn một điều là đem lại sự bình yên cho thành phố, để con cháu chúng ta có thể sống mà không cần phải sợ hãi bất cứ điều gì.”

Tiếp theo sau đó, thị trưởng Harris công bố bản kế hoạch an ninh gồm ba mục nhằm gia tăng sự tín nhiệm của công chúng, và để bảo đảm không có công dân Raccoon nào khác trở thành nạn nhân của các vụ tấn công. Ngoài việc sẽ tuyển mộ thêm khoảng từ mười đến mười hai nhân viên cảnh sát, thì lệnh giới nghiêm ở thành phố sẽ được duy trì ít nhất cho đến tháng chín. Cảnh sát trưởng Irons cũng sẽ thành lập và chỉ huy một đội điều tra gồm một số các nhân viên đặc nhiệm và các thanh tra cảnh sát ưu tú, để truy lùng tới cùng hung thủ của mười một vụ án mạng xảy ra từ tháng năm đến tháng bảy năm nay….

Báo Cityside, ngày 4 tháng 9 năm 1998
UMBRELLA ĐẶT KẾ HOẠCH CẢI TỔ NHÀ MÁY

THÀNH PHỐ RACCOON - Nhà máy hóa chất của Umbrella ở phía Nam trung tâm thành phố đã được tập đoàn ấn định thời gian để đại tu lại vào thứ hai tuần sau. Đây là lần đại tu thứ ba của nhà máy kể từ năm ngoái, nhằm hiện đại hóa bộ phận dược phẩm của tập đoàn. Người phát ngôn của Umbrella, Amanda Whitney, cho biết hai trong số các phòng thí nghiệm ở nhà máy chính sẽ được trang bị thêm những thiết bị hiện đại mới trị giá hàng triệu đô la cho việc tổng hợp vắc xin, và hệ thống an ninh nhà máy sẽ được cải tổ lại ở mức tối tân nhất. Thêm vào đó hệ thống vi tính của các văn phòng ở các tòa nhà thông nhau sẽ được nâng cấp trong vài tuần tới. Nhưng liệu việc này có gây ảnh hưởng đến việc giao thông của thành phố không? Bà Whitney nói, “ Sau việc sở cảnh sát Raccoon vừa hoàn tất việc nâng cấp hệ thống trang thiết bị của họ, chúng tôi biết người dân rất khó chịu về việc cấm đường. Chúng tôi sẽ làm hết sức có thể để tránh không gây ách tắc giao thông, đa số việc nâng cấp các công trình sẽ diễn ra ở bên trong nhà máy và các đường ngầm, còn những phần bên ngoài sẽ được thi công sau giờ làm việc.” Hẳn các bạn còn nhớ cái sân sau của sở cảnh sát Raccoon, họ vừa tráng xi măng và tô điểm lại nó sau khi một loạt các vết nứt bí ẩn xuất hiện. Việc lưu thông đã bị cấm trong sáu ngày làm mọi người phải đi đường vòng qua hai dãy nhà của phố Oak trong sáu ngày.

Khi được hỏi tại sao lại phải tiến hành đại tu như vậy, bà Whitney đã trả lời. “Umbrella đang cố gắng duy trì vị trí dẫn đầu trong ngành bằng cách nâng cấp các thiết bị trở nên tối tân nhất. Sắp tới sẽ là một vài tháng bận rộn, nhưng tôi tin rằng những cố gắng của chúng ta sẽ được đền đáp xứng đáng sau khi công việc đã hoàn tất.”

Bài xã luận của Tuần báo Raccoon, ngày 17 tháng 9 năm 1998
IRONS SẼ TRÚNG CỬ?

THÀNH PHỐ RACCOON - Thị trưởng Harris sẽ có một mùa tranh cử khó khăn vào mùa xuân năm tới. Theo nhiều nguồn tin nội bộ ở sở cảnh sát Raccoon thì ông Brian Irons, cảnh sát trưởng của thành phố trong bốn năm rưỡi qua, có thể sẽ trở thành người lãnh đạo thành phố trong kỳ bầu cử sắp tới. Irons sẽ ra tranh cử cùng thị trưởng đương nhiệm Devlin Harris, người đã lãnh đạo thành phố trong suốt ba nhiệm kỳ liên tiếp và vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy người dân có thái độ bất mãn với ông. Tuy ông Irons chưa tuyên bố chính thức về việc có tham gia vũ đài chính trị hay không, nhưng cựu nhân viên S.T.A.R.S này cũng không lên tiếng bác bỏ lời đồn.

Uy tín của ông Irons đang không ngừng tăng lên sau khi những vụ án mạng bí ẩn vào mùa hè qua đã chấm dứt (tuy vụ án vẫn chưa được phá), và việc ông tuyên bố sẽ mở rộng sở cảnh sát. Ông Irons rất có khả năng sẽ đánh bật thị trưởng Harris ra khỏi tòa thị chính. Tuy nhiên câu hỏi ở đây là, liệu cử tri có quên việc ông Irons có dính líu đến những bê bối bất động sản tại quận Cider hồi năm 1994 không? Cũng như những sở thích xa hoa của ông ta về hội họa và thiết kế nội thất, dẫn tới việc bài trí sở cảnh sát thành một nơi trông giống viện bảo tàng hơn là công sở? Giả định rằng ông Irons sẽ tham gia vào cuộc tranh cử, thì phóng viên của chúng tôi sẽ đi điều tra tình hình tài chính của ông ta…

Thời báo Baocoan, ngày 22 tháng 9 năm 1998
MỘT THIẾU NIÊN BỊ TẤN CÔNG TRONG CÔNG VIÊN

THÀNH PHỐ RACCOON - Vào khoảng sáu giờ rưỡi tối hôm qua, một thiếu niên mười bốn tuổi, Shanna Williamson, đã bị một kẻ lạ mặt bám theo ở công viên Birch Street trong khu kinh doanh, khi em đang trên đường về nhà sau buổi tập luyện môn softball (trò chơi Mỹ tương tự như bóng chày, chơi trên sân nhỏ hơn với quả bóng mềm to hơn). Gã đàn ông bất ngờ xuất hiện từ sau một dãy hàng rào ở cổng phía nam công viên, hắn hất ngã Williamson xuống xe đạp trước khi cố tìm cách túm lấy em. Cô bé chỉ bị một vài vết xước nhỏ và đã chạy thoát được đến nhà của ông bà Tom, Clara Atkins. Bà Atkins đã gọi cảnh sát, họ đã lục soát toàn bộ công viên nhưng không tìm thấy dấu vết nào của kẻ lạ mặt kia. Theo lời cô bé kể (được cảnh sát cung cấp sáng nay) thì kẻ lạ mặt đó bất ngờ hiện ra rất nhanh, quần áo và tóc tai của hắn rất bẩn, cô bé mô tả rằng có một mùi rất khó chịu phát ra từ người hắn, như là “mùi trái cây thối vậy”. Cô cũng cho biết, hắn ta có vẻ như đã uống quá chén, đồng thời đã lảo đảo và gục ngã sau khi cô chạy thoát.

Do sự lan rộng của những vụ án mạng ăn thịt người từ tháng năm đến tháng bảy vẫn chưa được giải quyết, nên sở cảnh sát Raccoon đã rất quan tâm đến cuộc chạm trán của Williamson; kẻ tấn công được cho là có liên hệ với cuộc đụng độ tại công viên Victory tháng sáu vừa qua, theo báo cáo của các nhân chứng. Thị trưởng Harris đã triệu tập một cuộc họp báo cuối ngày hôm nay, và cảnh sát trưởng Brian Irons cho biết nhiệm vụ ưu tiên của các nhân viên cảnh sát được tuyển mộ vào tuần sau, là mở rộng tuyến đường tuần tra đến tận những dãy nhà quanh công viên trong khu buôn bán một cách thường xuyên…

Lioncoeur
03-11-2006, 08:10
Chương 1
Người dịch : meomuntiteo

26 tháng 9, 1998

ĐỂ ĐÁM ĐÀN ÔNG ĐỢI Ở NGOÀI trong xe tải của Barry, Jill cố gắng làm thật nhanh. Chẳng dễ dàng gì; ngôi nhà đã bị bỏ hoang từ lần cuối cùng cô ở đó, nền nhà vương vãi những sách và giấy tờ, và quá tối để có thể thoải mái tìm đường đi tránh qua những mảnh vỡ. Việc ngôi nhà nhỏ của mình bị lục soát làm cô hơi buồn, nhưng cũng không gây ngạc nhiên lắm. Cô nhận ra là mình nên cảm tạ trời đất vì cô không phải là loại người dễ xúc động – và rằng những kẻ xâm nhập đã không tìm thấy hộ chiếu của cô.

Jill vơ lấy một nắm những vớ và đồ lót sạch trong bóng tối tù túng của phòng ngủ, nhồi chúng vào cái ba lô đựng quần áo, lòng thầm ước có thể bật đèn lên. Soạn túi đồ trong bóng tối khó hơn người ta tưởng, ngay cả khi nhà họ không bị xới tung lên; nhưng cô biết rằng họ không có cơ hội nào khác. Không có vẻ gì là Umbrella còn canh me tất cả các ngôi nhà của họ, nhưng giả dụ có kẻ nào đang trông chừng, một tia sáng ở cửa sổ cũng có thể kéo theo một cuộc đọ súng.

Chí ít thì mày cũng được ra ngoài. Không phải lẩn trốn.

Có quá nhiều việc. Họ sẽ hướng đến một khu vực ở nước ngoài, để đột nhập vào cơ quan đầu não của kẻ thù và có thể sẽ bị giết khi làm điều đó, nhưng ít nhất cô không phải quanh quẩn ở Raccoon thêm nữa. Và từ những tin cô đọc trên báo gần đây, có thể đó là giải pháp tốt nhất. Hai vụ tấn công hồi tuần trước... Chris và Barry tỏ vẻ hoài nghi về cái gọi là hiểm họa, cho dù đã biết T-Virus tác động như thế nào lên con người – Barry thì cho đó là một kiểu đánh lạc hướng công chúng, rằng Umbrella sẽ “giải cứu” Raccoon trước khi có ai đó bị hại. Chris đồng ý, khăng khăng cho là Umbrella sẽ không tự bôi nhọ vào mặt, nhưng nếu nói vậy thì cái gì đã xảy ra trong thảm họa ở biệt thự Spencer mới đây cơ chứ. Jill thì không hề chuẩn bị đặt giả thiết cho bất cứ chuyện gì cả, chẳng phải là Umbrella đã không thể kiểm soát những nghiên cứu của chính mình đấy sao. Và với những gì Rebecca và đội của David Trapp phải đối mặt ở Maine...

Bây giờ không phải là lúc để nghĩ đến việc đó - họ sắp có một chuyến bay. Jill hất cái đèn pin ra khỏi tủ áo và chuẩn bị sang phòng khách thì nhớ ra cô chỉ có mỗi một chiếc áo ngực trên người. Cau có, cô quay lại chỗ tủ áo và bắt đầu lục lọi. Cô đã có đủ quần áo, nhặt nhạnh từ những thứ Brad để lại khi anh ta chuồn khỏi Raccoon; cô và mấy chàng kia đã lẩn trốn ở nhà nghỉ của anh ta trong ít tuần, và dù đồ của Brad không vừa với tạng người cao của Chris hay to lớn của Barry, cô vẫn có thể dùng tạm được. Khổ nỗi, đồ lót nữ không phải là thứ mà một phi công của S.T.A.R.S. tích trữ. Cô đặc biệt không muốn xuống máy bay ở Áo để rồi phải đi mua áo lót.

“Coi nào, đồ lót thôi mà,” cô lầm bầm khe khẽ, cào cào cái đống nhăn nhúm. Cô tìm thấy thứ đồ khó tìm ấy chỉ khi đã lục ngăn kéo hai lần, tống nó vào túi rồi nhảy đến phòng khách nhỏ của căn nhà cho thuê. Đây mới là lần thứ hai Jill ở đó từ khi họ bắt đầu lẩn trốn; và cô có cảm giác là mất một thời gian dài nữa mình mới có thể quay lại đây. Có một tấm ảnh của cha cô trên kệ sách và cô muốn lấy nó.

Nhanh nhẹn bước ra khỏi bóng tối hỗn độn, Jill che bớt ánh đèn pin và hướng tia sáng mỏng về góc nơi từng dựng cái kệ. Bọn Umbrella đã đẩy ngã tất cả nhưng dĩ nhiên là đã không bận tâm đến những quyển sách. Chỉ có Chúa mới biết chúng muốn tìm cái gì. Manh mối để tìm ra nơi ẩn náu của bọn S.T.A.R.S. nổi loạn chẳng hạn; kể từ sau vụ tấn công tại nhà Barry và điệp vụ tai hại ở vịnh Caliban, cô không còn chút ảo tưởng nào về việc Umbrella chỉ đơn giản là để mặc họ.

Jill phát hiện quyển sách cô cần, một cuốn bìa mềm trông khá khủng khiếp nhan đề Đời Tù Tội; cha cô hẳn sẽ cười phá lên. Cô nhặt nó lên và lật các trang sách, dừng lại khi ánh đèn rơi trên nụ cười nhăn nhở của Dick Valentine. Ông đã gửi bức ảnh cùng với một trong những lá thư gần đây nhất, và cô đã nhét nó vào quyển sách để khỏi làm mất. Giấu những món đồ quan trọng là thú ưa thích của Jill từ khi còn bé, và lần này cũng đã thành công.

Cô đánh rơi quyển sách, sự cần thiết phải nhanh chóng đã bị quên bẵng khi cô nhìn xuống bức ảnh. Một nụ cười nhẹ phảng phất trên môi. Ông có lẽ là người duy nhất cô biết trông thoải mái trong bộ áo liền quần màu vàng của một nhà tù an ninh bậc nhất. Trong một thoáng, cô tự hỏi ông sẽ nghĩ gì về tình huống gay go của cô; một cách gián tiếp, chính ông là người chịu trách nhiệm về việc để cô dính vào với S.T.A.R.S.. Sau khi bị kết án, ông đã thúc cô giải nghệ, thậm chí còn nói là ông đã sai lầm khi dạy dỗ cô theo nghề trộm cắp....

...thế nên con đã chọn một nghề hợp pháp, thật sự đã làm việc giúp ích xã hội thay vì chống lại nó và rồi mọi người ở Raccoon bắt đầu chết. Đội S.T.A.R.S. đã phát hiện một âm mưu chế tạo vũ khí sinh học từ một loại virus biến cơ thể sống thành những quái vật. Hiển nhiên là chẳng ai tin bọn con, những S.T.A.R.S. không mua chuộc được đều đã bị Umbrella bôi nhọ uy tín hoặc thủ tiêu. Thế là bọn con lặn đi, cố gắng đào xới chứng cứ và trồi lên tay không còn Umbrella tiếp tục lừa gạt khắp nơi với những nghiên cứu nguy hiểm của chúng, và càng thêm nhiều người tốt bị giết hại. Bây giờ thì bọn con chuẩn bị đi làm một nhiệm vụ tự sát đến châu Âu, để xem liệu có thể thâm nhập vào trụ sở của cái tập đoàn hàng tỉ đô la ấy và ngăn bọn khốn kiếp đó hủy diệt cả hành tinh này. Con tự hỏi cha sẽ nghĩ gì? Cứ cho là cha tin vào chuyện viễn tưởng, cha sẽ nghĩ gì?

“Cha sẽ tự hào về con, Dick,” cô thì thầm, tức thì nhận ra mình đang nói to và cũng không chắc có thật là thế không. Cha cô từng mong cô làm việc trong nghề nào đó ít nguy hiểm hơn, và so với những gì mà cô và các cựu thành viên S.T.A.R.S. khác phải đối mặt gần đây thì đi ăn trộm chỉ nguy hiểm ngang với làm kế toán. Một lúc lâu sau, cô cẩn thận bỏ bức ảnh vào một ngăn của balô và nhìn quanh cái tàn dư đổ nát của căn nhà, tiếp tục nghĩ về cha và điều gì ông sẽ nói về con đường kì lạ cô đã chọn cho mình; nếu mọi việc tốt đẹp, có thể cô sẽ gặp được ông để hỏi. Rebecca Chambers và những người sống sót sau nhiệm vụ ở Maine vẫn tiếp tục lẩn trốn, lặng lẽ liên lạc với tổ chức S.T.A.R.S. để xin hỗ trợ, chờ nghe tin tức từ cô với Chris và Barry về trụ sở của Umbrella. Trụ sở chính đặt ở Áo, mặc dù tất cả bọn họ đều nghi là những kẻ chủ mưu đằng sau T-Virus phải có một khu bí mật ở nơi nào khác – nơi mà mày sẽ không thể biết được nếu không có tay trong; mà thôi nhanh lên, kẻo các ông tướng sẽ nghĩ mày vào đây để ngủ mất.

Jill xốc cái túi lên vai và nhìn quanh căn phòng lần cuối trước khi hướng về cửa sau, thông qua nhà bếp. Thoang thoảng có mùi trái cây thối trong bầu không khí tối tăm, từ một cái tô ở trên nóc tủ lạnh đựng táo và lê đã phân hủy nhão nhẹt từ lâu. Dù đã biết rõ như thế, cái mùi ấy gợi cho cô một cơn ớn lạnh dọc sống lưng; cô tiến nhanh đến cánh cửa đóng, cố gắng ngăn những hình ảnh sống động của hồi ức về những gì họ đã thấy ở căn biệt thự Spencer...

...thối rữa trong khi vẫn đi lại, vươn ra những ngón tay ướt át và tàn héo, những gương mặt tan chảy thành mủ và thịt rữa...

“Jill?”

Cô vừa kịp kìm lại tiếng hét giật mình trước giọng nói nhỏ nhẹ của Chris ngay phía ngoài. Cửa mở, một ánh đèn đường hắt bóng Chris in trên nền đen sẫm.

“Đây, ở đây,” cô nói, bước lên phía trước. “Xin lỗi tôi chậm quá, nơi đây cứ như là bị bọn Umbrella lấy xe ủi tông vào ấy.”

Ngay cả trong ánh sáng mờ mờ cô cũng có thể thấy nụ cười nửa miệng trên nét mặt trẻ con của Chris. “Bọn này cứ ngỡ là mấy con zombie đã xơi tái cô rồi chứ,” anh nói, và mặc dù ngữ điệu rất nhẹ nhàng nhưng cô vẫn cảm nhận được nó ẩn chứa một mối quan tâm thực sự.

Jill biết là Chris đang cố giải tỏa mối căng thẳng, nhưng cô thật sự không thể nào cười trừ với anh chàng được. Quá nhiều người đã chết bởi cái thứ mà Umbrella phóng thích trong khu rừng bên ngoài thành phố; rủi mà sự lây lan đó đến gần Raccoon hơn thì ….

“Không đùa được đâu,” cô khẽ nói.

Nụ cười của Chris héo đi. “Tôi biết. Cô sẵn sàng rồi chứ?”

Jill gật đầu, mặc dù cô chẳng cảm thấy mình đủ sẵn sàng đối phó với những chuyện đang chờ phía trước. Và cũng chẳng thấy sẵn sàng để bỏ lại mọi thứ sau lưng. Suốt mấy tuần qua, cô hầu như mất luôn khái niệm về thực tại trước những âm mưu điên rồ, biến cuộc sống hàng ngày thành ác mộng.

Tập đoàn ma quỷ, nhà khoa học điên, virus giết người. Và lũ thây ma biết đi …

“Vâng,” cuối cùng cô cũng trả lời. “Đã sẵn sàng.”

Họ cùng cất bước ra ngoài. Khi Jill đóng cánh cửa sau lưng họ lại, thình lình cô có một dự cảm không lành rằng mình sẽ không bao giờ bước chân vào ngôi nhà này nữa, và ba người bọn họ sẽ không còn trở về Raccoon nữa …

… nhưng không phải là có chuyện xảy ra với bọn tôi. Chuyện gì đó sẽ xảy ra, nhưng không phải với bọn tôi.

Cô vừa tư lự vừa đặt tay trên nắm cửa, ngập ngừng một lúc và cố phán đoán xem tại sao lại có cái ý nghĩ kỳ quặc ấy. Nếu sống sót sau điệp vụ lần này, nếu thành công trong cuộc chiến chống lại Umbrella, mắc gì họ lại không thể trở về nhà chứ? Cô không biết nữa, nhưng cái dự cảm ấy mạnh mẽ đến khác thường. Một chuyện tồi tệ gì đó sẽ xảy ra, chuyện gì đó …

“Này, cô ổn chứ?”

Jill nhìn lên Chris, thấy vẻ quan tâm lộ rõ trên khuôn mặt trẻ trung của anh, dáng vẻ mà cô đã để ý thấy từ trước. Họ đã cận kề bên nhau trong mấy tuần qua, mặc dù cô có phần hoài nghi là Chris hình như muốn tiến đến gần cô hơn nữa.

Ồ, và chẳng phải mày cũng thế sao?

Cảm giác khó chịu về chuyện sắp xảy ra đã giảm bớt, thay vào đó là sự bối rối và lúng túng. Jill tự ép mình tống khứ những suy tưởng đi và gật đầu với Chris, mặc kệ các cảm giác. Chuyến bay đến New York không đợi cô chỉ để tự phân tích bản thân... hoặc để lo lắng về những thứ cô không thể kiểm soát, không thể tưởng tượng, hay gì gì khác...

Nhưng mà, cái cảm giác đó....

“Mình ra khỏi nơi chết tiệt này thôi,” cô nói, và thực lòng mong thế.

Họ đi vào bóng đêm, để lại sau lưng ngôi nhà tối om, đơn độc và im lặng như một nấm mồ.

Lioncoeur
03-11-2006, 08:12
Chương 2
Người dịch : meomuntiteo

Ngày 3 tháng 10, 1998

BÓNG TỐI NHÁ NHEM ĐÃ PHỦ QUA CÁC NGỌN NÚI, sơn lên chân trời lởm chởm những sắc tím mờ ảo. Khúc lượn trải nhựa quanh co uốn khúc xuyên qua màn đêm đang kéo đến, bao quanh là những ngọn đồi cao in bóng trên bầu trời không một gợn mây, kéo dài đến một ánh sao lập lòe mờ tỏ.

Đáng lẽ Leon đã thưởng thức cảnh đẹp mỹ lệ đó thêm chút nữa nếu anh không bị trễ quá. Anh sẽ đến nơi đúng giờ vào ca, chắc chắn rồi, nhưng anh đã hi vọng đầu tiên là sẽ ổn định chỗ ở căn hộ mới, tắm một cái, kiếm chút gì ăn; nếu được, anh còn có thời gian đi một vòng quanh thành phố trên đường đến sở làm. Thay quân phục sẵn ở trạm dừng trước giúp tiết kiệm được ít phút, nhưng về cơ bản thì kế hoạch đã tiêu rồi.

Thế đấy, cảnh sát Kennedy. Ngày đầu tiên đi làm và mày sẽ xỉa thịt dính ở răng trong giờ điểm danh. Cực kì chuyên nghiệp.

Ca làm việc của anh bắt đầu lúc chín giờ, và bây giờ đã qua tám giờ, Leon nhấn giày mạnh hơn trên chân ga, kể cả khi chiếc Jeep của anh lướt qua một bảng hiệu báo cho biết còn cách Thành phố Raccoon chỉ nửa tiếng nữa. Ít ra thì đường phố cũng thông thoáng, ngoại trừ một vài khu nhà chung cư, còn thì dường như anh đã không thấy ai nữa trong nhiều giờ rồi. Một thay đổi dễ chịu, so với tình trạng giao thông kẹt cứng ngay phía ngoài New York đã tiêu tốn của anh nguyên cả buổi trưa. Thật ra từ đêm hôm trước anh đã cố gọi cho nhân viên trực để báo là có thể sẽ đến muộn, nhưng đường dây hình như có vấn đề gì đó. Không có gì ngoài tín hiệu bận.

Số đồ đạc ít ỏi anh có đã được chuyển đến căn hộ nhỏ nằm trong một khu lao động khá tươm tất ở quận Trask của thành phố Raccoon, có một công viên khá đẹp ở cách không quá hai dãy nhà, và chỉ cần khoảng năm phút để đi đến bến xe. Không còn cảnh ùn tắc, những căn nhà ổ chuột đông đúc và những hành động bạo lực tuỳ tiện. Một khi đã vượt qua được sự ngượng ngùng khi lần đầu tiên đi làm như một cảnh sát thực thụ mà vẫn chưa kịp dỡ đồ đạc ra, anh sẽ hướng tới cuộc sống mới trong một cộng đồng bình yên. Raccoon tách xa khỏi Big Apple hết mức có thể, cảm tạ trời đất – trừ những tháng gần đây. Những án mạng đó...

Dù đang phấn khích, nhưng anh vẫn thoáng rùng mình với những suy tưởng. Những việc đã xảy ra ở Raccoon thật ghê tởm, dĩ nhiên, bệnh hoạn, nhưng kẻ thủ ác chưa bao giờ bị bắt và cuộc điều tra cũng chỉ mới bắt đầu. Và nếu Irons thích anh, thích anh nhiều như ông hiệu trưởng trường đã từng thích anh, Leon sẽ có thể có cơ hội làm việc trong vụ này. Nghe đồn Irons là một cái gai, nhưng Leon biết anh được đào tạo xuất sắc – ngay cả một cái gai cũng có thể bị ấn tượng. Dù gì anh cũng nằm trong số mười người tốt nghiệp xuất sắc nhất. Và anh cũng không xa lạ gì với Raccoon, vì anh đã ở hầu hết các mùa hè tại đó khi còn là một chú nhóc, lúc ông bà anh vẫn còn sống. Thời đó, tòa nhà Sở cảnh sát Raccoon còn là một thư viện, và Umbrella hãy còn vài năm nữa mới biến thị trấn thành một thành phố thực thụ, nhưng hầu như nó vẫn là một nơi bình lặng như anh vẫn nhớ từ hồi thơ ấu. Khi nào những kẻ ăn thịt người bị tống khứ đi, Raccoon sẽ lại hoàn thiện như trước – xinh đẹp, sạch sẽ, một cộng đồng lao động trí thức náu mình giữa các đỉnh núi như một thiên đường bí mật.

Rồi mình sẽ ổn định trong vòng một hay hai tuần, và Irons sẽ nhận ra là những bản báo cáo của mình tốt đến thế nào, hay là mình giỏi như thế nào trong công việc được giao. Ông ta sẽ bảo mình nhìn qua hồ sơ vụ án, chỉ để làm quen với các dữ liệu để mình chạy việc lặt vặt và mình sẽ phát hiện điều chưa ai để ý. Một kiểu mẫu, có thể lắm, hay một mô típ bắt gặp trên nhiều hơn một nạn nhân... hay mình sẽ tình cờ gặp một nhân chứng chỉ ra điều gì đó không ổn. Chưa ai nhìn nhận ra bởi vì họ đã sống ở đây quá lâu, và gã cớm mới toe này vừa đến đã phá án, chưa đầy một tháng sau khi ra trường và mình...

Có cái gì chạy qua ngay trước chiếc Jeep.

“Lạy Chúa!”

Leon nhấn phanh và đánh tay lái, bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng trong nỗ lực kiểm soát cái xe. Phanh hãm gấp và tiếng ken két của cao su nghe như một tiếng thét. Chiếc Jeep quay nửa vòng về phía hàng cây tối bên đường – và dừng bên lề, chết máy sau cú xóc nảy cuối cùng.

Tim đập thình thịch và bụng dạ rối bời, Leon mở cửa sổ và thò cổ ra, xem xét vùng tối tìm con thú vừa mới chạy qua xa lộ. Anh không đâm phải nó nhưng cũng suýt soát. Chó loại gì đấy, anh không nhìn rõ – dù sao cũng là một con to, chó chăn cừu hoặc một con Doberman lớn, nhưng mà nhìn nó có vẻ làm sao ấy. Anh chỉ nhìn thấy nó trong một chớp mắt, một hình ảnh chớp nhoáng của đôi mắt đỏ lóe sáng và một thân hình gầy guộc nhẳng nheo. Và còn cái gì khác, như thể là...

...nhơn nhớt? Không, chỉ là ảo giác ánh sáng, hoặc là mày sợ rơi cả tim nên nhìn lầm. Quan trọng nhất là mày không sao và mày không đâm phải nó.

“Lạy Chúa,” anh nói lần nữa, lần này nhẹ nhàng hơn, cảm thấy dễ chịu hơn và bỗng dưng rất cáu kỉnh khi đã bớt căng thẳng. Những người để cho chó của họ chạy rông thật ngu ngốc – lúc nào cũng khẳng định là muốn chó cưng chạy chơi thoải mái, để rồi tỏ ra ngạc nhiên khi chúng bị xe chẹt.

Chiếc Jeep dừng cách một tấm biển đề THÀNH PHỐ RACCOON 10 chỉ vài chục centimet. Anh chỉ lờ mờ thấy được chữ trong bóng đêm đang xuống dần. Leon liếc nhìn đồng hồ, hãy còn nửa tiếng nữa mới phải đến sở làm, còn nhiều thời gian – nhưng vì lý do gì đó, anh chỉ ngồi im một lúc, nhắm mắt và thở thật sâu. Không khí thơm mùi gỗ thông mát lạnh lướt qua mặt anh; con đường hoang vắng trải dài dường như im ắng đến phi lý – như thể không gian đang nén hơi thở, chờ đợi. Lúc này khi tim đã lấy lại nhịp bình thường hơn, anh ngạc nhiên nhận ra là anh vẫn có cảm giác bối rối, thậm chí lo âu.

Những án mạng ở Raccoon. Chẳng phải là đã có một vài người bị giết vì thú vật tấn công đó sao? Chó dại, hay cái gì khác? Rất có thể đó chẳng phải là thú nuôi của ai hết.

Đầu óc rối bời – và càng rối bời hơn khi anh bỗng nhiên có cảm giác rằng con chó vẫn ở gần đâu đây, dường như đang theo dõi anh từ bóng tối của những lùm cây.

Chào mừng anh đến thành phố Raccoon, cảnh sát Kennedy. Hãy cẩn thận với những thứ rất có thể đang theo dõi anh...

“Đừng có vớ vẩn thế,” Leon lẩm nhẩm với chính mình, và cảm thấy đỡ hơn chút đỉnh trước giọng nói người lớn nghiêm túc của mình. Anh thường tự hỏi liệu có thể bỏ được cái tính hay tưởng tượng không.

Mơ mộng như một đứa nhóc mơ bắt được kẻ xấu, rồi thì là những con chó-quái vật giết người bịa đặt ẩn trong rừng – hãy cố hành động như người lớn nào Leon? Mày là cảnh sát, lạy Chúa, một người trưởng thành...

Anh nổ máy và lại lên đường, mặc kệ cái cảm giác kì lạ bứt rứt cách nào đó đang xâm chiếm trong người anh, dù cho lý trí đang khiển trách. Anh có một công việc mới và một căn hộ xinh xắn trong một thành phố nhỏ đầy triển vọng; anh thạo việc, lanh lợi và bề ngoài lịch sự; khi nào anh giữ cho đầu óc sáng tạo của mình nằm trong tầm kiểm soát, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

“Tôi đi tiếp đây,” anh tự nhủ, cố nặn ra một cái nhếch mép gượng gạo nhưng thật sự rất cần để bình ổn tâm trí. Anh đang trên đường đến thành phố Raccoon, đến với một cuộc đời mới đầy hứa hẹn – không có gì để phải cảm thấy không thoải mái, không gì hết...
*
* *
Claire đã kiệt sức, cả thể xác lẫn tinh thần, và việc mông cô đang ê ẩm suốt mấy tiếng nãy giờ chả giúp được gì hơn. Tiếng nổ của động cơ Harley dường như đã ăn sâu tận xương, một đối trọng về thể xác so với nỗi lo lắng bồn chồn của cô – và dĩ nhiên, cảm giác tệ nhất bắt nguồn từ cái mông nhức nhối và nóng bức. Còn nữa, trời đang tối dần, và như một đứa ngốc, cô đã quên mặc áo khoác da; Chris sẽ bực lắm đây.

Anh ấy sẽ gào toáng lên, nhưng mình sẽ không thèm quan tâm. Chúa ơi, Chris, làm ơn có ở đó để hét vào mặt em vì đã hành động ngu ngốc...

Chiếc Harley nổ bình bịch trên con đường tối, tiếng động cơ vang vang dội lại cô từ những đỉnh đồi dốc và hàng cây thẳm tối. Cô rẽ góc cẩn thận, ý thức rõ là con đường xa lộ quanh co rất vắng vẻ; nếu cô ngã, phải lâu lắm mới có ai đó đi ngang qua.

Làm như là cần thiết lắm vậy. Ngã xe không có đồ bảo hộ, mày sẽ bị cạo thành từng miếng trên mặt nhựa đường chỉ với một cú lăn.

Thật ngu ngốc, cô biết mình thật ngốc mới rời đi quá sức vội vã đến độ không thèm soạn đồ - nhưng có điều gì đó đang xảy ra với Chris. Quỷ thần ơi, chuyện gì hẳn đang xảy ra với cả thành phố. Suốt mấy tuần gần đây, mối nghi ngờ về việc anh trai cô đang gặp vấn đề đã trở nên chắc chắn, và những cú điện thoại cô gọi buổi sáng hôm đó đã làm cho nó càng chắc chắn hơn.

Không ai ở nhà. Không ai ở nhà ở bất cứ đâu. Cứ như là Raccoon đã di dời và quên không để lại lời nhắn địa chỉ mới vậy.

Thật là rợn tóc gáy, mặc dù cô cóc thèm quan tâm đến Raccoon. Vấn đề là Chris đang ở đó, và nếu có gì xấu xảy ra với anh...

Cô không thể, không nên nghĩ như thế. Chris là tất cả những gì cô có. Cha họ đã chết vì tai nạn trên công trường khi cả hai còn nhỏ xíu, và khi mẹ chết vì xe đụng ba năm trước, Chris đã cố gắng hết mức để vào vai phụ huynh của cô. Mặc dù anh ta chỉ lớn hơn vài tuổi, anh đã giúp cô chọn trường cao đẳng, tìm cho cô một bác sĩ chuyên khoa trị liệu tử tế - anh còn gửi cho cô ít tiền mỗi tháng trong số lương cảnh sát kiếm được, mà anh gọi là “tiền đi dạo”. Và trên hết, anh gọi điện cho cô vài tuần một lần, chính xác như đồng hồ.

Ngoại trừ việc anh đã không gọi lần nào suốt một tháng rưỡi nay, và cũng chẳng trả lời điện thoại của cô. Cô cố gắng thuyết phục bản thân rằng thật là ngốc khi cứ lo lắng, có thể anh ấy đã quen một cô gái, hoặc có gì đảo lộn trong việc đình chỉ S.T.A.R.S., hay bất cứ chuyện gì tương tự. Nhưng sau ba lá thư không được hồi đáp và nhiều ngày chờ đợi chuông điện thoại reo, cuối cùng cô đã gọi một cuộc đến Sở cảnh sát Raccoon trưa hôm đó, hi vọng nối tiếp hi vọng có ai ở đó có thể biết chuyện gì đang xảy ra. Và chỉ có tín hiệu bận.

Ngồi trong phòng kí túc xá, lắng nghe tiếng máy tút tút vô hồn đó, cô đã bắt đầu thấy thật sự lo lắng. Ngay cả một thành phố nhỏ như Raccoon cũng phải có hệ thống trả lời tự động cho các cuộc gọi trong vùng. Lý trí bảo cô không nên hoảng hốt, rằng một đường dây gặp sự cố chẳng có gì là kì lạ, nhưng linh tính mách bảo cô có chuyện xấu. Cô đã dò cuốn sổ ghi địa chỉ với đôi tay run rẩy, gọi một vài số cho bạn của anh, những người hay những nơi anh đã dặn cô gọi đến nếu có chuyện thật cần kíp mà anh không có nhà – Barry Button, Quán Emmy, ông cớm nào đó cô chưa từng gặp tên David Ford. Cô cũng đã thử gọi Billy Rabbitson, mặc dù Chris đã bảo cô rằng anh ta biến mất từ mấy tháng trước. Và ngoại trừ chiếc máy tự động trả lời đã đầy ứ của nhà David Ford, cô chẳng nhận được gì ngoài những tín hiệu bận.

Vào cái lúc cô ngưng gọi, nỗi lo đã chuyển thành điều gì đó rất gần với hoảng loạn. Đi đến Raccoon từ trường đại học của cô chỉ mất khoảng sáu tiếng rưỡi. Bạn cùng phòng của Claire đã mượn đồ bảo hộ của cô để đi chơi với anh bạn trai mới, nhưng Claire còn một cái mũ bảo hiểm khác – và với cái cảm giác chưa hẳn là hoảng loạn ấy cứ quay cuồng trong đầu cô cùng những suy nghĩ đáng sợ, cô đã làm một việc đơn giản là với lấy mũ bảo hiểm rồi lên đường.

Ngu ngốc, có thể lắm. Bốc đồng ư, đương nhiên rồi. Và nếu Chris không việc gì, bọn mình có thể cười mãi cười hoài vì mình đã hoang tưởng tức cười ra sao. Nhưng nếu không biết được chuyện gì đang xảy ra, mình sẽ không có phút nào bình tâm.

Tia sáng cuối cùng của ban ngày đang tắt dần trên khoảng trời không một gợn mây, dù vậy một mặt trăng sắp tròn và ánh đèn pha của chiếc Softail đủ sáng để cô nhìn thấy – quá đủ để nhìn thấy tấm biển đề phía bên trái cô: THÀNH PHỐ RACCOON 10. Tự nhủ là Chris vẫn yên lành, Claire buộc mình tập trung vào điều khiển chiếc xe nặng nề. Trời sắp sửa tối hẳn, nhưng cô sẽ đến Raccoon trước khi quá tối để lái xe. Thành phố Raccoon có an toàn hay không, cô sẽ biết ngay thôi.

Lioncoeur
03-11-2006, 08:14
Chương 3
Người dịch : Lioncoeur

LEON ĐẾN NGOẠI Ô THÀNH PHỐ trong vòng chưa đầy hai mươi phút, nhưng anh đã quyết định là đừng mong có một bữa tối ra trò. Những lần viếng thăm trước đây cho Leon biết có vài cái máy bán hàng tự động, và anh có thể vớ lấy vài thứ gì đó ăn tạm cho qua. Kẹo sữa cũ rích và đậu phộng chẳng tốt cho cái bao tử sôi sùng sục của anh chút nào, nhưng đành chịu thôi, ai bảo anh đã không tính tới tình trạng giao thông ở New York.

Lái được xe đến thành phố đúng giờ đã làm nguội đi nỗi lo lắng của Leon; anh đi qua vài trang trại phía đông thành phố, đất đai và chuồng trại khá tươm tất, rồi xe dừng lại ở điểm phân cách giữa thành phố và nông thôn. Ý nghĩ về việc mình sẽ đi tuần trên những con đường này, bảo vệ an toàn cho chúng, khiến cho anh có một cảm giác hạnh phúc và hơi hãnh diện. Không khí chớm thu thật trong lành mát mẻ làm sao, và mặt trăng đang rọi lên mọi vật một làn sáng bạc dịu dàng. Anh sẽ không bị trễ, chỉ trong vòng một giờ nữa thôi, anh sẽ là một phần của thành phố Raccoon.

Khi Leon rẽ chiếc Jeep vào đường Bybee, hướng tới một trong những con đường Bắc-Nam dẫn đến toà nhà RPD, anh nhận thấy một dấu hiệu đầu tiên của sự bất thường. Trong vài dãy nhà đầu tiên, anh ngạc nhiên một nửa; đến dãy thứ năm, anh bắt đầu sốc. Không chỉ là kỳ lạ, mà là … không thể tin được.

Bybee là con đường thực sự đầu tiên của thành phố từ phía đông, nơi chẳng có mấy những cao ốc đông người. Có nhiều quán bar và quán ăn rẻ tiền, một rạp phim tồi tàn chẳng chiếu gì ngoài những phim kinh dị và khiêu dâm hài – và do đó đây là nơi lui tới thường xuyên của giới trẻ ở Raccoon. Thậm chí còn có vài nhà trọ kiểu mới phục vụ bia và rượu mạnh cho những đám sinh viên ưa trượt tuyết mùa đông. Vào tối thứ bảy, từ chín giờ kém mười lăm trở đi là lúc Bybee tràn đầy sinh khí.

Nhưng hiện tại Leon gần như chỉ thấy toàn bóng tối trong những cửa hiệu và nhà hàng dọc hai bên đường, vài chỗ có ánh sáng thì chẳng có người nào bên trong. Có cả đống xe hơi đang đậu dọc theo con đường hẹp té, vậy mà anh vẫn chưa nhìn thấy bất cứ ai; Bybee, nơi lui tới thường xuyên của đám choai choai và học sinh trung học, đang hoàn toàn vắng vẻ.

Mọi người chui vào xó xỉnh nào rồi không biết?

Đầu óc Leon căng ra tìm câu trả lời khi chiếc xe của anh thận trọng lăn bánh trên con đường vắng tanh, đánh liều tìm kiếm một lý do – và tìm cách giải tỏa bớt sự căng thẳng đến toát mồ hôi lạnh đang bám lấy mình. Chắc là có một sự kiện nào đó, buổi họp mặt nhà thờ chẳng hạn, hay một bữa tiệc spaghetti. Hoặc Raccoon tổ chức một lễ hội tháng mười, và tối nay là lúc khởi đầu.

Phải, nhưng chả lẽ mọi người đều biến đi cùng một lúc à? Phải có ai đó không tham gia tiệc tùng chứ?

Lúc này Leon mới chợt nhận ra là anh đã không thấy chiếc xe nào chạy trên đường, kể từ lúc bị con chó làm giật mình mười phút trước. Một chiếc cũng không. Và rồi một cảm giác khác ập đến với anh – không ấn tượng mấy, nhưng hầu như ngay lập tức.

Thứ gì có mùi rất gớm. Nói cho đúng là giống như mùi phân.

Y như một con chồn hôi bị chết. Có lẽ là bị quẳng ra ngoài trước khi chết.

Leon đã giảm tốc chiếc Jeep và chuẩn bị rẽ trái chỗ đường Powell, ngay dãy nhà đằng trước, nhưng cái mùi kinh khủng và sự thiếu vắng hoàn toàn sinh khí đã khiến anh thấy ghê rợn đến nổi gai ốc. Có lẽ anh nên dừng xe và kiểm tra một chút, xem có dấu hiệu nào của sự sống không.

“Hey!”

Leon nhe răng cười, cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Có một cặp đang đứng ở góc đường, chính xác là đằng trước bên phải của anh; ánh đèn đường không soi tới đó nhưng anh vẫn có thế thấy bóng của họ đủ rõ – một cặp, người phụ nữ mặc váy và người đàn ông to lớn mang giày bốt. Khi đến gần hơn, Leon có thể thấy họ đang di chuyển về phía nam Powell và có vẻ như đã uống quá chén. Cả hai khập khiễng bước vào trong bóng tối bên cạnh một cửa hàng, và ra khỏi tầm nhìn của anh – dừng lại và hỏi xem có chuyện gì xảy ra thì đâu có sao chứ?

Chắc là mới ra khỏi quán O’Kelly. Có thể đã uống nửa hoặc cả lít chứ chẳng chơi, may mà họ chẳng lái xe, nếu không là bị mình phạt rồi. Và mình sẽ là đồ đần nếu họ bảo rằng tối nay có buổi hòa nhạc lớn, hoặc có một bữa tiệc ngoài trời có-đủ-thứ-cho-bạn-chén…

Phát chóng mặt với những giả thiết, Leon rẽ ở góc đường và liếc nhìn vào bóng tối đen kịt, tìm kiếm hai người hồi nãy. Anh không thấy họ, nhưng có một lối đi chen giữa nhà kho và một cửa hiệu bán đồ trang sức. Có lẽ hai người bạn say xỉn của anh đã chui vào phòng tắm hay một đâu đó không hợp pháp cho lắm…

”Chết tiệt!”

Leon phanh gấp khi thấy nửa tá bóng đen bay lên khỏi mặt đường, dưới ánh đèn xe trông như những chiếc lá khổng lồ đang quay cuồng. Bị giật mình, nên mất một giây sau anh mới nhận ra đó là những con chim; chúng không hề kêu rít lên, mặc dù anh ở gần đến mức có thể nghe thấy tiếng vỗ cánh trong không trung.

Lũ quạ, chắc đang thưởng thức một bữa tiệc muộn dưới đường, cái gì trông như …

Ôi, lạy Chúa.

Có một thi thể nằm ngay giữa đường, cách đầu xe Jeep chừng hai chục bước. Mặt úp xuống, nhưng trông có vẻ là phụ nữ, và từ cái chất lỏng màu đỏ vấy khắp chiếc áo khoác đã-từng-màu-trắng, có thể thấy đây không phải là một sinh viên uống say và quyết định làm một giấc tại một nơi như thế này.

Tông rồi bỏ chạy. Thằng khốn nào đó tông vào cô ta rồi chạy mất. Lạy Chúa, thật là …

Leon tắt máy và trườn nửa người ra ngoài trước khi những suy tưởng ập đến. Anh lưỡng lự, một chân đang đặt lên lớp nhựa đường, cái mùi hôi thối nặng nề của tử thi vẫn lởn vởn trong không khí lành lạnh. Trí óc của anh khăng khăng cho rằng không nên suy tính quá, nhưng anh thì biết rõ, rằng đây không phải là một bài thực tập, đây là đời thực.

Nếu không phải là tông và bỏ chạy thì sao? Nếu việc không một ai quanh đây là kết quả luyện tập của một tay súng tâm thần thì sao? Mọi người có thể đang ở trong nhà, nằm sát đất – có thể người của RPD đang đến hiện trường, và biết đâu những người say xỉn hồi nãy không phải là say, họ bị bắn và đang cố tìm sự trợ giúp …

Anh chuồn vào trong chiếc Jeep và lôi từ dưới ghế ra món quà tốt nghiệp của anh, một khẩu Magnum loại .50AE hiệu Đại Bàng Sa Mạc có báng súng mười inch, sản phẩm của Israel. Cha và chú của anh – đều là cảnh sát – đã cùng đi mua nó; không phải loại tiêu chuẩn của RPD, thật ra là hỏa lực còn mạnh hơn. Leon lôi băng đạn trong tủ đựng găng tay ra và lắp vào súng, cảm nhận sức nặng của vũ khí trên cánh tay hơi run rẩy, anh tin chắc đây là món quà hay nhất mà anh từng được nhận. Anh nhét thêm hai băng đạn vào túi đựng ở thắt lưng, mỗi cái chỉ có sáu viên đạn.

Chĩa khẩu Magnum xuống đất, Leon bước ra khỏi xe và xem xét một lượt xung quanh. Anh không quen thuộc với buổi tối ở Raccon lắm, nhưng anh biết rằng tối như thế này là không bình thường. Nhiều ngọn đèn dọc đường Powell ở phía xa dường như đã bị bắn, hoặc không được bật, và bóng tối dày đặc đang bao phủ lên cái thây đẫm máu; nếu không nhờ đèn xe thì anh đã chẳng trông thấy nó.

Anh lườt về phía trước, cảm nhận một mối lo lắng khi rời khỏi chiếc xe đang làm vỏ bọc cho mình nãy giờ, nhưng anh nghĩ rằng người phụ nữ kia biết đâu còn sống; trông không giống lắm, nhưng ít nhất anh cũng phải kiểm tra đã.

Tiến thêm vài bước nữa, và anh nhận ra đây chắc chắc là một phụ nũ trẻ. Mái tóc đỏ duỗi thẳng che khuất khuôn mặt, bộ đồ đồng phục có vải bông sọc. Những vết thương bị che khuất bởi chiếc áo thun vấy máu, nhưng có vẻ là cả tá những lỗ rách bươm trên lớp vải ướt bị xé rách, lớp thịt và màu đỏ của cơ nằm bên dưới.

Cố kìm nén một cách khó khăn, Leon chuyển súng sang tai trái và cúi xuống sát bên cái thây. Anh cảm nhận một làn da lạnh lẽo khi chạm đầu ngón tay vào cổ cô ta, áp hai ngón tay lên động mạch chủ. Vài giây trôi qua, những giây phút làm anh cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ khi nhớ tới những cách thức sơ cứu khẩn cấp, và khi ngay bắt đầu cầu nguyện thì anh cảm thấy một nhịp đập.

Đến đến năm, thở hai hơi ngắn, khuỷu tay giữ cho cẩn thận, làm ơn đừng có chết nhé …

Leon không thể chờ thêm phút giây nào nữa, anh nhét khẩu Magnum vào thắt lưng và xốc vai cô ta dậy để xem xét hơi thở, nhưng khi vừa nâng lên thì có một thứ khiến anh phải bỏ cô ta nằm xuống trở lại, tim anh đập loạn xạ trong lồng ngực.

Chiếc ao thun của nạn nhân bị dứt hẳn ra khỏi đồ lót, đến mức anh có thể nhận thấy xương sống và một phần ngực của cô ta đang trần trụi, những khối thịt ẩn hiện có màu đỏ, phần thịt chỗ xương sườn đã biến thành một khối rách bươm. Cứ như thể cô ta bị đánh gục và bị … nhai ngấu nghiến. Những thông tin mà Leon vốn không coi là quan trọng thình lình trỗi dậy, và bất chấp việc đã dựng được một vài lập luận thì anh vẫn cảm thấy một nỗi sợ hãi thật sự đang xoắn chặt lấy tâm trí của mình.

Lũ quạ không thể gây ra những vết thương như vậy, vì chúng phải tốn hàng giờ cho việc này, vả lại có bao giờ quạ lại tụ tập trong đêm để ăn thịt đâu? Và cái mùi ấy không phải phát ra từ cô ta, cô ta vừa chết thôi, và …

Lũ ăn thịt người. Lũ sát nhân.

Không. Không thể nào. Không lý nào chuyện như thế lại xảy ra, không lý nào một người bị giết và bị ăn thịt ngay giữa con đường trong thành phố mà không ai can thiệp …

…và có đủ thời gian cho những con chim ăn xác nhập tiệc – nếu có chuyện như vậy thì tên sát nhân hẳn phải thanh toán phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả cư dân. Có thật vậy không nhỉ? Có thể lắm. Chứ cái mùi đó là gì? Và mọi người đâu hết rồi?

Phía sau Leon có một tiếng rên khẽ. Tếng lê bước, và một một âm thanh khác. Một tiếng động ướt át. Anh chỉ có một giây để đứng lên và quay lại, bàn tay chộp lấy khẩu Magnum theo bản năng. Chính là hai kẻ say xỉn đang lắc lư đi về phía anh, cùng sự gia nhập của một kẻ thứ ba, một gã lực lưỡng với … với máu dính đầy trên áo và trên tay, và nhễu nhão ra từ miệng; một cái miệng đỏ lòm trông như bằng cao su đặt trên một bộ mặt thối rữa sền sệt, nhìn cứ như một vết loét toang hoác. Gã đàn ông mang giày bốt và áo dây nhìn cũng chẳng khác gì, và chữ V trên áo khoác hồng của người phụ nữ tóc vàng nổi bật trong bóng tối, trông cô ta giống y như hai tên kia.

Bộ ba ấy lảo đảo tiến về phía anh, qua khỏi chiếc Jeep, giơ cao cánh tay nhợt nhợt trong tiếng rên rĩ đói khát. Một thứ chất lỏng đen ngòm ộc ra khỏi cái mũi của gã đàn ông lực lưỡng, chảy xuống cái lưỡi đang đung đưa, và Leon hoàn toàn hiểu rằng cái mùi kinh khủng anh nghe thấy là mùi thịt thối phát ra từ chúng …

… và có thêm một đứa nữa bước ra từ một cánh cửa bên đường, một phụ nữ trẻ mặc áo thun vấy bẩn, tóc buộc đằng sau với một bộ mặt trống rỗng và uể oải.

Một tiếng rên phát ra sau lưng anh, Leon liếc qua vai để thấy một thanh niên tóc đen với những cánh tay thối rữa đang lê bước ra khỏi bóng tối của một mái hiên cửa sổ bên lề đường.

Leon nâng súng lên nhắm vào tên gần nhất, gã mặc áo có dây, trong lúc bản năng đang gào lên với anh là phải chạy ngay. Anh đang khiếp đảm, nhưng lập luận theo bài bản của anh khăng khăng cho rằng có một sự giải thích cho những gì đang thấy, rằng anh không phải đang giáp mặt những cái thây biết đi.

Kiểm soát tình hình, theo phương pháp, mày là cảnh sát mà …

“Đủ rồi! Không được tiến thêm nữa! Không được cử động!”

Giọng anh mạnh mẽ, đầy mệnh mệnh và quyền uy, và anh đang mặc cảnh phục, và lạy Chúa, sao chúng thèm ngừng? Gã mặc áo dây lại rên lên, bất chấp họng súng đang chĩa vào ngực và tiến tới cùng với đồng bọn, bây giờ chỉ cách anh không đầy mười bước.

“Không được cử động!” Leon lặp lại, và nỗi sợ hãi của anh tăng thêm một bậc khi liếc sang hai bên, thấy có thêm những kẻ lừ đừ rên rĩ bước ra từ bóng tối.

Cái gì đó chộp lấy mắt cá chân anh.

”Không!” Leon hét lên, quay súng lại – thấy cái thây của nạn nhân vụ tông-và-bỏ-chạy đang níu giày bốt của anh với một cánh tay lấm lem máu, cố lết cái thân đến gần anh hơn. Tiếng rên rĩ hổn hễn của một cơn đói điên cuồng hòa cùng với những tên còn lại trong khi nó cố cắn chân anh. Nước bọt hòa lẫn với máu đang nhễu ra từ cái cằm trầy trụa, nhỏ lên lớp da thuộc.

Leon bắn vào phía trên lưng, tiếng nổ đanh gọn của vũ khí hạng nặng đã nới lỏng tay nắm của cái thây, và có lẽ tầm bắn rất gần đã làm thủng luôn tim của nó. Cái thây co lại, lăn xuống đường – và khi anh quay lại thì thấy những tên kia chỉ còn cách không tới năm bước, anh bắn thêm hai phát, đạn tạo thành những bông hoa máu trên ngực của đứa gần nhất. Máu từ miếng vết thương phun thành vòi.

Gã mặc áo dây chẳng có vẻ gì lúng túng với hai cái lỗ thủng trên người, hắn chỉ dừng bước có một giây. Hắn mở rộng cái miệng đầy máu và phát ra một tiếng rên đói khát, tay lại giơ lên trong khi vẫn tiến thẳng về phía anh.

Chúng là thứ quái quỉ gì đó, chứ hỏa lực cỡ này có thể hạ gục cả một con voi …

Leon lùi lại và siết cò lần nữa. Lần nữa. Và lần nữa. Và thêm những tiếng lanh canh rơi trên mặt đường, lại siết cò. Và chúng vẫn tiến tới, phớt lờ những viên đạn găm trên lớp thịt thối tha. Một giấc mơ tồi tệ, một bộ phim kinh khủng, không phải là đời thực; và Leon biết anh sẽ chết nếu không chịu tin vào chuyện này. Bị ăn sống bởi những…

Thôi nào, Kennedy, thừa nhận đi. Những con zombie.

Bị chắn lối quay lại xe Jeep, Leon chỉ còn cách chạy trong lúc vẫn tiếp tục bắn.

Lioncoeur
03-11-2006, 08:15
Chương 4
Người dịch : q_thanhbt

Chẳng có gì ra vẻ là cuộc sống về đêm cả. Nơi này thật không khác nào một thành phố chết.

Claire vừa gặp một cặp lang thang gần đó khi cô vào thành phố, và nghĩ rằng còn khá lâu mới thấy được nhiều người như trước. Thực sự nơi này có vẻ quá hoang vắng; mặc dù cái mũ bảo hiểm của cô có cản trở tầm nhìn thật, nhưng rõ ràng là hoạt động kinh doanh ở phía đông thành phố diễn ra rất tẻ nhạt. Đường phố cũng vắng vẻ. Nó làm cô cảm thấy lo lắng, nhưng so với những thảm họa mà cô đã tưởng tượng suốt buổi chiều thì thế này vẫn chưa đến nỗi nào. Raccoon vẫn tồn tại, ít nhất là lúc đi đến quán ăn tối mở cửa 24/24 của Powell, cô thấy một đám đông những kẻ tiệc tùng đang đi ra giữa đường. Mấy thằng choai choai nghiện rượu, theo những gì cô nhớ trong lần viếng thăm gần nhất. Đáng ghét thật, nhưng ít ra chúng cũng không phải là các kỵ sĩ tiên phong báo hiệu Ngày Tận Thế (*).

Không có cảnh đổ nát do bom, không thương vong vì đạn, không còi báo động oanh tạc. Trong một chừng mực nào đó thì quá tuyệt.

Cô dự định đến thẳng căn hộ của Chris trước khi nhận ra mình đang đi ngang qua quán Emmy. Chris nấu ăn tệ hại, vì vậy anh ấy sống bằng ngũ cốc, mấy cái bánh sandwich nhạt nhẽo, và ăn tối tại quán Emmy sáu ngày một tuần. Thậm chí nếu anh ấy không có ở đó thì tốt hơn là cứ dừng lại, vào quán hỏi một trong những cô phục vụ xem anh ta có vừa ở đây không.

Khi Claire quẹo chiếc Softail vào bãi đậu xe trước quán Emmy, cô để ý đến hai con chuột đang chạy nháo nhào trên nắp thùng rác cạnh vỉa hè. Cô dừng lại và leo xuống xe, tháo mũ bảo hiểm rồi đặt nó lên yên. Lắc nhẹ mái tóc đuôi ngựa, cô khịt mũi khó chịu do mùi của những thứ rác rưởi bị bay ra ngoài đã khá lâu. Những thứ người ta quăng ra đây giờ đang bốc mùi thối độc hại nặng nề.

Trước khi vào trong, cô xoa nhẹ đôi tay và cặp chân trần của mình, vừa để bớt lạnh vừa phủi lớp bụi đường. Cái quần sọt và chiếc áo ghi lê không hợp với khí trời của một đêm tháng mười tí nào. Nó một lần nữa làm cô nhớ lại mình đã ngốc nghếch đến mức nào khi ăn mặc quá phong phanh. Chris thế nào cũng cho cô một bài thuyết giảng chết tiệt đây…

…Nhưng không phải ở đây.

Cánh cửa kính trước quán cho cô thấy rõ ràng ánh sáng bên trong, một quán ăn khá ấm cúng. Từ ngưỡng cửa sổ màu đỏ đã được cài then tại quầy thu ngân cho đến những buồng điện thoại có lót đệm dọc theo tường đang vắng bóng người. Claire lo lắng, khởi đầu thất vọng như thế này đã làm cô khá bối rối. Trong những chuyến đến thăm Chris khá thú vị vài năm gần đây, cô luôn ăn ở quán này cả ngày lần tối. Claire và Chris là những người hay đi đêm, nên họ thường ra ngoài ăn món cheeseburger lúc 3 giờ sáng – có nghĩa là quán Emmy mở cửa suốt đêm. Và luôn luôn có người ở đây, họ có thể trò chuyện với một trong những cô tiếp viên bận áo hồng, hoặc gò người trên tách cà phê với một tờ báo, không cần biết là mấy giờ.

Vậy họ đâu hết rồi? Thậm chí bây giờ chưa đến 9 giờ mà…

Tấm biển báo ghi là “mở cửa”, và cô cũng không có ý định tìm hiểu sự việc bằng cách đứng ngoài đường. Nhìn lướt qua chiếc xe lần cuối, cô mở cửa và bước vào trong. Cô hít một hơi thật sâu rồi gọi với một chút hi vọng.

Xin chào, có ai ở đây không?

Giọng cô dường như rơi vào sự tĩnh lặng của quán ăn vắng vẻ, ngoại trừ tiếng o o của cánh quạt trên trần nhà thì không còn một âm thanh nào nữa. Có mùi dầu mỡ bị ôi thiu quen thuộc trong không khí, nhưng cũng còn mùi gì đó nữa – một mùi gắt và thoang thoảng, giống mùi hoa thối.

Quán bố trí theo hình chữ L, quầy thu ngân kéo dài phía trước bên trái cô. Calire bước chậm rãi về phía trước. Phía cuối quầy là khu vực chờ, sau nữa là nhà bếp. Nếu quán Emmy mở cửa, các nhân viên ắt sẽ thò đầu ra ở đó, và có lẽ cũng sẽ ngạc nhiên y như cô khi không có khách hàng nào…

…có điều khó mà giải thích được về sự lộn xộn, phải không?

Chính xác thì nó cũng không phải là lộn xộn. sự bừa bãi đủ tinh vi để cô không nhận ra từ bên ngoài. Vài bảng thực đơn trên sàn nhà, một ly nước đổ trên quầy thu ngân, và một cặp đồ làm bằng bạc rơi bừa là dấu hiệu duy nhất của sự bất thường, nhưng như thế cũng đủ.

Kiểm tra nhà bếp làm cái quái gì chứ, bộ không thấy là có chuyện rất kì bí hay sao, nhiều thứ bị hư hại nghiêm trọng trong thành phố, có thể họ bị cướp, hoặc họ đang chuẩn bị cho một buổi tiệc bất ngờ không chừng. Quan tâm làm gì? Đi khỏi đây thôi.

Từ khoảng trống phía sau quầy thu ngân, cô nghe thấy tiếng di chuyển nhẹ, tiếng quần áo cọ sát rồi tiếng rào rạo nghèn nghẹn. Có ai đang ở đó, đang cúi đầu xuống.

Tim đập dồn dập, Claire gọi lần nữa. “Xin chào!”

Trong một chốc, vẫn không có gì xảy ra cả – và rồi một tiếng rào rạo khác, tiếng rên khẽ làm cô dựng tóc gáy.

Claire nhanh chóng lùi lại bất chấp mối nghi ngờ, cảm giác sợ hãi thời trẻ con thình lình khiến cô có cảm giác muốn rời khỏi đây; có lẽ có một vụ cướp, có thể những thực khách đã bị trói và bị nhét giẻ - hoặc thậm chí tệ hơn, bị chấn thương nặng đến nỗi không thể kêu la. Dù có phải hay không thì cô cũng bị liên lụy.

Claire tiến đến cuối quầy thu ngân, xoay về bên trái… và chết lặng, mắt mở rộng, cảm giác như bị một bạt tay đau điếng. Kế bên đống đồ và những cái khay là người đàn ông hói đầu mặc đồng phục nhà bếp màu trắng, quay lưng về phía cô. Ông ta cúi mình lên cơ thể một nữ hầu bàn. Nhưng có cái gì đó khác lạ về cô ta, quá kì lạ đến nỗi nhất thời tâm trí Claire không thể nhận ra nó. Ánh mắt kinh tởm của cô hướng về bộ đồng phục màu hồng, đôi giày đi bộ, thậm chí cả bảng tên cài trước ngực người phụ nữ, hình như là ”Julie” hay ”Julia” gì đó…

…Đầu cô ta, cô ta không có đầu.

Khi Claire nhận ra điều khác lạ là gì, cô không tài nào buộc mình quên nó đi được. Có một vũng máu khô ngay tại vị trí mà đáng lẽ cái đầu cô ta phải ở đó, một vũng bầy nhầy bao quanh bởi những mảnh vụng của bộ óc, mớ tóc rối nùi và máu đông. Gã đầu bếp xoa tay lên mặt, và khi Claire sợ hãi nhìn chằm chằm vào xác chết không đầu, gã thốt lên một tiếng rên suy nhược thống khổ. Claire mở miệng mà không chắc mình nói cái gì. Để la lên, để hỏi gã tại sao, làm thế nào, để cầu cứu - cô thực sự không biết, và khi người đàn ông quay lại về phía cô, những cánh tay rơi xuống, cô bị choáng đến nỗi không nói nên lời. Cái tên gớm ghiếc đó đang ăn cô phục vụ. Những ngón tay gầy nhom của nó dính đầy các mẫu mô; trước mắt cô là một gương mặt quái dị biến thái đầy máu.

Zombie.

Những câu chuyện lửa trại về đứa con của sinh vật về đêm, giờ thì cô đã tin nó sau một phần giây suy nghĩ; cô đâu phải con ngốc. Da của hắn tái nhợt chết chóc với cái mùi mục rữa thơm-muốn-ói mà cô đã ngửi thấy hồi nãy, cặp mắt đục ngầu và hàm răng trắng nhởn.

Zombie, ở Raccoon. Mình đâu có mong đợi chuyện này.

Nhận thức logic và điềm tĩnh đã thình lình chuyển sang sự sợ hãi tuyệt đối. Claire suýt ngã ra đằng sau, nỗi kinh hoàng khiến cho ruột gan cô co thắt, trong lúc gã đàn ông tiếp tục quay lại, đứng lên. Hắn cao lớn, có lẽ hơn chiều cao 5’3’’ của cô cả foot, và bự như kho thóc.

Và đã chết, hắn đã chết và ĐANG ĂN cô ta, đừng có để hắn tới gần.

Hắn bước từng bước đến chỗ cô. Đôi tay đầy máu nắm chặt lại. Claire lùi nhanh hơn, trượt lên một cái thực đơn. Rồi một cái nĩa kêu vang khi cô giẫm lên.

RA NGOÀI MAU!

“Xin nhường đường,” cô lảm nhảm. “Thiệt mà, đừng cản trở tôi …”

Tay đầu bếp bước ngả nghiêng về phía trước, cặp mắt mù của hắn thể hiện rõ sự đói khát. Một bước lùi nữa và Claire sờ ra phía sau cô, cảm giác sờ vào không khí, không thấy thứ gì – và sau đó sờ vào kim loại lạnh của tay nắm cửa. Một nỗi hoan hỷ tràn ngập trong người khi cô túm lấy và xoay tròn nắm cửa…

…và có tiếng gào ghê rợn rít lên bất thình lình, ngắn gọn. Có hai, ba con giống như thế hoặc hơn ở ngay bên ngoài. Xác thịt thối rữa của chúng đang ép lên cửa kiếng trước quán ăn. Một đứa trong đó chỉ có một mắt, hốc mắt còn lại bị mưng mủ. Một con khác không có môi trên, quần áo rách toạt, nụ cười toe toét vụng về gây ra bởi cái hàm dưới. Chúng cào cấu lên cửa sổ, gương mặt lỗ chỗ xám tro đầy máu, và từ bóng tối ngoài đường, những cái bóng đen lê lết về phía cửa.

Không thể ra ngoài, kẹt rồi…
Chúa ơi, cửa sau!

Ngoài rìa tầm mắt của cô là dấu hiệu lối thoát hiểm màu xanh rực rỡ, sáng như một cái đèn hiệu. Claire xoay lại và chỉ vừa kịp thấy tay đầu bếp đang tiến tới cô cách chừng vài bước, toàn bộ sự chú ý của cô dán chặt vào lối thoát duy nhất. Cô chạy, những cái buồng điện thoại lướt qua vùn vụt trong ánh sáng chập chờn, cánh tay vung hết tốc lực. Cửa mở ra một ngõ hẻm, cô sẽ chạy lao vào nó, và nếu nó bị khóa, cô sẽ tông nó ra.

Cô đâm sầm vào cánh cửa và nó mở tung ra, đánh mạnh vào bức tường ngoài ngõ hẻm… và có một khẩu súng chĩa vào mặt cô, thứ duy nhất có thể làm cô dừng lại lúc này, một chàng trai với một khẩu súng…

Cô chết sững, giơ tay lên theo bản năng để tránh đòn.

“Chờ đã! Đừng bắn”

Chàng trai không di chuyển. Họng súng vô tình vẫn hướng vào đầu cô …

- anh ta giết mình mất –

“Thụp xuống!” anh ta la lên, và Claire cúi người, hạ đầu gối xuống theo mệnh lệnh vừa lúc những ngón tay lạnh lẽo thình lình dò dẫm lên vai cô…

Bùm! Bùm!

Chàng trai bóp cò và Claire vội ôm đầu, thấy xác chết tên đầu bếp ngã xuống ngay sau lưng. Ít nhất bây giờ một lỗ lớn đã ở trên trán của nó. Một dòng máu chầm chậm phun ra thành tia từ vết bắn, đôi mắt trắng bị màu đỏ phủ lên che đi. Tử thi rơi xuống co giật một, hai lần rồi dừng hẳn.

Claire quay về phía chàng trai đã cứu cô, bộ đồng phục của anh ta có vẻ mới mặc lần đầu. Cảnh sát. Anh ta trẻ, cao – và gần như cũng khiếp sợ như cô. Môi trên của anh lấm tấm vài giọt mồ hôi, đôi mắt xanh mở rộng không chớp. Ít ra giọng anh cũng còn mạnh mẽ và chắc nịch khi anh cúi xuống giúp cô đứng dậy.

"Chúng ta không thể ở ngoài này, đi với tôi. Chúng ta sẽ an toàn hơn tại đồn cảnh sát."

Khi anh nói, cô có thể nghe một loạt những tiếng rên rỉ gớm ghiếc đang tiến lại gần ngoài đường. Tiếng rên rỉ của những tên đói khát đang to dần. Claire mặc cho mình bị kéo đi, cô nắm chặt tay anh, cảm thấy hơi dễ chịu khi nhận ra những ngón tay của anh cũng phát sốt và run như cô. Họ chạy, khéo léo tránh những bãi rác và mấy đống đổ nát ngổn ngang, những tiếng kêu gào quái gở liên hồi vọng theo khi những con Zombie tìm thấy ngõ hẻm tối và bắt đầu theo dấu họ.



(*) Nguyên văn: Horseman of apocalypse, lấy ý trong kinh thánh.

Lioncoeur
03-11-2006, 08:17
Chương 5
Người dịch : q_thanhbt

LEON CHẠY BÊN CẠNH CÔ GÁI, mơ hồ nhớ lại sơ đồ khu vực của thành phố. Ngõ hẻm có lẽ dẫn ra phố Ash, cách sở cảnh sát Raccoon trên đường Oak không xa, nhưng ít nhất cũng phải đi thêm mười lăm dãy nhà nữa về hướng tây. Nếu không tìm thấy phương tiện di chuyển, họ khó lòng tới đó được. Anh đã xài bốn viên trong băng đạn cuối cùng này rồi, trong khi căn cứ theo những âm thanh phát ra dọc theo con hẻm, có thể có hàng tá, thậm chí hàng trăm con ở cả hai phía. Khi chạy ra đầu hẻm, Leon siết chặt khẩu súng, chạy chậm lại, nhìn lướt qua ánh đèn mập mờ trên đường. Anh không thể thấy rõ ràng, nhưng giữa chỗ họ đang đứng và ngọn đèn đường gần đó, có khoảng mười một hay mười hai con phía tay phải, đang lừ đừ rình rập trên con phố tối tăm hôi thối. Chỉ có ba con bên trái, cách đó không xa lắm,…

... Lạy Chúa nhân từ!

”Đằng kia!”

Leon chỉ về phía chiếc xe tuần tra đang đỗ bên kia đường, mừng như điên. Không có viên cảnh sát nào bên trong, không có nhiều thời gian để thắc mắc, nhưng cửa trước đang mở. Và ba con đang đi lòng vòng gần đó không thể theo kịp họ. Thậm chí nếu không có chìa khóa xe thì cũng còn điện đài và lớp kính chống va đập. Họ có thể cầm cự với lũ thây sống tới khi có trợ giúp…

…Cơ may duy nhất, đi thôi!

Một chút ngập ngừng và anh thấy cô gái gật đầu, đuôi tóc của cô lúc lắc, họ lao hết tốc lực về phía chiếc xe, mặt đường nhòe đi dưới chân. Leon chĩa súng về phía mấy con gần nhất, có lẽ cách đó năm mươi bước. Anh muốn bắn, không cho chúng tới gần thêm, nhưng anh không thể lãng phí đạn.

Lạy Chúa, cầu cho có chìa khóa ở đó!

Họ chạy đến chiếc xe và tách ra, cô gái chạy vòng qua ghế kế bên tay lái. Leon nhận ra một điều dở khóc dở cười rằng có lẽ cô nghĩ đây là xe của anh. Anh chờ cô đóng sầm cửa lại rồi nhảy vào phía sau tay lái. Với một chút sợ hãi, anh nhớ ra đây là ngày đi làm đầu tiên của mình khi đóng mạnh cửa xe.

Lời nguyện cầu đã thành hiện thực, chìa khóa ngay bên trong ổ. Leon nhét khẩu Magnum vào bao và vồ lấy nó, có cảm giác như niềm hi vọng trở lại một lần nữa, giống như bên cạnh cái chết có những sự lựa chọn vậy.

“Thắt dây an toàn vào,” anh nói, loáng thoáng nghe câu trả lời của cô trong khi anh vặn chìa khóa, đèn xe bật lên. Đường Ash cùng với những thây ma đuổi theo họ bây giờ đã chìm vào vòng xoáy nhiều màu sắc. Bóng tối thay đổi và dày đặc hơn. Đó là một quang cảnh chết chóc, anh nhấn gas, chạy nhanh hết mức có thể.

Chiếc xe ré lên rồi lao vút đi. Leon kéo tay lái sang phải rồi sang trái, cách người phụ nữ có da đầu rách toạt trước mặt trong đường tơ kẽ tóc. Thậm chí qua lớp cửa kín mít, anh có thể nghe tiếng tru gớm ghiếc của nó khi họ đã chạy xa, hòa vào hàng loạt tiếng gào rú khác.

Cần hỗ trợ, phải gọi hỗ trợ thôi!

Leon nói vào chiếc bộ đàm, trong khi vẫn nhìn vào con đường trước mặt. Những thây ma thưa dần nhưng vẫn lác đác. Chúng kéo lê ra đường theo sau tiếng xe lao vút qua. Khi băng qua đường Pawell, anh phải điều khiển chiếc xe lách qua vài con nữa.

Cô gái vừa nói gì đó vừa nhìn ra phong cảnh điêu tàn bên ngoài, trong khi Leon ấn mạnh vào cái nút liên lạc trên bộ đàm. Cảm giác sẽ không có sự giúp đỡ của anh tăng lên. Không có tín hiệu, không gì cả.

“Chuyện quái gì thế này, tôi vừa đến Raccoon và cả thành phố trở nên điên cuồng…”

“Tuyệt! Radio bị điên rồi,” Leon cắt ngang, quăng bộ đàm qua một bên và tập trung vào con đường trước mặt. Cả thành phố giống một thế giới khác, con đường bao trùm bởi bóng tối lạ lùng. Cứ như trong mơ, nhưng cái mùi kinh tởm cho anh biết rằng anh không nằm mơ. Mùi thối rữa của những mô thịt bệnh hoạn thấm cả vào bên trong chiếc xe, khiến cho việc tập trung lái xe trở nên khó khăn. Dẫu sao thì không có xe cộ, không có người. Không có người đúng nghĩa …

Ngoại trừ mình và cô gái. Mình phải làm việc của mình tại đây, bảo vệ cô khỏi những thứ chết chóc kia. Tội nghiệp, cô chưa tới 19 hay 20, có lẽ đang rất sợ hãi. Mình phải bảo vệ bản thân và cô ấy khỏi những thứ nguy hiểm ở đây. Đến sở cảnh sát và …

“Anh là cảnh sát?”

Cô cất tiếng nhẹ nhàng, nhưng giọng điệu có vẻ mỉa mai đã đánh thức anh khỏi những suy nghĩ hoang mang. Anh quay về hướng nhìn của cô, để ý thấy dường như cô không bị rơi vào trạng thái suy sụp tinh thần, mặc dù dáng vẻ có phần tái nhợt. Thậm chí có một chút nét hài hước trong đôi mắt ngời sáng của cô, và Leon có ấn tượng mạnh rằng cô không phải loại dễ suy sụp. Một điều tốt trong hoàn cảnh hiện thời..

“Vâng. Ngày đầu tiên đi làm; thật tuyệt phải không? Tôi tên Leon Kennedy.”

“Claire,” cô lên tiếng. “Claire Redfield. Tôi đến tìm anh tôi, Chris…”

Cô dừng lại, nhìn chằm chằm vào con đường trước mặt. Có hai sinh vật vừa lết ra từ cả hai hướng, nhưng Leon đã nhấn gas và chạy qua giữa chúng. Tấm lưới chắn bằng thép ngăn cách khoang sau xe đã hạ xuống, cho phép anh cái nhìn rõ ràng hơn từ gương chiếu hậu. Hai con quỷ hút máu hồi nãy giờ đang lê lết khó nhọc và ngu ngốc phía sau họ.

Đói khát. Giống y trong phim.

Không ai nói gì trong một lúc, những câu hỏi ẩn chứa bên trong khó diễn tả thành lời. Những gì xảy ra đã biến Raccoon thành một màn trình diễn kinh dị mà không bận tâm nhiều đến việc họ sẽ sống sót trong nó như thê nào. Họ sẽ đến sở cảnh sát trong vài phút nữa, nếu đường trống. Anh sẽ thử lái đến bãi đậu xe dưới tầng hầm xem sao trước đã. Giả sử những cánh cửa bị đóng, họ sẽ phải cuốc bộ một đoạn ngắn. Có một cái sân nhỏ trước tòa nhà, một khu vực đậu xe.

Đã tốn bốn viên đạn và có lẽ thành phố đầy những thứ quái gở này. Chúng ta cần thêm vũ khí …

“A, mở cái hộp kia thử xem.” Anh lên tiếng. Nếu nó bị khóa, ắt là có một cái trong chùm chìa khóa này mở được.

Claire ấn nút rồi cúi xuống thò tay vào trong, để lộ ra lưng áo ghi lê màu hồng; cái nhãn “Made in Heaven” đính trên hình một thiên thần cầm quả bom trong tư thế gợi cảm. Bộ đồ khá vừa vặn.

“Có một khẩu súng bên trong,” cô nói, đồng thời kéo ra một khẩu bán tự động bóng mượt. Cô nâng nó lên và kiểm tra xem có nạp đạn chưa trước khi lôi ra hai băng đạn. Đó là một trong những loại súng cũ của sở cảnh sát Raccoon, một khẩu 9 ly Browning HP. Kể từ khi xuất hiện nhiều vụ giết người ở Raccoon, lực lượng quân đội đã được trang bị H&K VP70s, một loại súng 9 ly khác. Sự khác biệt là cây Browning chỉ có thể chứa mười ba viên trong khi loại mới có thể chứa mười tám, thậm chí mười chín viên trong ổ đạn. Nhìn cách cầm súng, Leon biết Claire hiểu cô đang làm gì.

“Tốt hơn nên mang nó theo bên mình,” anh nói. Sở cảnh sát Raccoon có kho vũ khí khá hoàn thiện; giả sử là vẫn còn những cảnh sát ở đâu đó, anh sẽ có thể kiếm được vũ khí cho mình và…

Mà sao mày cứ giả sử đủ chuyện thế?

Khi Leon lướt nhanh qua góc đường Ash và Third, anh chợt nghĩ tới việc sở cảnh sát có thể chứa đầy những tử thi. Mọi chuyện xảy ra quá nhanh, anh đã không tính đến khả năng này. Anh lái xe thẳng tiến về phía trước và giảm bớt gas, cố lên một kế hoạch kế tiếp an toàn và hợp lý hơn mà mình có thể nghĩ ra. Có thể một hàng rào phòng thủ đã được dựng lên ở sở cảnh sát, nhưng khó có hi vọng gì với cái mùi thối rữa quá nặng ở đây.

Chúng ta còn ba phần tư thùng xăng, đủ để chạy lên núi. Chúng ta có thể đến Latham ít nhất trong một giờ nữa.

Họ có thể lái xe ngang qua sở cảnh sát, và nếu nó có vẻ không ổn thì sẽ chuồn khỏi thành phố ngay lập tức, nghe hay đấy chứ. Anh chuẩn bị nói với Claire, xem thử cô nghĩ gì, thì có một cái mùi gớm ghiếc của xác chết thối rữa xộc vào anh, và thứ gì đó phóng ra từ băng ghế sau. Claire thét lên, và con quái vật ở trong xe trong suốt đoạn đường từ nãy đến giờ túm lấy vai Leon bằng đôi tay lạnh băng, hơi thở nồng nặc của nó phà vào mặt anh. Nó vồ lấy cánh tay phải của Leon, kéo cánh tay về phía hàm răng đang nhỏ dãi của nó với một sức mạnh phi thường.

“Không!” Leon thét lên khi chiếc xe xoay đột ngột về bên phải, vọt lên lề đường, trượt dọc về phía bức tường của toà nhà. Con quái vật mất thăng bằng và không nắm chặt được nữa. Leon giật mạnh tay lái nhưng hoàn toàn đã trễ để có thể tránh bức tường. Tiếng kim loại kêu rít lên, những tia lửa rọi sáng cánh tay dọ dẫm và nụ cười đểu giả kinh tởm của vị khách không mời, trong khi chiếc xe tăng tốc vọt thẳng ra mặt đường.

Cái thây sống quơ cánh tay hăm hở của nó về phía Claire, không cần nghĩ ngợi, Leon đạp mạnh gas và kéo mạnh vô lăng sang phải. Cú bẻ lái 180 độ khiến phần đuôi va vào một chiếc xe tải nhỏ đậu gần đó, làm xẹt ra một chùm tia lửa khác. Cái thây nhõ dãi văng ngược ra ghế đệm sau, nhưng ngay lập tức nó lại chồm lên trước, vừa nghiến răng vừa cào cấu về phía Claire…

Chiếc xe giật mạnh lần thứ ba. Leon cố điều khiển vô lăng trong khi rút súng và quay nửa người lại, giữ chặt báng súng Magnum. Anh không để ý đến việc phải nhả gas, không nghĩ đến bất cứ thứ gì ngoại trừ việc con zombie đang cố đè những cái răng của nó lên vai Claire.

Anh hạ thấp vũ khí xuống và bóp cò, phát đạn xuyên ngang qua mặt nó mang theo một mảng thịt lớn. Máu tuôn ra như suối từ vết thương trên cái mũi nhàu nát. Trong tiếng ồng ộc, con zombie đang giữ chặt cái đầu đầy máu và Leon nghĩ tới giây phút thắng lợi khi bắn phát nữa…

… rồi Claire thét lên, “Coi chừng!” Leon nhìn theo và nhận ra nơi họ sắp đâm sầm vào.

Leon nện lên con zombie bằng khẩu súng của anh và Claire chùng ra sau theo bản năng để tránh những giọt máu rơi lộp độp. Cô nhận ra con đường mà họ đang đi là đường cụt.

“Cẩn thận!”

Cô chỉ kịp thoáng thấy những khớp tay trắng bệt của anh trên vô lăng, hàm răng nghiến chặt…

…và chiếc xe quay tròn, rít lên, những tòa nhà và đèn đường nhấp nháy quá nhanh đến nỗi tất cả những gì cô thấy bị nhòe đi, và sau đó …

ẦM!

Có tiếng va chạm của những mảnh kiếng và kim loại đè nén vào nhau khi chiếc xe cảnh sát đâm sầm vào cái gì đó khá rắn, ép Claire sát vào sợi dây an toàn. Cùng lúc sức va chạm đẩy mạnh con zombie về phía trước, và Claire giơ tay lên theo phản xạ khi cái xác đâm thẳng vào kính chắn gió – rồi mọi thứ im lặng trở lại. Chỉ còn tiếng lẹt xẹt của kim loại do bị ma sát và nhịp tim thình thịch của cô trong lồng ngực. Claire bỏ tay xuống, nhận ra Leon đã bình tĩnh trở lại, nhìn thẳng vào khối bầy nhầy máu me nằm ườn trên mui xe, cái đầu treo lủng lẳng một cách hiền từ bên ngoài. Nó hoàn toàn bất động.

“Cô ổn chứ?”

Claire quay sang nhìn Leon, khó khăn lắm cô mới ngăn được mình cười lên như điên. Raccoon đang tràn ngập những xác chết biết đi, và cả hai ở trong một chiếc xe bị hỏng nặng bởi một cái thây cố gắng xơi tái họ. Với những chuyện như vậy mà còn “ổn” nỗi gì.

Ánh mắt Leon lộ rõ sự lo lắng và chân thành, sự mong muốn thoát khỏi những thứ quái gở này. Khả năng chịu đựng của anh đã tới giới hạn rồi, cơn kích động điên rồ của cô có phát tiết ra đi nữa thì cũng chẳng giúp ích gì..

“Chưa bị mất miếng nào,” cô kềm chế lại và đáp, Leon gật đầu, có vẻ đã bớt căng thẳng.

Claire hít một hơi thật sâu, có vẻ như nó là thứ đầu tiên cô làm trong nhiều giờ qua, và nhìn xung quanh chỗ họ đang dừng. Leon đã xoay chiếc xe 180 độ ở cuối con đường chỗ ngã ba, lúc này hiển nhiên chiếc xe đang quay lưng lại chỗ họ cần đến. Không có con zombie nào gần đó. Nhưng Claire có cảm giác rằng họ không có nhiều thời gian để tìm sự giúp đỡ. Từ những gì mà nãy giờ cô đã chứng kiến, hầu như toàn bộ Raccoon đã bị nhiễm bởi – bởi bất cứ thứ gì đang diễn ra tại đây. Cô nắm chặt khẩu súng, cố gắng điều khiển cảm xúc loạn xạ của mình.

“Chúng ta…” Leon bắt đầu nói gì đó và dừng lại, mắt anh trợn trừng khi ngó vào gương chiếu hậu. Claire nhìn ra sau lưng … và trong phút chốc, cô nghĩ mình nhất định đã bị nguyền rủa ở một nơi nào đó sau khi ra trường.

Bị nguyền rủa. Ai đó muốn mình chết đây mà, tất cả mọi thứ ở đây đều chứng tỏ điều đó.

Một chiếc xe tải đang lao trên mặt đường, vẫn còn cách vài khu nhà nhưng cũng đủ gần để họ nhận thấy nó đang mất điều khiển. Nó tiến thẳng về trước, đâm vào một chiếc xe màu xanh đỗ bên lề và sau đó tông vào thùng thư ở lề bên kia. Claire chết lặng khi nhận ra nó là xe chở dầu – căn cứ theo cách trượt đi nguy hiểm và va đập như điên thì có vẻ tài xế đã mất tay lái. Trong khoảnh khắc cô nhận ra sự việc, rồi cầu nguyện đó không phải là gas hay dầu, chiếc xe đã rút ngắn khoảng cách với họ còn phân nửa. Cô còn thấy tia lửa xẹt ngang qua chiếc xe màu xanh tối, nhưng thực tại chỉ trở lại khi Leon lôi cả hai khỏi cơn choáng váng.

“ …Cái đồ điên ấy sẽ đâm vào chúng ta,” anh thở ra, và cả hai cùng tháo dây an toàn. Claire cầu mong rằng cú va chạm không làm họ bị mắc kẹt…

Tiếng tháo dây an toàn chìm trong âm thanh gầm rú lớn dần của chiếc xe tải đang lao đến, và tiếng những chiếc xe đỗ bên đường bị đụng ở cả hai bên trái phải. Nó sẽ tới họ trong phút chốc.

“Chạy!” Leon thét lên, và cô phóng ra khỏi chiếc xe tuần tra, không khí lạnh phả vào làn da đẫm mồ hôi của cô trong khi tiếng rít động cơ bao trùm lên mọi thứ. Claire phóng ba bước một và nghe thấy tiếng va chạm, mặt đường rung chuyển dưới chân, thậm chí cả tiếng loảng xoảng của kim loại bị nghiến nát phía sau lưng.

Một bước nhảy nữa, và …

BÙM!

Claire bị đẩy mạnh, hai chân bị hất đi dưới lực đẩy phi thường của sóng nhiệt và âm thanh. Cô cố gắng chạm xuống mặt đất trong khi màn đêm sáng rực nhu ban ngày dưới ánh lửa chói lòa của vụ nổ. Một cú lăn lông lốc bằng vai hết sức nguy hiểm, đá vụn dính đầy làn da nóng bỏng, và rồi cô nằm thở hổn hển một đống sau lưng chiếc xe đỗ gần đó.

Một cơn mưa những mảnh vụn đầy khói bụi rớt xuống lách cách, và Claire đứng dậy, lảo đảo bước ra con đường, tìm kiếm dấu hiệu của Leon trong ngọn lửa cao chót vót. Tim cô chùng xuống. Chiếc xe bồn, chiếc xe tuần tra và tất cả những gì ở trong đó đều bị vùi trong biển lửa. Con đường hoàn toàn bị chắn bởi một đống đổ nát và rực lửa.

“Claire…”

Giọng Leon, giống như bị bóp nghẹt nhưng có thể nghe thấy qua bức tường lửa.

“Leon?”

“Tôi ổn!” Anh la lên. “Hãy đến sở cảnh sát, tôi sẽ gặp cô ở đó!”

Claire thoáng do dự, nhìn xuống khẩu súng lục đang nắm chặt trong cánh tay run rẩy. Cô sợ, sợ phải ở một mình trong thành phố này, nơi đã biến thành một nghĩa địa sống. Nhưng có lẽ không có nhiều sự lựa chọn. Cầu mong hoàn cảnh khác đi chỉ tổ mất thì giờ.

“Được!”

Cô quay lại, cố gắng trấn tĩnh dưới ánh lửa bập bùng đầy khói của đống đổ nát. Sở cảnh sát cách đây hai dãy nhà, và có những sinh vật đang lắc lư bước ra khỏi bóng tối, phía sau những chiếc xe, và bên trong tòa nhà đen kịt. Với một mục tiêu duy nhất còn lại trong ý thức, chúng lê lết về phía ánh sáng lạ lẫm của vụ nổ, mang theo những âm thanh đói khát – hai, ba, bốn đứa. Cô thấy làn da bị xé vụn và các chi bị thối rửa, hốc mắt tối đen – và chúng vẫn tiến đến, chậm rãi hướng về phía cô như thể về nhà để xơi miếng thịt sống.

Đâu đó sau đám cháy, cô nghe thấy tiếng súng - hai phát đạn, có lẽ cách đây một dãy nhà, sau đó hoàn toàn yên lặng – yên lặng ngoại trừ tiếng tanh tách của ngọn lửa và tiếng rên rỉ, gào thét của lũ thây ma đang lảo đảo.

Leon cũng đi rồi. TIẾN TỚI THÔI!

Claire hít một hơi sâu, phác ra một lối thoát giữa đám đông đang tiến lại gần mình, và chạy.

Lioncoeur
03-11-2006, 08:19
Chương 6
Người dịch : q_thanhbt

ADA WONG ĐẶT CHIẾC ĐĨA KIM LOẠI SÁNG LÓA vào khe trong bức tượng, đẩy cho đến khi ngập hẳn vào phiến đá bằng cẩm thạch. Ngay khi nó được đặt vào chỗ, cô nghe thấy tiếng di chuyển của những chiếc đòn bẩy ẩn. Ada lùi lại để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Tiếng bước chân cô vang dội khắp tiền sảnh Sở cảnh sát Raccoon, âm thanh vang vọng trong căn phòng trống ba tầng.

Một chiếc chìa khóa khác chăng? Hay một cái huy hiệu của tầng hầm dưới? Hay chính là mẫu virus, được giấu ngay trước mắt… nếu vậy thì sẽ là một sự ngạc nhiên thú vị đây.

Phải chi mà ước gì được đó cũng đỡ. Bức tượng nữ thần đang cầm bình nước được đúc từ đá rắn lướt nhẹ tới trước. Từ chiếc bình trên vai bà ta, một mẫu kim loại rơi xuống phía trên gờ của phiến đá trước bức tượng. Một chiếc chìa khóa đuôi ách bích.

Ada thở dài, nhặt nó lên. Cô đã có được chìa khóa rồi; thực sự thì cô có mọi thứ cần thiết để tới được trạm xe lửa, và cả mọi thứ để đến được phòng thí nghiệm. Nếu không phải là có người ở Umbrella gây rắc rối to thì công việc của cô đã quá dễ xơi. Một món hời.

Thay vì có ba ngày nghỉ thoải mái, mình lại có một buổi tối phải cảnh giác cao độ, phải chơi trò Ghim Đạn Vào Đầu và Đi Tìm Tay Phóng Viên cùng một lúc. Mẫu virus có thể ở bất cứ đâu, phụ thuộc vào việc ai còn sống sót. Nếu mang được nó ra khỏi đây một cách an toàn, mình phải đòi một khoản tiền thưởng to mới được; chẳng ai muốn làm việc trong điều kiện thế này cả.

Ada nhét chiếc chìa khóa vào túi bên hông, nhìn lướt qua hàng lan can của gian đại sảnh rộng lớn, kiểm tra trong trí nhớ những căn phòng mà cô đã đi qua và những người cô phải tìm một cách cẩn thận. Bertolucci dường như không ở khu vực phía đông tòa nhà, cả tầng trên hay tầng dưới. Cô đã phải xem xét gương mặt của các xác chết hàng giờ, tìm kiếm cái hàm rộng và đuôi tóc đã lỗi thời của anh ta trong đống xác bốc mùi kinh tởm. Dĩ nhiên, anh ta cũng có thể đang di chuyển lẩn trốn, nhưng từ những thông tin cô có thì việc đó không chắc lắm; phía sau bộ mặt nguy hiểm của tay phóng viên này chỉ là một kẻ chết nhát.

Nói tới nguy hiểm…

Ada run lên và ngoảnh lại sau lưng về phía cánh cửa dẫn đến khu vực phía đông. Đại sảnh an toàn, nó cách li được những người bị nhiễm, chúng dường như không biết sử dụng tay nắm cửa, nhưng có những mối nguy hiểm khác ngoài những kẻ bị nhiễm. Chỉ có Chúa mới biết Umbrella sẽ gửi cái gì đến để xóa dấu vết ở đây… hoặc là cái gì sẽ được phóng thích ra từ phòng thí nghiệm khi tai nạn diễn ra. Ít đáng sợ hơn nhưng cũng khó chịu một chút, đó là sự hiện diện của những cảnh sát còn sống đang tụ tập đâu đó quanh đây để tìm kiếm những người còn sống sót. Cô loáng thoáng nghe thấy tiếng súng, không rõ lắm, cứ một hay ba tiếng đồng hồ gì đó kể từ khi cô đến đây. Ít nhất cũng còn vài người không bị nhiễm sót lại trong tòa nhà rộng lớn này. Cố gắng thuyết phục một gã cầm súng đang hoang mang rằng cô chưa chết và không cần ai hộ tống khi giáp mặt với lũ thây sống, chẳng khác nào bảo rằng mình có vấn đề.

Bước đi thật nhanh để tránh gây ra tiếng ồn, Ada lướt qua cánh cửa mở ra một căn phòng dài và tựa vào nó, dừng lại một chút để quyết định làm gì kế tiếp; mặc dù cô chưa kiểm tra tầng hầm và vẫn còn vài thây ma dật dờ quanh phòng điều tra, nhưng tất cả cửa của đại sảnh vẫn đóng; nếu như có ai hay vật gì định đến gần thì cô vẫn có thể thấy nó và chạy ngay lập tức.

Ha, cuộc sống thú vị của một nhân viên tự do. Du lịch vòng quanh thế giới! Kiếm tiền bằng việc cuỗm những thứ quan trọng! Chiến đấu với những cái thây sống trong khi chưa tắm rửa và ăn một thứ gì ra hồn suốt ba ngày - quá ấn tượng!

Cô nhắc mình nhớ đến lời đề nghị về phần thưởng. Khi cô đến Raccoon chưa tới một tuần trước đó, cô nghĩ mình đã chuẩn bị tất cả; tìm hiểu bản đồ kĩ lưỡng, học thuộc lòng những thông tin về tay phóng viên, lập kịch bản để che đậy thân phận – một phụ nữ trẻ tìm bạn trai là nhà khoa học đang làm việc cho Umbrella. Một phần câu chuyện là sự thật; thực sự đó là mối quan hệ ngắn ngủi với John Hown suốt mười tháng trước khi cô bị đẩy vào công việc. Nó còn hơn cả việc phải đứng suốt một đêm, thậm chí cũng chẳng có gì vui trong mối quan hệ đó, nhưng John lại nghĩ khác. Và mối quan hệ của John với Umbrella đã dẫn đến sự tuyệt giao đầy may mắn cho cô, mặc dù nó gần như chắc chắn là nguyên nhân đã giết John.

Vì vậy cô đã sẵn sàng. Nhưng trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ kể từ khi tự tin đăng kí ở một khách sạn đẹp bậc nhất thành phố Raccoon, vận may của cô đã thay đổi. Lúc đang ăn tối trong một khách sạn nhỏ ở Arklay, cô nghe thấy tiếng gào đầu tiên bên ngoài. Tiếng đầu tiên, nhưng không có nghĩa là tiếng gào cuối cùng.

Suy cho cùng, thảm họa là điều tất yếu; khi mà không có sự bảo vệ quanh phòng thí nghiệm, không có sự thử nghiệm kín đáo và liên tục. Những thông tin cô biết về T-virus bảo đảm rằng nó chỉ sống trong không khí một thời gian ngắn và nhanh chóng tiêu tan. Khả năng bị lây nhiễm duy nhất là tiếp xúc trực tiếp với cá thể trung gian - vì vậy cũng không đến nỗi đáng lo ngại. Khi cùng vài tá người khác tới sở cảnh sát, cô đã thấy Bertolucci bị chúng bao vây. Thậm chí với sự xuất hiện của lũ thây sống, khởi đầu như thế này đã là đặc ân cho cô lắm rồi.

Mục tiêu nhiệm vụ: chất vấn kẻ xâm nhập, tìm hiểu xem anh ta biết những chuyện gì và giết hay để anh ta sống, còn tùy. Lấy một mẫu virus mới, tác phẩm cuối cùng của Tiến sĩ Birkin. Không thành vấn đề, phải không?

Ba ngày trước, bằng những thông tin về sự nối kết giữa hệ thống cống ngầm với phòng thí nghiệm của Umbrella, và Bertolucci ở ngay trước mặt, mọi việc đã nằm gọn trong tay cô. Và rồi đó là lúc mọi chuyện bắt đầu rối tung lên.

Sở cảnh sát được sắp xếp lại, các phòng được điều chuyển sau thất bại của S.T.A.R.S., làm cho một nửa kế hoạch của cô không còn thích hợp nữa. Sự mất tích của người dân. Những chướng ngại vật được dựng lên để chống xâm nhập. Cảnh sát trưởng Irons đưa ra mệnh lệnh giống như những tay độc tài hết thời, cố lấy lòng Thị trưởng Harris và đứa con gái bé bỏng của ông ta ngay cả khi những xác chết đã tăng thành đống …

Cô thấy Bertolucci đủ gần để nhận ra anh ta đang cắm đầu chạy, nhưng cô đã không bắt kịp anh; cô thậm chí không có thời gian để tiếp xúc trước khi anh ta mất hút vào một góc nào đó trong mê lộ của sở cảnh sát, mất luôn dấu của anh trong sự rung chuyển của cuộc tấn công đầu tiên. Ada quyết định chiến đấu một mình khi mà ba phần tư dân cư thành phố đã bị xóa sổ ngay trong đợt tấn công bất ngờ chưa tới một giờ sau đó, tất cả bởi vì không ai chịu hạ cánh cổng nhà để xe. Cô không đời nào bằng lòng chịu chết dưới vỏ bọc của một du khách đang sợ hãi tìm kiếm người bạn trai của mình.

Và vì vậy phải chờ đợi. Hầu như năm mươi tiếng đồng hồ chờ đợi mọi thứ yên ắng trở lại, chui rúc vào tháp đồng hồ ở tầng ba, chạy xuống lầu tìm thức ăn và tắm rửa trong một thời gian dài giữa những tiếng súng đe dọa, giữa tiếng lách cách của những phát đạn và những tiếng rên…

Tuyệt vời. Bây giờ mày ra ngoài rồi và phải làm gì nữa đây? Đứng đây suy nghĩ. Kiếm mẫu virus, xong việc càng nhanh thì mày càng sớm nhận được tiền và đến một hòn đảo đẹp ở một nơi nào đó.

Tuy nhiên, Ada không nhúc nhích trong một chốc, chĩa họng súng Berretta vào một cái chân dài mang vớ. Có ba thi thể đang nằm dài trên hành lang, và cô không thể ngăn mình nhìn trừng trừng vào cái thây đang nằm sóng xoài dưới cửa sổ ở đoạn giữa. Một cô gái mặc quần sọt và áo hở vai, chân cô bé bẹt ra thô tục, một cánh tay ghếch lên cái đầu đầy máu. Hai người kia là cảnh sát. Ada không nhận ra ai, nhưng cô gái là một trong những người cô đã nói chuyện khi lần đầu tiên tới đây. Tên Stacy hay gì đó, hơi sợ hãi nhưng có vẻ cứng cỏi so với lứa tuổi thiếu niên.

Stacy Kelso, đúng thế. Cô bé đã chạy vào thị trấn để lấy mấy que kem và cuối cùng bị kẹt lại – nhưng mặc dù ở trong một tình huống tồi tệ, cô bé vẫn lo lắng cho cha mẹ và đứa em trai đang ở nhà. Một cô bé chu đáo. Một cô bé tốt.

Tại sao lại nghĩ về chuyện này? Stacy đã chết, một cái lỗ rách toạt trên thái dương bên trái cô bé, và Ada không cần quan tâm đến nó nữa; cô chẳng phải chịu trách nhiệm gì về chuyện này. Cô đến vì công việc, và Raccoon có bị xóa sổ đi nữa thì cũng không phải tại cô…

Có lẽ không phải là tội lỗi, một phần trong cô thì thầm. Có lẽ mày chỉ phải xin lỗi cô bé vì đã không làm điều gì đó. Suy cho cùng thì cô bé đã là một con người, và bây giờ nó đã chết cũng như cha mẹ và đứa em của nó…

“Thôi nào,” cô nói một cách nhỏ nhẹ nhưng giọng điệu hơi cáu gắt. Ada dứt ánh mắt ra khỏi thân hình thảm hại của cô bé, hướng về phía cái gạt tàn thuốc ở cuối hành lang. Cảm giác có lỗi với những chuyện ngoài tầm kiểm soát không phải là phong cách của cô, không phải là cách mà cô đạt tới đỉnh cao sự nghiệp – và nếu tính đến cái giá mà ngài Trent đã thuê cô, thì giờ không phải là lúc thích hợp để mủi lòng. Chết, đó là việc tất yếu, và điều mà cô rút ra được từ cuộc đời của mình, đó là đau khổ trước sự thật phủ phàng chỉ tốn công vô ích. Mục đích nhiệm vụ: liên lạc với Bertolucci và lấy mẫu G-Virus. Đó là tất cả những gì cô cần phải lo.

Có một cách Ada vẫn sử dụng để kiểm tra những khúc quanh cách xa chỗ cô đứng, lúc còn trong phòng họp báo. Những ghi chú của Trent về các phần kiến trúc mới bổ sung trong tòa nhà thì khá sơ sài, nhưng cô biết là có việc phải làm với ngọn đèn khí gas điêu khắc lộng lẫy và bức tranh sơn dầu. Người nào sở hữu những thứ này chắc phải có một cuộc sống bí ẩn đáng sợ lắm; thực tế có những lối đi ẩn trên lầu, đằng sau bức tường đã từng thuộc về phòng lưu trữ. Cô chưa đi qua đó, mặc dù chỉ liếc sơ qua cũng đủ cho cô biết nó đã được sửa lại thành phòng làm việc. Theo như lối trang trí lộn xộn và rườm rà, có lẽ nó là của Irons. Mặc dù chỉ ở đây trong một thời gian ngắn, nhưng cô cũng biết chắc rằng ông ta không phải là người kiên quyết, một kẻ luôn sống dựa vào người khác. Cũng chẳng phải bàn cãi gì về việc ông ta làm cho Umbrella. Tuy nhiên cũng có một thứ gì đó về ông ta có vẻ khác thường.

Ada bước xuống hành lang, tiếng chân nện lộp cộp trên nền gạch xanh; cô đã ngán mấy cái trò giải đố một cách máy móc lắm rồi. Nhất là khi không có bất cứ sự giúp đỡ nào cho những chuyện này; cô đã giả định ngay từ đầu là virus vẫn còn trong phòng thí nghiệm, nhưng không có bất cứ cơ hội nào để vào đó. Hồ sơ cho biết có từ tám đến mười hai ống nghiệm loại một ounce đựng virus, căn cứ theo thông tin từ cuộn video cách đây hai tuần – và phòng thí nghiệm của Birkin thì khó dò ra được. Với việc phòng thí nghiệm dưới lòng đất được nối với sở cảnh sát thông qua hệ thống cống ngầm, cô buộc phải xét đến khả năng các mẫu virus đã được mang đi. Bên cạnh đó, Bertolucci có thể bị nhốt vào thư viện hay văn phòng S.T.A.R.S. ở phía tây, có thể là trong phòng tối, phải tìm ra anh ta dù sống hay chết. Và cô cũng có cơ may lấy được một ít đạn 9 ly trong người các nhân viên đã chết.

Cô đi theo một lối đi dẫn đến một phòng chờ nhỏ, nơi có cái máy bán hàng tự động đã bị cạy nắp và cướp phá. Hành lang lạnh lẽo và thiếu thốn không khí trong lành. Cô đã trở nên quen với mùi hôi ở đây, nhưng sự lạnh lẽo thật là khó chịu. Đã hàng trăm lần kể từ khi rời bỏ bàn ăn ở Arklay, Ada ước gì mình đã ăn mặc thoải mái hơn khi ăn tối. Bộ áo dài màu đỏ không tay áo bó sát người cùng với đôi giày cao gót thật là đẹp và vừa vặn, tuy nhiên nó chẳng thuận tiện cho hành động chút nào.

Cô đi đến cuối căn phòng và cẩn thận mở cánh cửa bên trái, giơ vũ khí lên. Cũng như trước đó, lối đi hoàn toàn sạch sẽ, chưa có dấu vết gì xóa đi sự thanh lịch của tòa nhà này. Những bức tường màu cát tối và đá lát được trang trí đối xứng ở mỗi bên. Sở cảnh sát thật tráng lệ, nhưng thời gian đã làm mất đi sự cao quý của nó, giờ đây nó giống như một ngôi nhà to lớn nhưng đổ nát và lạnh lẽo. Sát khí của căn nhà làm cho người ta sợ hãi, tuyệt vọng – bất cứ lúc nào, một bàn tay lạnh lẽo cũng có thể nắm lấy vai bạn hay một hơi thở bệnh hoạn thình lình thổi vào gáy bạn.

Ada cau mày, có lẽ sau nhiệm vụ này cô sẽ đi nghỉ dài hạn. Và cũng có thể cô sẽ tìm một công việc mới sau đó. Sự chú tâm - khả năng tập trung của cô – đã không còn như xưa nữa. Và trong công việc này chỉ một sự lơ đễnh thôi cũng đồng nghĩa với cái chết.

Món tiền thưởng lớn, Trent đã hứa như thế. Mình sẽ đề nghị một con số có bảy chữ số, hay ít nhất thì cũng là sáu.

Cô cố đánh tan suy nghĩ của mình, đánh tan hình ảnh của những sinh vật gớm ghiếc, nhưng cô nhận thấy mình không thể xua chúng đi khỏi óc được. Cô nhớ lại cô bé Stacy Kelso, nhớ cái vén tóc đầy lo lắng của cô bé khi nói về đứa em…

Một hồi lâu, Ada cố ném những suy nghĩ đó ra khỏi đầu và tiếp tục bước xuống hành lang, tự hứa với chính mình sẽ cố gắng tập trung hơn, và rồi tự hỏi tại sao chính mình lại không tin tưởng vào điều đó cho lắm.

Lioncoeur
03-11-2006, 08:21
Chương 7
Người dịch : q_thanhbt

LEON GIẪM LÊN NHỮNG MẢNH KÍNH VỠ trên nền nhà của hiệu súng Kendo trong lúc lục lọi những ngăn kéo, mồ hôi nhễ nhại tuôn đầy mặt. Nếu anh không tìm thêm được đạn thì tiêu là cái chắc; có vài cây súng trong hiệu súng đổ nát này nhưng không thể lấy được, chúng được treo lên bằng dây thép, và cái cửa sổ lát kiếng rất dễ bị phá vỡ. Những thây ma ngoài kia sẽ tìm thấy anh nhanh thôi, còn một viên đạn cuối cùng trong ổ, mà anh có tới hai dãy nhà nữa phải đi qua.

Coi nào, năm mươi lời gọi đội phản ứng nhanh, phải có ai đó ở Raccoon đặt hàng mua đạn chứ…

“Tuyệt lắm!”

Trong ngăn thứ tư, bên dưới khẩu súng trường có nửa tá băng đạn rỗng và nhiều hộp đạn khác. Leon chộp lấy một hộp rồi quay ra sau lưng, đụng cả vào chiếc máy tính tiền khi anh liếc nhanh về cửa trước. Không có gì cả nếu không tính đến một tên đã chết đang nằm trên sàn nhà. Hắn nằm bất động, nhưng từ vết thương còn mới đang rỉ nước tong tỏng từ bộ ruột làm nhuộm đỏ áo thun trắng, Leon biết không có nhiều thời gian để nấn ná thêm; anh không rõ cái xác đó sẽ đứng dậy trong bao lâu nữa - và cũng không muốn biết điều đó. Dù sao thì cũng phải đi thôi, anh giống như ngọn đèn thu hút bọn chúng và nơi này thì rất dễ dàng xâm nhập…

Vừa cảnh giác nhìn vào bức tường rách nát anh vừa lắp đạn vào súng. Leon đã rất may mắn đi ngang qua hiệu súng, anh vốn đã quên bẵng nó sau khi bị vụ va chạm làm cho choáng váng. Khi mà con đường ngắn nhất đến sở cảnh sát đã bị chặn lại do vụ nổ thì đường vòng tốt nhất là đi ngang qua hiệu súng Kendo. Sự trùng hợp ngẫu nhiên ấy rõ ràng đã cứu mạng anh. Cho dù đã bắn hai thây ma trên đường đến đây, nhưng anh hầu như bị bao vây bởi chúng.

“Uhhh…”

Một cái bóng xương xẩu rùng rợn lê lết ra từ bóng tối ngoài đường, đấm mạnh vào cửa trước hiệu súng.

“Khốn kiếp,” Leon chửi thầm, những ngón tay không biết vì sao chuyển động nhanh hơn. Một băng đạn rơi xuống, một cái nữa, anh cần suy nghĩ một tí. Nếu chạy ngay bây giờ, anh sẽ chết trước khi có thể đến được sở cảnh sát.

Một cái bóng sần sùi khác thình lình xuất hiện trước bộ khung gần như trống không của cánh cửa ra vào lát kiếng. Chân chúng thối rửa đến nỗi Leon có thể thấy được những con giòi đang ngoằn ngoèo trên những thớ thịt.

…bốn …năm …xong!

Anh chộp lấy khẩu Magnum và nạp đạn trong khi cái thứ gần-như-rỗng kia đập vào cửa. Sinh vật đầy giòi đó đang lách mình qua những góc cạnh lởm chởm mảnh kiếng còn sót lại quanh khung cửa, chất lỏng nhớp nhúa đang chảy ra từ cổ họng chúng.

Túi, anh cần một cái túi. Leon đảo mắt ra phía sau máy tính tiền, thấy một cái túi thể thao cá nhân đang vắt trên mặt bàn. Chỉ hai bước nhảy anh đã có nó, rồi vừa chạy trở lại tủ đựng đạn vừa vất hết những thứ trong túi. Leon gạt mấy thứ linh tinh dưới sàn ra và trút tất cả các băng đạn vào túi, ngoại trừ những viên nằm rải rác, với một sự nâng niu cái ngăn kéo chứa đạn.
Những con quái vật thối rữa đang lê bước về phía anh, vấp phải cái xác của người đàn ông bụng phệ ở ngưỡng cửa, và Leon có thể ngửi thấy cái mùi kinh tởm. Anh giật mạnh khẩu Magnum, chĩa thẳng vào mặt cái thây đang tiến tới trước.

Ngắm vào đầu, giống như hai con ngoài kia…

Với một phát súng đanh gọn, cái sọ mềm nhũng kia đã bị thổi bay, thứ chất lỏng sền sệt bắn vọt vào tường đánh toẹt. Trước khi cái thây không đầu ấy sụm xuống, Leon cúi người xuống ngăn kéo chứa đạn, đẩy những hộp đạn nặng nề vào trong túi nilon, mệt mỏi rã rời và sợ hãi. Thậm chí bây giờ bên ngoài cửa sau có thể đầy ắp những thây ma đang chắn đường đi của anh.

Năm băng trong một hộp, có tất cả năm hộp. Được rồi, đi…

Leon đúng bật dậy, khoác cái túi lên vai và chạy ra cửa sau. Chỉ liếc mắt anh đã thấy một thây ma khác đang từ từ tiến vào hiệu súng. Những con khác đang cố tì vào tấm cửa kính vỡ làm phát ra những âm thanh răng rắc.

Anh mở cửa sau, nhẹ nhàng lướt ra, liếc qua bên trái rồi bên phải, đồng thời cũng đóng luôn cánh cửa sau lưng. Cánh cửa tự động khóa lại với một tiếng cạch nhẹ. Không có gì ngoài những cái thùng rác đầy ắp đồ phế thải. Từ nơi anh đứng, con hẻm trải dài sang trái và có một hướng ngoặc sang trái một lần nữa. Nếu khả năng định vị của anh đúng, cộng với một chút may mắn, con hẻm nhỏ xíu này sẽ dẫn ra đường Oak. Như vậy là vượt qua được một dãy nhà chắn giữa đường dẫn tới toà nhà RPD. Thật may mắn. Tất cả những gì anh có thể hi vọng là vận may sẽ không rời xa anh, sẽ giúp anh đến sở cảnh sát Raccoon mà vẫn còn sống sót và nguyên vẹn – và, cầu chúa phù hộ, sẽ tìm thấy một lực lượng vũ trang. Họ sẽ giải thích cho anh cái quái gì đang xảy ra ở đây.

Và Claire. Vẫn được an toàn, Claire Redfield, và nếu cô tới đó trước thì đừng có khóa cửa đấy nhé.

Leon kéo lại túi đạn nặng như chì trên vai và bắt đầu đi xuống lối đi mập mờ trước mặt, sẵn sàng chống trả bất cứ thứ gì xuất hiện trên đường.
*
* *
Claire chạy về phía sở cảnh sát nhưng hầu như không phải bắn một phát súng nào. Những thây ma kéo ra con đường không ngớt nhưng có vẻ chúng quá chậm chạp. Cô chỉ việc chạy qua chúng theo hình zíc zắc một cách khá dễ dàng. Cô thấy rằng những thây ma bị thu hút bởi âm thanh của vụ nổ, sau đó những con khác ở xa hơn bị thu hút bởi tiếng rên của những con ở gần, tiếng rên hay bất cứ thứ gì thoát ra từ chúng. Nhiều con tiến lại khá gần đủ để cô quan sát rõ hơn, ít nhất một nửa trong số chúng đang trong tình trạng thối rữa, những thớ thịt rớt ra từ những khúc xương.

Cô quá bận tâm với việc vừa quan sát con đường vừa cố sắp xếp lại các biến cố đang xảy ra, đến nỗi suýt nữa là chạy qua luôn sở cảnh sát. Cô đã ở từng ở đó hai lần với Chris, nhưng chưa bao giờ đi vào từ cổng sau trong tình trạng bóng tối tràn ngập và đầy mùi hôi, lại thêm những thây ma ăn thịt người như thế này. Cô chỉ nhận ra lối vào nhờ một chiếc xe cảnh sát bị hỏng và một đám người đã biến thành zombie, nó dẫn cô tới nhà để xe và tầng chứa trang thiết bị có cửa đi vào cái sân nhỏ xíu bên trong. Cô và Chris đã từng ăn trưa trong cái sân này, lúc đó cả hai ngồi trên những bậc thang dẫn lên bãi đáp trực thăng ở tầng hai. Dễ thôi, cô sẽ đến đó.

Vượt qua hai thây ma mặc đồng phục đang đi lòng vòng trong sân hình chữ L một cách dễ dàng, khiến cho cô có cảm giác nhẹ nhõm hẳn và nghĩ rằng mình đã an toàn, nên khi trông thấy người phụ nữ thì gần như đã quá muộn. Một cái thây phụ nữ kêu gào cùng với cánh tay ẻo lả đầy những vệt máu đông đang vươn tới cô từ trong bóng tối của chân cầu thang, những ngón tay ghẻ lở lạnh buốt của nó hầu như đã vụt chạm vào cánh tay của Claire. Claire cố kìm nén tiếng kêu kinh ngạc, bước lùi ra khỏi tầm với của người phụ nữ, xém tí nữa lại rơi vào vòng tay của một tên khác, một gã đàn ông cao vạm vỡ mục nát âm thầm xuất hiện bên dưới cầu thang kim loại. Cô nhanh nhẹn lắc qua bên cạnh, thận trọng lùi lại một bước và chĩa khẩu 9 ly vào ông ta…

…và có cảm giác như chân cô chạm vào lưng những bậc thang dẫn lên trên. Người phụ nữ cao năm feet ở bên tay phải, cái áo đẫm máu phơi trần bộ ngực đã bị thủng, cánh tay cô ta vươn ra đầy tham lam về phía Claire. Người đàn ông cách cô chỉ một bước chân và cô cũng chẳng thể nào lùi thêm được nữa.

Claire bóp cò và bùm, khẩu súng hầu như giật mạnh khỏi tay cô. Một nửa bộ mặt bên phải của người đàn ông biến mất, chất lỏng tuôn ra như suối từ cái đầu vỡ vụn của ông ta.

Cô lia súng sang bên cạnh, bóp mạnh cò khi khẩu súng chĩa vào gương mặt đang van xin năn nỉ của người phụ nữ. Một âm thanh chói tay vang lên và cái giọng rên rỉ đang lớn dần lúc nãy im bặt, cái trán mịn nổ tung trong vũng máu và những mảnh xương. Người phụ nữ bị đẩy về phía sau, té xuống nền giống như…

…giống như một tử thi, thứ mà cô ta đã từng là khi nãy. Chúng sẽ không di chuyển được nữa.

Đây là sự thực, những thứ đã đến với cô kể từ khi rời nhà cho đến khi cô bóp cò súng. Trong một giây, Claire dường như bất động. Cô nhìn vào cái áo nhàu nát của những thớ thịt, vào hai người cô vừa bắn, và có cảm giác suýt tí nữa là mình đã chết. Cô lớn lên với súng đạn, đã ở sân tập bắn hàng tá lần – nhưng chỉ với khẩu súng tập cỡ 0.22 thôi, và chỉ bắn vào những tờ giấy. Khẩu súng tập không làm chảy máu, không làm óc vọt ra như hai người cô mới vừa…

Không, một tiếng vọng thình lình thốt lên trong cô. Không phải con người, không phải nữa. Đừng giống con nít và cũng đừng tốn thời gian cho việc thương hại. Và nếu S.T.A.R.S. đã được gọi tới thì Chris cũng có thể ở đây.

Và nếu động cơ đó còn chưa đủ thuyết phục, thì đã có hai con zombie cảnh sát lúc nãy Claire chạy qua khi vào đây đang tiến tới, chúng lê lết từng bước chân trên những phiến đá. Đã đến lúc đi rồi. Cô nhẹ nhàng bước lên cầu thang, vừa đủ để đển tiếng vọng của những bước chân lấn át tiếng âm vang trong lỗ tai. Tiếng nổ đạn 9 ly đã nhất thời làm tai cô ong ong – nó giải thích tại sao cô không biết sự hiện diện của chiếc trực thăng cho đến khi đã hoàn toàn ở trên máy nhà.

Claire vịn vào tay vịn cầu thang và dừng lại chết sững, một trận gió nhịp nhàng thổi vào đôi vai trần của cô khi chiếc trực thăng màu đen to lớn lượn lờ trong tầm nhìn, một nửa nhòa trong bóng tối. Nó ở gần cái đài nước cũ ngay góc phía tây nam của bãi đáp, mặc dù cô không biết là nó đang cất cánh hay hạ cánh.

Không biết và cũng không cần quan tâm. “Ê,” cô hét lên, giơ cánh tay trái lên trời, “Ê, ở đây này,” giọng cô bị át hẳn trong tiếng gió bụi đang cuốn lên trên tầng hai, chìm vào tiếng quay đều đều của cánh quạt. Claire vẫy tay điên cuồng, như thể cô vừa trúng số.

Ai đó đã đến! Tạ ơn Chúa, cảm ơn!

Một nguồn sáng chói lọi bật ra từ cái đèn pha giữa bụng chiếc trực thăng, quét dọc qua máy nhà và hướng về một hướng khác, cách xa chỗ cô đứng. Claire phẩy tay như điên, cố căng lồng ngực la lên một lần nữa…

…và thấy những gì chiếc đèn pha đang chiếu thẳng vào, thậm chí cô có thể nghe thấy tiếng thét như tuyệt vọng chìm trong tiếng động cơ trực thăng. Một người đàn ông, một viên cảnh sát, đang đứng ở góc đối diện với cầu thang trên bãi đáp, lưng đối diện với bức tường phía sau. Ông ta cầm cái gì đó giống như một khẩu súng máy và dường như còn sống.

“ - Ở đây này -”

Ông ta hét vào chiếc trực thăng, giọng điệu hoảng hốt. Claire có thể thấy tại sao và cảm giác như niềm tin tan biến dần. Có hai thây ma đang lắc lư trong bóng tối trên bãi đáp, chúng hướng đến nơi có giọng hét của viên cảnh sát. Cô giơ súng lên nhưng lại hạ xuống, sợ sẽ bắn trúng ông.

Ánh sáng chiếc đèn pha đã ngừng di chuyển, tập trung vào hiểm họa một cách rõ rệt khác thường. Viên cảnh sát dường như không nhận ra những thây ma đã tiến gần đến thế nào tới khi chúng chạm vào ông. Những cánh tay của chúng vươn dài về phía vùng ánh sáng trắng.

”Lùi lại! Không được tới gần!” ông gào lên với sự sợ hãi rõ ràng trong giọng nói, Claire có thể nghe thấy rất rõ ràng. Cũng giống như cô nghe thấy tiếng gào rú của ông khi những ngón tay thối rữa che lấp hoàn toàn tầm nhìn của cô, chạm vào ông ta.

Âm thanh của khẩu súng máy xé bầu không khí căng thẳng, thậm chí nó át cả tiếng ồn của trực thăng. Claire có thể nghe tiếng tiếng vỏ đạn rít vào khoảng không. Cô khụy xuống, đầu gối tựa vào bậc thang trên cùng khi tia lửa tiếp tục lóe ra từ nòng súng…

… và có một sự thay đổi trong âm thanh phát ra từ chiếc trực thăng, một tiếng hự xa lạ đang tăng dần và trở thành một tiếng thét. Claire ngẩng lên, kịp nhìn thấy cả chiếc trực thăng to lớn đang lao xuống. Đuôi của nó xoay tròn trong vòng tròn lửa ngoạn mục.

Lạy Chúa, ông ta đâm vào chúng mất!

Ánh đèn pha quay tít, phản chiếu vào những ống kim loại, cụ thể là vào viên cảnh sát đang cật lực đấu tranh cho sự sống còn, và không hiểu vì lí do gì đó lúc này ông vẫn đang bắn xối xả trong khi hai thây ma đang đè ông ta ra “xin tí huyết”…

…Và chiếc trực thăng rơi xuống, nghiêng sang một bên, cánh của nó nghiến vào mái thượng tạo nên tiếng động inh tai. Trước khi Claire kịp nháy mắt, mũi chiếc trực thăng kéo lê trên bãi đáp trong tiếng rít chói tay của máy móc và kính vỡ.

…Vụ nổ chỉ xảy ra khi toàn bộ khối máy móc ấy trượt đến cuối góc tây nam – chính xác là va vào viên cảnh sát và những kẻ đã giết ông ta. Tiếng súng máy cuối cùng cũng dứt hẳn, thay vào đó là tiếng bập bùng của ngọn lửa đang cháy, mái nhà trên cùng cũng chìm trong ngọn lửa màu đỏ. Cùng lúc là thứ gì đó trên nóc nhà bị nghiến răng rắc khi mũi chiếc máy bay xuyên thủng bức tường qua cả phía bên kia.

Claire đã đứng dậy và cô cảm thấy trơ trọi, nhìn một cách hoài nghi vào đám cháy đang bập bùng lúc này đã chiếm gần như phân nửa bãi đáp trực thăng. Mọi thứ diễn ra quá nhanh và những vết tích còn lại chỉ là để xác nhận nó đã xảy ra. Mùi hăng của thịt cháy tỏa vào cô cùng với làn hơi nóng, và trong sự im lặng đột ngột đó cô có thể nghe tiếng rên êm tai của những thây ma bên dưới. Cô ném một cái nhìn xuống cầu thang và nhận ra hai cái thây cảnh sát lúc nãy đang sờ soạng một cách vô ích, ngã cả vào bậc thang dưới cùng. Ít nhất chúng không biết leo…

…Không thể. Leo trèo. Bậc thang.

Claire chuyển ánh mắt sợ hãi của mình về phía cánh cửa dẫn vào tòa nhà